Tại saoPhật giáo là tôn giáo bành trướng nhanh nhất tại Úc Châu?
Darren Nelson
Đào Viên dịch
The best religion is the one that make you a better person
—– His Holiness The Dalai Lama
Lời giới thiệu – Nước Úc, hay Úc Đại Lợi, tên chính thức là The Commonwealth of Australia, là một quốc gia chiếm trọn Úc Châu và một ít đảo nhỏ chung quanh, nằm trong Liên Hiệp Anh, với Hoàng Hậu là Queen Elizabeth II. Kể từ mồng 1 tháng Giêng 1901, sáu thuộc quốc (Crown Colonies): New South Wales (thủ đô Sydney), Queensland (thủ đô Brisbane), Western Australia (thủ đô Perth), South Australia (thủ đô Adelaide), Victoria (thủ đô Melbourne), Northern Territory (thủ đô Darwin) cùng với Australian Capital Territory (thủ phủ nước Úc Canberra) đã hợp nhau lại mà trở thành Quốc gia Úc Đại Lợi.
Dân số Úc khoảng 22 triệu người, phần lớn (60%) ở chung quanh thủ đô các Thuộc quốc.
Phật giáo đã và đang phát triển rất nhanh taị Úc để trở nên tôn giáo lớn thứ hai, sau Thiên Chúa giáo, tôn giáo cố hữu tại quốc gia này. Theo thống kê mới nhất thì những người theo đạo Phật là khoảng 200,000 người. . Hiện nay đã có trên 300 chùa chiền, thiền viện và tổ chức Phật giáo, thuộc đủ các giáo pháp tông môn (Nguyên Thủy, Đại Thừa, Mật Tông…), đủ các sắc tộc (Trung Hoa, Tây Tạng, Thái, Miến Diện, Lào, Việt Nam…) tại Úc châu, trong số này có 43 ngôi chùa, thiền viện của Phật tử người Việt(1).
Tại saoPhật giáo lại phát triển nhanh chóng tại Úc Đại Lợi? Tác giả, ông Darren Nelson đã tìm cách giải thích như dưới đây.
***
Câu trả lời cho vấn đề trên có nhiều lớp lang và rắc rối. Đây là một vấn đề khó chịu, nói lên sự biến chuyển về tâm linh tại Úc châu và cho thấy dân Úc châu chúng ta mỗi ngày thực sự trở nên đa văn hóa.
Nhiều nền văn hóa trước đây rất xa lạ với người Úc gốc Anh hay La Tinh, nay đã được nhiều người Úc đón nhận, mặc dầu không phải không có chút chống đối. Sức chống đối trong xã hội Úc có thể được coi như là một cách trắc nghiệm để đo mức độ bao dung trong nền chính trị và tôn giáo xứ này.
Sức bành trướng của Phật giáo tại Úc châu là câu chuyện một tôn giáo trường cửu đã từng vượt qua bao khó khăn trở ngại. Làm sao mà một hệ thống triết học ra đời 2500 trước đây, trước Thiên Chúa giáo 500 năm, trước đạo Islam 1000 năm, lại có thể có liên quan đến đời sống văn minh của Úc châu được? Chúng ta hãy nghĩ đến những tôn giáo nay không còn dấu tích như đạo thờ Mặt trời tại Ai Cập cổ đại, đạo hy sinh nhân mạng để tế lễ của người Maya Nam Mỹ, hay đạo Druids bên Anh cổ đại. Phật giáo đã trường tồn vượt trên các tôn giáo ấy.
Phật giáo không đưa ra những giáo điều của một tà đạo, cũng không ráo riết tìm cách cải đạo. Những người Úc theo đạo Phật là những người đã tự nguyện cải đạo, thông thường là những người có học, những chuyên gia lớp tuổi trung niên. Họ đến với đạo Phật vì tìm thấy một niềm an vui nội tâm. Khi viết bài khảo cứu này, tôi muốn đắm mình vào chính sức hấp dẫn của Phật giáo. Có lẽ như thể là nhìn Úc châu lần đầu tiên, qua lăng kính một kẻ chưa biết gì.
Có điều đáng chú ý là mặc dầu số ngưòi theo Phật giáo gia tăng gần đây, thực ra Phật giáo đã góp một phần vào lịch sử nước này trước đây rồi. Không phải là Phật giáo đã đến theo làn sóng những người di dân mới đây. Nhiều nhà nhân chủng học đã có ý kiến là Phật giáo đã có thể là tôn giáo ngoại nhập của thổ dân Úc châu, trước khi người da trắng đến đây.
Khoảng giữa năm 1405 và 1433, vua nhà Minh(2) đã gửi đi sáu mươi hai hải thuyền lớn đi thăm dò phía nam Á châu. Mặc dầu đã có chứng cớ là đoàn hải thuyền này đả cập bến đảo Aru thuộc phần đất Arnhem, nhưng không biết họ có vào lục địa Úc chậu không.
Giáo sư A.P.Elkin đã đua ra một giả thiết, chưa được chứng minh, rằng thổ dân vùng đất Koorie, phía bắc nước ta, tin vào thuyết tái sanh, tin vào những hiện tượng huyền bí và tu luyện tâm linh, thì đó chính là chứng cớ họ đã sớm tiếp súc với những người Phật tử rồi. Mặc dầu một vài hình vẽ trên đá có thể tượng trưng mấy thuyền buồm thả neo, hay hình ảnh đức Phật, nhưng chưa thấy có chứng cớ thực sự rõ rệt.
Tài liệu đầu tiên về những Phật tử đến Úc châu là vảo năm 1848 khi mọi người đổ xô đi tìm vàng, là lúc thợ thuyền người Tầu được đem vào làm trong những mỏ vàng vùng Victoria. Họ là những dân tạm trú thông thường là trở về Tầu sau năm năm. Mãi đến năm 1876 mới thấy một cộng đồng Phật tử người Tích Lan định cư tại Thursday Island. Họ đã xây cất nên ngôi đền Phật giáo đầu tiên tại Úc châu, khi họ làm trong những vườn mía ở Queensland.
Những năm 1870 trở đi, nhiều người Nhật theo Phật giáo Thần học cũng đến làm trong kỹ nghệ làm ngọc trai tại Bắc Úc và họ đã lập nên những đoàn thể Phật giáo tại Darwin và Broome. Họ đã có những nghĩa trang Phật giáo riêng và tổ chức những ngày lễ hội hè hàng năm. Thống kê của chính phủ năm 1891 cho thấy số người đi theo Phật giáo chỉ hơi nhiều (1.2%) hơn bây giờ (1.1%) chút ít.
Số tín đồ Phật giáo có thể sẽ tăng lên, nếu không có đạo luật Giới Hạn Di Trú (Immigration Restriction Act) năm 1901, ra đời để ngăn chặn “hiểm họa da vàng”. Ông Alfred Deakin – người làm Thủ tướng 3 lần – đã soạn thảo ra đạo luật này để xoa dịu số cử tri da trắng bài ngoại. Đạo luật này trở nên nền tảng của Chính sách bạch hóa Úc Châu.
Năm mươi năm sau, giáo pháp của đức Thế Tôn về tu luyện Tâm linh, về hành Thiền, đã bị quên lẵng và bị coi là một thứ đạo thần bí của Đông phương. Trừ một số Phật tử rất nhỏ còn tồn tại được, như ở Broome và Thursday Island, Phật giáo thực tế đã không còn ở Úc Châu nữa.

Ni Sư Dhammadinna
Có một nhóm nhỏ Phật tử thuần thành Tây phương đã thành lập một tổ chức sớm nhất Úc châu, “The Little Circle of the Dharma”, vào năm 1925 tại Melbourne. Mới đầu sự phát triển rất chậm, cho đến sau Thế Chiến thứ hai, khi đó chính sách Bạch Hóa Úc châu không còn được hưởng ứng nữa. Năm 1951, lần đầu tiên có một ni sư đến viếng Úc châu, Ni sư Dhammadinna, người Hoa Kỳ, đã thọ giới Tỳ kheo ni 30 năm tại Tích Lan. Ni sư đến hoằng dương pháp môn Phật giáo Nguyên Thủy. Ni Sư đã được báo chí trong toàn quốc nói đến rất nhiều.
Nhờ cuộc viếng thăm này, năm sau Hội Phật giáo New South Wales được thành lập, chủ tọa bởi ông Leo Berkey, một doanh nhân người Hà Lan tại Sydney. Tổ chức này là tổ chức Phật Giáo lâu đời nhất tại Úc châu. Thành phần Phật tử, từ đầu cho đến nay vẫn là những người gốc Anh hay Âu châu.
Đến năm1958, Tổng Hội Phật giáo Úc châu (the Buddhist Federation of Australia) được thành lập để điều hợp tất cả những nhóm Phật tử mọc ra như nấm mọi nơi, từ Western Australia, South Australia, Queensland đến Victoria.
Khoảng một trăm năm đầu, Phật giáo Úc châu sinh tồn được là nhờ vào những tín hữu tại gia, thỉnh thoảng mới mời được các tu sĩ trong Tăng đoàn, Nhưng sang đến những năm 1970, số Phật tử gia tăng đã tạo ra nhu cầu cần có tăng chúng ngay tại địa phương, thế là Phật giáo Úc châu bước sang một giai đoạn mới.
Năm 1971, Giáo Hội Phật giáo New South Wales đã cung nghinh được Ngài Somaloka, từ Tích Lan, về trụ trì tại một tu viện vùng núi Blue Mountains, phía Tây Sidney. Đây là tu viện đầu tiên của nước Úc. Lần lượt nhiều tu viện khác của nhiều pháp môn khác nhau được thành lập: năm 1976 tại Stanmore Sydney, năm 1978 tại Wisemans Ferry ở NSW, rồi năm 1984 tại Serpentin ở Western Australia.
Ngài Đà Lai Lạt Ma, khuôn mặt khả ái nhất của Phật giáo (Ngài đã đoạt giải Nobel Hòa Bình và chỉ tự xưng là một “nhà sư bình thường’) đã đi khắp thế giới không ngừng nghỉ để nói pháp và trả lời đối thoại tại các thính đường lớn chứa được vài chục ngàn người. Tại Luân đôn thì có John Cleese mời Ngài, tại Pháp thì có Henri Cartier Bresson ghi âm lại những lời pháp thoại, còn ở La Mã thì nhạc sĩ Adam Yauch trong nhóm Beastie Boys đã phỏng vấn Ngài cho tuần san Rolling Stone.
Chỉ mấy năm trước đây, Ngài đã mở ra muời một Văn Phòng Tây Tạng ở rất nhiều nơi, từ Canberra đến Moscow và chỉ riêng năm ngoái Ngài đã viết lời tựa cho khoảng ba mươi cuốn sách. Ngài Lạt Ma thứ 14, cũng còn có danh hiệu là “Trí Huệ Rộng như Biển, Bạch Liên Giáo Chủ, Hộ Pháp Tuyết Sơn”, cũng đã từng là Chủ biên Danh dự cho tờ báo “Vogue”
Ba chuyến viếng thăm Úc châu của Ngài vào những năm 1982, 1992 và 1996, đã là những dịp vui cho tất cả Phật tử các giòng và đã có rất đông đảo Phật tử cũng như công chúng đến nghe Ngài nói chuyện. Trong lần viếng thăm thứ ba, mặc dầu Trung Cộng cực lực phản đối, đức Đà Lai Lạt Ma đã đến gặp và chụp ảnh chung với Thủ tướng chánh phủ Úc, ông John Howard. Đến đây, Phật giáo đã nghiễm nhiên trở thành một tôn giáo thiểu số đáng kể tại Úc Châu vậy
Trong cuộc viếng thăm này, nhiều nhân vật có tiếng đã cúng dường rất nhiều. Thí dụ như Kate Ceberano, Rachel Berger và nhóm Frente mới chỉ là đại diện cho những nghệ sĩ ưu tú, đã đến trình diễn ngay tại nơi trú ngụ của Ngài Đà Lai Lạt Ma. Chỉ trong ba đêm, họ đã gây quỹ được $14,000 cho Ngài. Công ty đĩa hát Mushroom Records phát hành cái CD The Mantra Mix với các nhạc sĩ Jenny Morris, Jimmy Barnes và Jonny Diesel để cúng dường. Lại có một công ty Quảng Cáo đã quảng cáo không công cho Ngài, với một chủ đề nói là: “Bạn đã không gặp được Chúa Giê Su, bạn cũng không gặp được Đức Phật. Vậy chớ hụt phen này gặp đức Đà Lai Lạt Ma”. Có bao giờ người ta thấy một sự đón tiếp rầm rộ một lãnh tụ tôn giáo như vậy chưa?
Thế nhưng không phải chỉ người Úc mới có cảm tình với sụ nghiệp của Ngài Lạt Ma. Vấn đề người Tây tạng bị đàn áp đã được Hollywood chú ý đến và đã có hai cuốn phim nói về cuộc đời của Ngài. Từ đấy hình ảnh của Ngài Đà Lai Lạt ma không những đã đi vào giòng chính xã hội Hoa kỳ mà còn được phổ biến toàn cầu (điều này đã làm cho chính phủ Trung Hoa phát hoảng).
Bộ phim thứ nhất là phim “Bẩy năm ở Tây Tạng”, nói về chuyện ông Heinrich Harrer, một tay trèo núi mà cũng là một đảng viên Quốc Xã, một người đã tìm thấy sự giác ngộ sau khi anh trở nên một gia sư cho một tăng sĩ Tây Tạng còn trẻ tuổi là Ngài Đà Lai Lạt Ma trong những năm 1940. Rất nhiều người đến xem phim này vì có tài tử Brad Pitt đóng vai chính.
Phim kia là phim “Kundun” của nhà đạo diễn Martin Scorcese. Chuyện phim mô tả cuộc đời Ngài Đà Lai lạt Ma, theo Ngài thuật, từ lúc Ngài được chứng nhận là hóa thân của đức Phật lúc Ngài mới hai tuổi cho đến lúc Ngài phải chạy chốn sang Ấn Độ lúc 24 tuổi. Phim này mới trình chiếu tại Úc Châu đã được đài TV Channel Nines trong chương trình Chủ Nhật ngày 14 tháng Sáu giới thiệu như là “một bộ phim đẹp nhất và quan trọng nhất trong năm”
Hồ ly Vọng chú tâm đến Đạo Phật không chỉ ở hai bộ phim ấy mà thôi, mà còn ở nhiều tài tử đã nói lên lòng ngưỡng mộ với tôn giáo này. Tháng Hai 1997, tài tử Steven Seagal, chuyên đóng phim võ sĩ đấm đá được giòng Mật tông Nyingma công nhận là đầu thai của một Lạt Ma thế kỷ thứ 15. Nghệ sĩ Adam Yauch của nhóm ca sĩ the Beastie Boys đã đúng ra tổ chức hai buổi hòa nhạc gây qũy cho Tây Tạng rất thành công.
Tài từ Richard Gere cùng với bố của nữ tài tử Ulma Thurman là Richard Thurman đã mở ra một Trung Tâm Tây Tạng gọi là Tibet House ở Nữu Ước, để in sách và dạy Thiền mỗi ngày. Nhiều hành giả đến đã làm mọi người chú ý bao gồm các nghệ sĩ Tina Turner, Harrison Ford, (vợ là Melissa Mathison chính là người viết kịch bản cho phim Kundun), Oliver Stone, Herbie Hancock, Courteney Love, nhạc sĩ Philip Glass (cũng giúp trong phim Kundun) và ca sĩ Michael Stipe.
Phật giáo cũng còn được nhiều người khác đưa lên một cách tế nhị hơn. Thí dụ như có một loại phấn trang điểm có tên là Zen (Thiền) Blush, một phim ngắn trên TV đặt tên là Dharma (Phật pháp) và Greg, Lại có một chai đựng nước ngọt trên đó viết: “Xin ‘recycle’ chai này vì chai cũng sẽ có thể đầu thai lại được mà”. Lại có cả vài nhà sư lên TV giúp quảng cáo thương mại
Tất cả những hình ảnh đó không làm mất đi sự kiện là dân Úc đã thực ra hướng về Phật giáo rồi. Mấy số thống kê của chính phủ trong những năm 1986, 1991, 1996 cho thấy số người theo đạo Phật tăng trưởng đều đều. Từ năm 1986 đến 1991 số ấy đã từ 80,387 lên tớo 139,847, tức là đã gia tăng 74%. Trong mấy năm gấn đây, vì số di dân đến Úc giảm bớt nên tỷ số gia tăng Phật tử tại Úc cũng chậm lại, chỉ còn là 43% từ 1991 đế 1996 (139,847 lên 199,812), Tỷ số gia tăng này của Phật giáo vẫn còn cao hơn tỷ số gia tăng các tôn giáo khác
Cuộc thống kê trong 3 năm đó cho thấy trong số tám giòng Thiên Chúa giáo hoạt động ở New South Wales, chỉ có ba giòng có tín đồ gia tăng (Báp Tít, Ca Tô La Mã và Chính Thống), còn năm giòng kia (Anh giáo, Church of Christ, Lutheran, Presbyterian và Uniting Church) có số tín đồ giảm bớt.
Có phải là sự thay đổi bất thường này chỉ cho ta thấy là người Úc không còn thoả mãn với đức tin truyền thống của họ nữa? Hay là vì đạo Phật cạnh tranh hữu hiệu hơn đạo Thiên Chúa hay chỉ là kinh nghiệm tâm linh này có nhiều ý nghĩa hơn kinh nghiệm tâm linh kia?
Trong số 199,812 Phật tử ở Úc châu, có khoảng 30,000 là người Tây Âu, là những người đã tự ý “bước sang bên kia” với nền triết học mới. Họ đã từ là những “kẻ có tội với Thiên Chúa” đi sang với “Đông Phương Thần bí”. Số di dân từ những nước theo Phật giáo đến Úc có giảm nhưng Phật giáo Úc châu vẫn không ngừng phát triển, nhất là khi ngay tại địa phương đã có nhiều hỗ trợ. Năm 1938, một ông sư Thần học Nhật bản, khi thấy là Trung Quốc đã phải mất ba thế kỷ mới hòa nhập được Phật giáo từ Ấn độ vào, đã nói là đem Phật giáo vào Tây Âu chẳng khác gì để một cành hoa sen trên một tảng đá chờ cho hoa sen đâm chồi mọc rễ.
Trong những năm 1960 khi phong trào híp pi phản-văn-hóa nổi lên thì đã có không thiếu những thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ, tài tử muốn thử vào an trú trong nội tâm qua triết học Phật giáo và hành Thiển. Như John Lemon đã dùng một bài chú để viết bản nhạc Across the Universe của anh ta. Allen Ginsberg cũng dùng một bài chú Phật giáo mà ban phúc lành cho vùng đất Woodstock trước khi mọi người kéo đến tham dự. Rồi đến Thiền Nhật bản Zen, lúc đầu được các thi sĩ Beat chấp nhận trong những năm 1950, cũng được mọi người hòa theo thay thế cho phong trào dùng ma tuý LSD để khai ngộ.
Quan trọng hơn phong trào hít ma tuý của những năm 1960, là khi cuộc chiến Việt Mỹ lên đến tột đỉnh, người phụ nữ đã đốt yếm để phản kháng, con người đã đặt chân lên mặt trăng, thì người ta đã thấy giai cấp trung lưu coi nhẹ bớt những giá trị của họ làm cho ý thức xã hội uyển chuyển hơn. Khi đó mọi người trong xã hội đã có thể thoải mái nghiệm thử một số tư tưởng mới (như nữ quyền, dân quyền, phong trào hòa bình, nếp sống mới, vân vân) mà không làm xã hội bị rối loạn như trước.
Theo mục sư Phillip Hughes, một nhà khảo cứu tôn giáo ở Melbourne, thì “trong những năm 1960, nhiều người cho rằng Khoa học đã không đủ để giải thích đời sống, nhưng họ cũng không hăng hái trở về với truyền thống Du đà Thiên chúa giáo, với những thánh kinh và những phép mầu huyền bí. Do đó nhu cầu muốn có một sự an bình trong tâm hồn trở nên rỏ rệt hơn”.
Những người muốn theo đạo Phật đã đến với giáo pháp của Phật Thích ca, không phải chỉ để xa lánh cái xã hội xô bồ của chủ nghĩa tiêu thụ, chủ nghĩa thương mại, của bạo động, của thờ ơ. Khác với tín lý Thiên chúa giáo mà người Úc gốc Anh hay Âu châu từ nhỏ vẫn tin tưởng, Phật giáo không đòi hỏi tín đồ phải trung thành với một giáo điều rõ rệt nào.
Đạo Phật không phải là một tín ngưỡng, cũng không hẳn là một tôn giáo, thế nhưng đạo Phật cũng có những lễ nghi thích hợp của một tôn giáo. Phật giáo gần với Tâm Lý học và là một Triết học trong đó có cả một nền đạo đức tu luyện tâm tánh.
Vị giáo chủ của Phật giáo là Thái tử Cồ Đàm (sinh năm 563 trước Thiên chúa giáng sinh), đã rời bỏ gia đình hoàng gia để có một cuộc đời đơn giản của một tu sĩ khổ hạnh. Năm Ngài 35 tuổi, Ngài đã giác ngộ và nhìn thấy “mọi điều như thật” và đạt đến một cái tâm hoàn toàn vô ngã, không còn một chút tự kỷ hay ái dục nào.
Ngài đã trỏ nên vị Phật đầu tiên (trong cõi Ta Bà này) và Ngài liền dạy tín đồ rằng Ngài không phải là, mà cũng không cần được tôn thờ như một Thiên thần, cũng không cần đến lễ nghi khi Ngài giảng Pháp. Thiên đường hay Địa ngục không phải là những nơi ta sẽ đi đến sau khi chết, hai nơi đó không có, mà nó ngự trị ngay trong lòng chúng sinh. Con người ta có người tốt người xấu, có kẻ hiền lương kẻ độc ác. Cực lạc ở ngay trong Tâm chúng ta, ngay đây, bây giờ, mà không phải là một nơi nào khác sau khi ta chết.
Ngài cho rằng muốn trở thành Phật thì hành giả phải tu Thiền. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa Phật giáo và các tôn giáo khác. Người Phật tử có một mục tiêu tối hậu là trở nên một đấng giác ngộ, giống như đức Thích Ca Mâu Ni. Ngài dạy rằng ai ai cũng có thể trở thành Phật, tất cả mọi người đều bình đẳng như nhau.
Đây là một giáo pháp hoàn toàn xa lạ đối với những người sinh ra là người Thiên Chúa giáo, khi mới học Phật căn bản. Đối với người Thiên chúa giáo thuần thành thì điều tốt nhất có thể đạt được là được lên Thiên đàng, làm một Thiên thần, nhưng vẫn tùy thuộc vào một đấng cao cả hơn, mà vị này có thể trừng phạt mình bất cứ lúc nào nếu muốn. Đức Phật lại dạy các Phật tử là ai cũng có thể thành Phật như Ngài vì Ngài không phải là đấng Thượng đế tối cao.
Đạo phật bác bỏ khái niệm có một đấng Tối Cao – cũng giống như Khoa Học – và giải thích nguồn gốc và sự vận hành của vũ trụ theo những định luật tự nhiên.Tất cả những điều đó có nhiều hương vị Khoa học. Đức Phật còn khuyên tất cả chúng ta không nên tin theo Ngài một cách mù quáng, mà nên xem xét, nghiên cứu và chỉ nên tin vào những gì ta chứng nghiệm ra mà thôi. Phuơng thức khoa học nhân và quả ấy đã làm Albert Einstein chú ý trong những năm 1930
Ông nói: “Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ. Tôn giáo này sẽ vượt trên một Thượng Đế được nhân cách hóa, không còn có những giáo lý hay thần học. Một tôn giáo vừa cho Thiên nhiên vừa cho Tâm linh con người, dựa trên sự chiêm nghiệm mọi sự thể trong thiên nhiên trong tâm linh, hài hòa hợp nhất. Phật giáo đạt đến điều nói trên. Nếu có một tôn giáo nào thích nghi được với nhu cầu hiện đại của Khoa học thì tôn giáo đó phải là Phật giáo”.
Phật giáo với nhiều tương phản cứ phát triển mạnh mẽ như vậy từ những năm 1980, nhưng không hẳn được xuôi chèo mát mái. Báo chí đã nhìn thấy tính chất vô thần của Phật giáo và đã gây ra những tranh cãi đối với tôn giáo này. Đề tài thần học này đã là nguyên nhân của sự xích mích với các tôn giáo khác.
Thứ Tư 18 tháng giêng 1995, Giáo hoàng John Paul II đến Sydney tham dự một buổi họp liên tôn vùng Sydney. Đại diện của nhiều tôn giáo lớn như Phản thệ giáo (Protestant), Chính thống giáo, Thiên Chúa Coptic giáo, Do Thái giáo, và Hồi giáo được mời đến họp với Giáo hoàng. Đại diện của tôn giáo lớn thứ ba ở Úc châu lúc đó là Phật giáo, lại vắng mặt.
Đài phát thanh Úc châu SBS chất vấn ban tổ chức, thì được trả lời là họ đâu có biết là Phật giáo lại là tôn giáo lớn thứ ba ở Úc, vả lại không có ai là người lãnh đạo chánh thức của Phật giáo thì làm sao họ biết mời ai? Tờ báo Sydney Morning Herald viết rằng “đã có người trong chính phủ tiểu bang quên mời Phật giáo”. Điều này không chắc hẳn là đúng vì chính phủ tiểu bang New South Wales vẫn biết là có đông Phật tử trong tiểu bang và đã có nhiều người đại diện cho Phật giáo được mời tham dự chính quyền. Lời giải thích gần sự thật nhất có lẽ là Ngài Giáo hoàng vẫn không coi trọng Phật giáo, như Ngài đã viết đoạn sau trong cuốn sách “Crossing The Threshold of Hope”:
“Phật giáo nói một cách rộng lượng là một hệ thống vô thần. (Theo họ) Chúng ta không tránh xa ma quỷ xấu xa qua điều tốt lành từ Thượng Đế, mà chúng ta tránh được chỉ nhờ ở sự lãnh đạm với thế giới, điều đó rất dở. Lãnh đạm hoàn toàn như thế không phải là được về với Chúa, mà là về nơi được gọi là Niết bàn, một trạng thái hoàn toàn lãnh đạm với thế giới. Muốn được giải thoát, tức là muốn xa lìa ma quỷ xấu xa ta phải lãnh đạm với thế giới, thế giới là nguồn gốc của ma quỷ xấu xa. Đó là cao điểm của diễn tiến tâm linh. Nền thần học Ki Tô giáo khởi nguồn từ sự khải huyền của Chúa còn sống. Chúa trời đã tự đến với con người, làm con người có khả năng về với Chúa vì những giá trị thần học như Tín lý, Hy vọng và trên hết Tình yêu thương”
Thế nào là một Chúa còn sống? Bất cứ cái gì là sống thì sẽ phải chết và băng hoại, vậy thì tại sao chúng ta lại để số phận chúng ta trong tay một đấng nào đó, giống như chúng ta, cũng vô thường? Nếu vị ấy được mô tả như một ông già đầu râu tóc bạc ngồi trên trời, đang chấm vào cuốn sổ đen dành cho ngày tận mạng, thì ông ta đã không còn là sinh đồng thời với tư tưởng thần học tân tiến bây giờ cũng như là với các nhà thần học khác.
Phần lớn các nhà thần học tân tiến, như ông Paul Tillich, nghĩ rằng chữ “Chúa trời hay Gót” mô tả như một chúng sinh, có hiện hữu. Không người Phật tử nào tranh cãi điều này, nhưng không muốn dùng chữ “Chúa trời hay Gót” để chỉ điều đó.
Nghĩ rằng Ngài Giáo hoàng nói quá xa vời có vẻ như là một phản xạ bảo vệ Ngài khi ta thấy ngay trong hàng ngũ giáo hội Ca Tô cũng bất nhất trong vấn đề này. Cha William Johnston, người Ái Nhĩ Lan, tu giòng khổ hạnh Jesuit, khi sang thăm Sydney đầu tháng Giêng 1997, đã tỏ ra có cảm tình với Phật giáo. Cha Jonhston đến tham dự Hội nghị về Tôn Giáo, Văn Chương và Nghệ Thuật tại Đại Học Catholic Úc Châu đã nói rằng các nhà thờ Tiên Chúa giáo nếu muốn có thêm tín đồ thì nên đưa thêm một số khoa học huyền bí Đông phương như Thiền định, Yoga va Zen vào.
Ông nói: “Nhiều người Ca Tô La Mã thấy khó chịu về Thiền, nhưng thực ra chúng ta có thể học hỏi rất nhiều trong Thiền, yoga và Zen. Nhà thờ Ca Tô thực ra có Thiền định trong những giòng tu (kín) của họ, nhưng không bao giờ giảng dạy cho những con chiên hiện đang muốn biết”
Cha Johnston,hiện là giám đốc cơ quan Institute of Oriental Religions của đại học Sophia ở Tokyo, từng sống bên Nhật từ 1951 đã nghĩ rằng Đạo Thiên Chúa nay đã trở nên quá “trọng quy tắc kinh điển với nhiều thứ cấm đoán, mà lại thiếu viễn kiến và tỉnh giác”
Ngoài những phản ứng tích cực và tiêu cực của nhà thờ Ca Tô đối với đạo Phật, ở thành phố Wollongon phía nam của Sydney, một thành phố kỹ nghệ làm đồ sắt thép, cũng có một sự chống đối Phật giáo. Ông Giám mục nhà thờ Anglican ở Wollongon, Ngài Reg Piper đã bầy tỏ lòng klhó chịu không những đối với sự có mặt của Phật giáo, mà còn là sự có của một triết lý mà ông gọi là ma quỷ xấu xa.
Khởi đầu là khi giòng Phật giáo Đài loan, giòng Phật Quang Sơn, khánh thành một ngôi chùa lớn tổn phí xây cất đến 50 triêu Mỷ kim, ngay tại phía nam của Wollongon, thành phố Berkley. Các vị sư Phật Quang Sơn dự định hoằng dương ở đây một thứ Phật pháp nhân bản, chú trọng đến “Đồng Nhất và Đồng Sự nhiếp pháp” .
Giòng Phật Quang Sơn đã được thành lập từ khoảng giữa thập niên 1960 và đã mở ra hơn một trăm ngôi chùa trên thế giới (kể cả ở Brisbane, Melbourne, và Perth) với 1 triệu ruởi đàn na thí chủ. Giòng này còn có một Đại học, nhiều Trung Tiểu học, một ngân hàng cho máu và cho các bộ phận trong người, một nhà dưỡng lão và cả một nghĩa trang. Phật Quang Sơn phát triển được như vậy là nhờ ở sự lãnh đạo sáng suốt của Hòa thượng Tinh Vân(3). Ngôi chùa ở Wollondong, tên là Nam Tiến Tự, chỉ đứng thứ hai sau chùa Phật Quang Sơn trung ương bên Đài Bắc mà thôi.
Mối lo toan của Ngài Giám mục Piper không hẳn được các nhà thờ Thiên chúa giáo khác chia sẻ. Thí dụ nhà thờ Uniting đã tỏ ra cởi mở hơn đối với chùa Phật giáo. Vì vậy cho nên ngày thứ Ba, 18 tháng Sáu, 1996, Ngài Giám mục đã lên đài ABC, trong mục Bá Cáo 7:30, để nói lên sự chống đối của Ngài.
Giám Mục Piper: “Ông thấy không, khi nhìn loài người qua Kinh Thánh, nói chung, những gì ra ngoài Sự Thật, thì Kinh Thánh gọi là xấu xa ma quỷ”
Nhà báo: “Thế là một sự lường gạt à?”
Giám mục Piper: “Đúng, Những gì không dựa trên Sự Thật của Chúa Giê Su, là một sự lường gạt.Đạo Phật là một tôn giáo vô thần, không có đức Chúa Trời”.
Nhà báo: “Vậy thì có sao đâu?”
Giám mục Piper: “Đức Chúa Trời đã hiện thân qua Chúa Giê Su.Mà Chúa Giê Su đã sống lại sau khi chết và tuyên bố Ngài là đức Chúa Trời. Như vậy không thể có Sự Thật nào khác hơn và không thể có cách nào sống mà không qua Chúa Giê Su được”
Ngài Giám mục Piper rất lo ngại trước lòng hiếu kỳ của mọi người muốn biết Phật giáo nên Ngài đã phải làm một cái video gọi là: “Đi tìm Thiên Đàng – đối thoại của Kinh Thánh với Phật giáo”. Mục đích là để cảnh báo tín đồ Thiến chúa giáo trước hiểm họa ma quỷ Phật giáo, đến để cải đạo họ.
Hòa thượng trụ trì chùa Nam Tiến rất ngạc nhiên trước thái độ của ông Giám mục. Hòa thượng nói: “Chúng tôi đâu có muốn cải đạo ai sang Phật giáo đâu. Người nào cảm thấy thoải mái tu tập hay tin ở tôn giáo nào và tôn giáo ấy tốt cho xã hội thì đó là một điều rất tốt cho cá nhân và cho gia đình họ; đó mới là điều quan trong. Họ có trở nên Phật tử hay không, chúng tôi không quan tâm”.
Sự chống đối Phật giáo không phải chỉ có trong giới tăng lữ Thiên Chúa giáo mà thôi. Một cuộc trưng cầu dân ý năm 1988 cho thấy có 41% dân số không thích có bạn đồng sự là Phật tử. Chỉ có người theo đạo Muslim là bị chống đối nhiều hơn.
Tuy vậy, ngày Chủ Nhật mồng 8 tháng Hai năm nay, Phật tử Úc châu đã rất vui mừng vì đã có một người bạn làm lớn trong chính phủ. Ông Toàn Quyền liên bang Úc, Ngài William Deane, trong lễ khai mạc Trung Tâm Cộng Đồng La Hầu La ở Canberra đã tỏ ra ủng hộ Phật giáo.
Ông nói: “Cách đây vài năm, một bá cáo của Văn phòng Di Dân, Nghiên Cứu về Đa Văn Hóa và Dân Chúng cho thấy là từ 10 năm qua đến năm 1991, Phật giáo đã là tôn giáo phát triển nhanh nhất, khoảng 300%, trong nước chúng ta. Con số đó chứng tỏ, tất nhiên trong một phạm vi đáng kể, sự gia tăng khá lớn số di dân từ Đông Nam Á đến trong khoảng thời gian ấy.
Tuy nhiên nhóm người đông đảo thứ nhì trong nước là những Phật tử gốc Úc Châu – thuộc nhiều nền văn hóa phi Á đông – họ đến với Phật giáo vì nền triết học và cách hành trì của tôn giáo này chủ trương tìm đến an bình nội tâm và hiểu biết. Tôi xin chúc mọi sự tốt lành cho mục tiêu quý vị dự kiến cho tương lai trong khi giai đoạn chót xây cất ngôi chùa này được hoàn mãn. Rất mong quý vị thăng tiến và đem lại niềm vui cho những người được giúp đỡ”.
Đạo Phật tiếp tục có nhiều người hâm mộ đến từ giai cấp bình dân. Theo lời Thượng tọa Pannyavaro ở vùng Surry Hills, Sydney, thì giới trẻ thích đến với đạo Phật, vì họ muốn tìm một cái gì khác hơn là các nhà thờ Thiên Chúa giáo cố hữu. Họ có thể tìm hiểu đạo Phật mà không cảm thấy phải vào đạo.
Thượng tọa nói: “Rất nhiều giới trẻ trong khoảng 20 đến trung tuần 30 tuổi đến với đạo Phật vì họ cảm thấy tôn giáo này không cưỡng ép họ điều gì, và họ lại biết thêm một số kỹ thuật Thiền định sâu xa (của tôn giáo này)”. Cái trang trên mạng http://www.buddhanet.net của Ngài mỗi ngày có tới 50,000 truy cập. Thượng tọa Pannyavaro lại còn có những khóa Thiền trên mạng, để mọi người có thể vào mạng mà hành Thiền.
Hiện nay đã có trên 90 ngôi chùa và tổ chức Phật giáo tại New South Wales 65 chùa Phật giáo tại Sydney. Phần lớn trong số 200 người mỗi tuần đến thăm viếng Trung Tâm Thư viện, Thiền định và Thông Tin Phật giáo tại Camperdown, Sydney là ở trong lớp tuổi từ 30 đến 50. Tám chục phần trăm những người này không phải là dân gốc Á châu..
Có một chuyện sẽ làm giới tăng lữ Thiên Chúa giáo kinh hoàng (nếu họ khám phá ra) là đạo Phật đang được giảng dậy trong một trường Tiểu học ở New South Wales trong giờ học về tôn giáo. Năm 1995, một nhóm phụ huynh học sinh trường Tiểu học Blackheath đã đến gặp bà hiệu trưởng Kate Allan, xin trường mở lớp giậy đạo Phật để được chọn lựa cũng giống như đạo Thiên chúa Ca Tô và Tin lành. Hiện nay đã có 45 em trong số 350 em học sinh toàn trường học lớp về Phật giáo.
Bà Allan nói: “Điều này là từ cộng đồng đến. Ở vùng núi non chúng ta có rất nhiều cộng đồng khác nhau. Chính phụ huynh học sinh muốn có những lớp như thế cho con em họ. Đây không phải là một điều chúng tôi cưỡng ép lên toàn trường”.
Trả lời cho câu hỏi tại sao Phật giáo ngày càng phát triển sẽ đưa đến một kết luận súc tích và bao quát. Tôn giáo này dường như có một ảnh hưởng lớn mạnh trên thế giới. Bạn tưởng rằng bạn đã xem xét thấu đáo mọi khía cạnh của vấn đề, thì bỗng nhiên bạn khám phá ra rằng bạn mới chỉ nhìn thấy cái chỏm tuyết của cái núi băng trôi.
__________________________________________________________________
(1) 43 chùa chiền, thiền viện của người Việt Nam ở rải rác nhiều nơi: New South Wales có 17; Victoria có 13; Queensland có 5; West Australia có 4 và South Australia có 4.
(2) Đứng đầu đoàn hải thuyền là Thái Giám Trịnh Hòa dưới triều vua Minh Thái Tông
(3) Hòa thượngTinh vân, hay Tinh Vân Đại Sư, sinh năm 1927, là tổ thứ 48 giòng Thiền Lâm Tế. Đại sư là người sáng lập ra ngành Phật Quang Sơn, một tổ chức Phật giáo lớn nhất thế giới, chủ trương mở rộng hoạt động Phật giáo bằng cách thành lập thêm nhiều chùa chiền, thiền viện, đại học, trung tiểu học, viện dưỡng lão…cùng giao lưu với mọi tổ chức Phật giáo, cũng như các tôn giáo khác











Cám ơn tác giả Đào Viên đã dịch và đăng bài nầy mà nội dung đã cho thấy chứng nghiệm của 1 câu châm ngôn tuy cũ mà luôn luôn có giá trị là “hữu xạ tự nhiên hương”.
Nhìn vào lịch sử các tôn giáo thì yếu tố căn bản giúp cho đạo Phật phát triển là giá trị nội tại của lý thuyết đạo Phật.
Thân chúc tác giả Đào Viên vui khỏe.