Thuộc Thế Kỷ Trước
(1890-1975)
Công Cha như núi Thái sơn Công Mẹ như nước trong nguồn chẩy ra Một lòng thờ Mẹ kính Cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con — Ca dao Tực ngữ Việt NamĐào Viên
Xin kính dâng bài viết này và để tưởng niệm đến thân phụ1. Người con út trong một gia đình nông dân
Thầy tôi – ở ngoài Bắc, thế hệ chúng tôi, nhiều người gọi cha mẹ mình là Thầy Mẹ hay Thầy U- mà tất cả mọi người trong họ đều gọi là ông Tư, là con út trong một gia đình nông dân bình thường, không nghèo cũng không giầu, ở làng Yên Mẫn, huyện Võ giàng , tỉnh Bắc Ninh. Ông bà nội tôi, tên là Hương, mất đã lâu, có bốn người con trai, và dường như không có người con gái nào thì phải. vì tôi không có bà Cô hay bà Bác nào bên nội cả.Trong họ ai cũng gọi nén “hương” là nén “nhang” để kiêng tên húy của ông nội tôi.
Thầy tôi là con út, nhưng tuổi lại nhỏ hơn các ông anh rất nhiều, nhất là đối với người con trưởng, mà tôi phải gọi là Bác Lý (1863-1935), vì có một thời làm Lý Trưởng trong làng. Thầy tôi bằng tuổi với người con trưởng của Bác Lý, tên là Thính (1890-1969), mà chúng tôi vẫn gọi là anh Thơ Thính, vì anh từng làm Thơ Lại trong làng.
Tôi được kể lại là ông bà Nội tôi đã mất khi Thầy tôi còn nhỏ, nên hai bác Lý đã “quyền huynh thế phụ” thay thế cha mẹ nuôi nấng em út là Thầy tôi. Bởi vậy tất cả mọi người trong gia đình, trong họ ngoài hàng đều thấy Thầy tôi quý mến hai bác tôi vô cùng.
Mỗi làn bác tôi ra Hà Nội thăm em, thì ở nhà tôi như có hội: ăn uống linh đình, quà cáp cho Bác tôi mang về như áo the, áo đoạn, chăn chiếu mùng màn, chưa kể đến tiền bạc. Tôi chỉ được kể lại như vậy thôi, vì hai Bác tôi đã mất khi tôi còn rất nhỏ.
Bác Lý có nhiều người con. Con lớn là anh Thơ Thính (1890-1969), làm ruộng ở nhà quê, bằng tuổi Thầy tôi. Người con thứ hai của Bác Lý là anh Hai Toán (1896-1975) cũng rất đông con. Người con thứ ba của bác Lý tên là Hoàn (1906-1978), trong nhà vẫn gọi là anh Ba Hoàn, được cho đi học – không phải làm ruộng – biết tiếng Pháp, nên sau này cũng sang nhà tôi ở, đi làm ở Nha Giáo Dục, tên tiếng Pháp hồi đó là Direction de l’Instruction Publique, viết tắt là DirIP.
- Trâu ơi ta bảo trâu này: Trâu ra ngoài ruộng trâu cầy với ta
Bác Lý tôi có hai người con gái. Người con lớn lấy chồng làng bên cạnh, còn người con út, tên là Tương (1913-1991). Chị Tương sau này lấy chồng ở làng Riềm, tên là Ngô Văn Chung. Anh Chung như vậy là ông anh rể của chúng tôi, cũng sang Hà Nội, ở nhà tôi rất nhiều năm, nhưng đã đóng một vai quan trọng trong gia đình chúng tôi, như tôi đã có dịp kể lại trước đây về hai người anh xấu số.(xem bài Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu (tiếp theo) )
Sau Bác Lý, người anh thứ hai của Thầy tôi, tên là Thái (1867-1950). Trong họ ngoài làng đều gọi Bác Thái là ông Đồ, hay ông Đồ Thái. Bác tôi cũng được bố mẹ cho đi học, hồi đó là học chữ Hán, theo cổ học(1) với hy vọng ra làm quan của triều đình Huế, nhưng không đậu kỳ thi nào cả.
Ông Đồ giậy học trong làng
Rút cục Bác tôi ở lại quê giậy con trẻ học chữ Nho, bởi vậy có chức là Thầy Đồ hay ông Đồ Nho.
Vì biết chữ Hán nên Bác tôi cũng đi học Thuốc ta, của ai tôi không biết rõ, và trở thành ông Lang, tức là làm nghề y khoa,
chữa bệnh cho mọi người theo y học Đông phương cổ truyền.
Để hành nghề ông Lang, bác Đồ Thái cũng có trong nhà nhiệu vị thuốc Bắc để bốc thuốc cho những người bệnh nhân đến xin bắt mạch kê thuốc. Nhưng phần lớn, tôi thấy Bác tôi được người ta mời đến nhà đề xem bệnh và kê toa.
Trong làng dần dà không còn mấy nhà cho con theo Nho học nữa, nhưng Bác tôi vẫn có hai người học trò đến học chữ Hán với Bác tôi. Họ là con của một ông chủ tiệm thuốc Bắc trong tỉnh Bắc Ninh, muốn nối nghiệp cha, nên đến học. Trong hai năm đầu, họ phải học chữ Hán trước khi được học Đông Y học.
Ngày xưa học chữ Nho có hai quyển sách học rất phổ thông là “Tam Tự Kinh” và “Tam Thiên Tự”. Nhưng Bác tôi lại dùng sách mới hơn, xuất bản bên Hương Cảng, có tên là “Trung Hoa Tân Quốc Văn”. Tôi cũng có dịp học ké vào đó với họ một thời gian.
Thay vì phải tụng những bài như:
“Thiên giời, Địa đất, Vân mây Vũ mưa, Phong gió, Trú ngày, Dạ đêm, Tinh Sao, Lộ móc, Tường điềm…” (trong Tam Thiên Tự), “Thiên giời, Địa đất, Cử cất, Tồn còn, Tử con, Tôn cháu, Lục sáu, Tam ba, Gia nhà, Quốc nước” (trong Tam Tự Kinh) thì tôi lại phải học: “Thanh đình, Thanh đình, Thân tự nhất đinh, Phi lai phi khứ Phi nhập trung đình” (tả con chuồn chuồn) hoặc: “Bạch nhật mạc nhàn quá Thanh xuân bất tái lai. Song tiền cần khổ học, Mã thượng cẩm y hồi” (khuyên học hành chăm chỉ), hoặc “Trung Hoa ngã quốc chi quốc danh dã. Tự ngã viễn cổ dĩ lai…” (nói về nước Tầu)Tôi không nghĩ là nghề thuốc này là nguồn lợi tức chính của gia đình Bác tôi. Cả nhà, ngoại trừ Bác trai, đều là những người làm ruộng, như những người khác, và thóc lúa mới đem lại tiền bạc cần thiết cho gia đình.
Tôi có ở nhà Bác tôi nhiều năm nên biết rõ sự sinh sống của những gia đình thôn quê trung bình thời đó. Đời sống rất cực nhọc, chỉ đủ ăn tiêu. Từ đó tôi đã hiểu ra là đối với những gia đình làm nghề cầy ruộng ở nhà quê, không có ruộng đất riêng, phải cấy rẽ, hoặc chỉ có ít thôi như đại gia đình chúng tôi, thời đó chỉ có một lối thoát là cho con cái ra tỉnh thành, những thành phố lớn, đi học chữ Quốc ngữ, theo Tây học, còn gọi là “đi học chữ Tây”, ngược lại với “đi học chữ Nho”. Nếu con cái đỗ đạt thì có thể đi làm cho chính phủ Bảo Hộ – tức là cơ quan hành chính của người Pháp mở ra song song với triều đình nhà Nguyễn – làm ông này ông kia, vừa danh giá vừa có tiền của.
Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu.
Người anh thứ ba của Thầy tôi là Bác Ba Thư (1882-1942). Gia đình Bác cũng nối nghiệp cha, có ít sào ruộng, chỉ ở nhà quê làm ruộng. Bác tôi có hai người con trai, người anh tên là Phong (1909-1976), người em tên là Triển, đều được Bác tôi cho đi học chữ Tây. Hai anh đều lớn tuổi hơn anh em chúng tôi rất nhiều. Chúng tôi chỉ bằng tuổi các con lớn của các anh ấy thôi.
Ngoài hai người con trai, Bác Ba Thư còn có hai người con gái. Chị lớn tên là Âu, có chồng, tên Phúc ngày trước đã đi lính khố đỏ, tức là một quân đội địa phương của Pháp, lên tới chức “Sergent” hay là “Đội”. Bởi vậy trong họ ngoài làng đều gọi anh này là ông “Đội Phúc”. Anh Đội Phúc cũng sang ở nhà tôi một thời gian, để đi làm tại nhà Máy Rượu.

Thành Bắc Ninh (năm 1890)
Nhà Bác Ba Thư rất rộng, có nhiều ngăn, chia làm nhiều phòng. Bởi vậy khi người anh của tôi bị lao phổi, – một bệnh hồi ăy không thể chữa được, mà lại là bệnh truyền nhiễm – anh tôi đã phải về đó ở cho đến khi mất. (xin xem bài Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu (tiếp theo) )
Căn nhà của gia đình chúng tôi ở Hà Nội tọa lạc tại đường Harmand, bây giờ là đường Trần Xuân Soạn, Nhà có hai tầng, được cất lên từ năm 1928. Tôi nghe các anh lớn kể lại là Thầy tôi đẵ thuê rồi mua căn nhà ấy của một người bạn là ông Nguyễn Văn Tố với giá là $1,800 đồng bạc Đông Dương thời đó(2). Ngoài gia đình chúng tôi, tám chín người, các ông anh họ của chúng tôi, không ít thì nhiều, đã từ Bắc Ninh sang nhà tôi tá túc để đi làm hay đi học nhiều năm.
2. Thoát ra khỏi cảnh bùn lầy nước đọng.
Tất cả những điều tôi kể trên chỉ để nói lên một điều là Thầy tôi, sinh trưởng trong một gia đình nông dân chẳng có gì là sung túc, mồ côi cha mẹ khi còn nhỏ, may mắn được anh cả nuôi cho đi học. Sau khi đỗ đạt, thoát ra được cảnh bùn lầy nước đọng, nên đã cố sức giúp đỡ các con cháu đời sau, ra tỉnh đi học hay để đi làm, để đời sống gia đình được khá giả hơn.
Cũng vì sự giúp đỡ đó mà mối tương quan giữa chúng tôi, các con của Thầy tôi vời các anh các chi họ, xa gần, đã rất chặt chẽ và thân thiết hơn. Điều này đã thể hiện thật rõ ràng trong những năm chinh chiến sau này, khi gia đình chúng tôi phải rời bỏ đô thành quen thuộc để về miền quê xa lạ.
Chúng tôi không ai biết rõ ngày sinh tháng đẻ của Thầy cũng như của Mẹ tôi, vì thời đó ở miền quê hộ tịch không được hệ thống hóa như bây giờ, nửa Tây nửa Ta, rất lỏng lẻo mơ hồ. Vả chăng giấy tờ hộ tịch, vừa viết bằng chữ Quốc Ngữ, vừa viết bằng chữ Nho, chẳng có gì là quan trọng, ngoại trừ đối với một số người tin vào Tử Vi Bói Toán. Vì đời sống dân quê rất đơn giản, chẳng mấy khi ra khỏi lũy tre quanh làng, mà phải cần đến giấy tờ hộ tịch. Hơn nữa nếu có cần đến một tờ khai sinh, thì vẫn có thể xin được một bản khai sinh mới, với ngày tháng năm sinh nào đó thuận tiện cho việc dùng giấy này.
Tôi chỉ được biết là Thầy tôi tuổi Dần, và đối với tuổi đó năm sinh của Thầy tôi phải là 1890. Mẹ tôi tuổi Ngọ, năm sinh phải là 1894.
Thầy tôi là điển hình một người Việt Nam thuộc thế kỷ trước, khăn đống áo dài, nhuộm răng, nhưng không ăn trầu, sống trong lúc giao thời, vừa Tây vừa Ta, vừa Nho học, Hán học, vừa Quốc ngữ và Pháp văn.
Như đã nói ở trên, Thầy tôi lớn lên trong một gia đình nông dân. Hồi nhỏ chỉ đi chăn trâu và đi học chữ Nho trong làng. Tôi được kể lại là mãi đến năm 15 tuổi, Thầy tôi mới chuyển sang học vần chữ Quốc Ngữ, sau đó tiếng Pháp
Thầy tôi đã học các lớp Tiểu học tại trường Tỉnh (Bắc Ninh). Sau khi đậu song bằng Tiểu học, người đã được học bổng của chính phủ Bảo hộ (Pháp) cho sang học trung học tại trường Trung Học Bảo hộ – Collège du Protectorat, sau đổi thành Lycée du Protectorat – còn có tên là Trường Bưởi, vì tọa lạc ở làng Bưởi gần Hồ Tây, Hà Nội.
Trường Trung Học Bảo Hộ (trường Bưởi) khi xưa
Thầy tôi được học bổng vì hai lý do: con nhà nghèo mồ côi và học giỏi. Thầy tôi không bao giờ nói chuyện thời còn đi học của mình cho chúng tôi nghe nhưng các ông anh họ ở nhà tôi thì biết nhiều hơn. Các ông anh họ ấy đã kể lại cho chúng tôi nghe là: “Ngày xưa ông Tư học rất giỏi, luôn luôn đứng đầu lớp, kể cả khi ra trường, với lời khen của Hội đồng Giám khảo. Bởi vậy, ngay sau khi ra trường, Ông Tư đã xin được một việc làm tại Trường Viễn Đông Bác Cổ”.
3. Trường Viễn Đông Bác Cổ
Huy hiệu của Trường VĐBC
Trường Viễn Đông Bác Cổ, tiếng Pháp là Ecole Francaise d’Extrẹme Orient, là một cơ sở nghiên cứu về lịch sử, xã hội, văn hóa, nhân văn có tiếng của Pháp. Sở này, thành lập từ năm 1900, nhưng đến năm 1902 mới có trụ sở ở Hà Nội được đặt tại đường Henri Rivière, trực thộc Collège de France bên Pháp, có nhiệm vụ chính là khảo cứu lịch sử và văn minh các nước vùng Đông Nam Á bao gồm các nước Trung Hoa, Ấn Độ, Thái Lan, Miến Diện, Cao Miên, Lào, Việt Nam, bán đảo Malacca (Mã Lai và Singapore), xuống cả đến Phi Luật Tân và Nam Dương quần đảo.
Những nhân viên nòng cốt của EFEO là những khảo cứu gia có tiếng thời đó như các ông Maurice Durand (Văn minh Việt Nam), Paul Lévy (Lào và Cam Bốt học), Henri Maspéro (Trung Quốc học), George Coedès (Ấn Độ học, Thái Lan học, Căm Bốt học), Paul Mus (Phật học, Nam Dương học), Pierre Gourou (Văn minh Việt Nam)… Những người Việt Nam đến với EFEO để nghiên cứu và viết sách khảo cứu được nhiều người biết đến hồi đó là các ông: Nguyễn Văn Tố, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Phấn và sau này là ông Nghiêm Thẩm.
Ông Hồ Chí Minh, ngay sau khi làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đã đến thăm Trường Viễn Đông Bác Cổ, có lẽ theo lời mời của ông Paul Mus dang là Giám Đốc đương nhiệm của Trường. Vì thế cho nên hai ông Nguyễn Văn Tố và Nguyễn Văn Huyên sau này đã được ông Hồ Chí Minh mời tham chánh.
Ông Nguyễn Văn Tố trạc bằng tuổi Thầy tôi. Cũng như Thầy tôi, thuở nhỏ ông học chữ Hán. Ssau khi tốt nghiệp trường Thông Ngôn (École des interprètes), ông làm việc tại trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội, chuyên về văn học cổ Việt Nam. Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Bộ trưởng Cứu tế Xã hội trong chính phủ lâm thời. Ông là Đại biểu quốc hội, Chủ tịch Quốc hội khóa I, Quốc vụ khanh trong Chính phủ liên hiệp Việt Nam lâm thời (1946). Sau ngày

Ông Nguyễn Văn Tố
toàn quốc kháng chiến (ngày 19 tháng 12 năm 1946), ông cùng chính phủ rút lên Việt Bắc tiếp tục kháng chiến chống Pháp. Ngày 7 tháng 10 năm 1947, trong một cuộc tấn công chớp nhoáng của quân đội Pháp vào chiến khu trong chiến dịch Việt Bắc, ông bị bắt, bị tra khảo và bị giết tại Bắc Cạn.
Ông Nguyễn Văn Huyên, nghe Thầy tôi nói là mồ côi từ nhỏ, nhưng được gia đình cho sang Pháp học. Ông đã đậu hai bằng của Pháp là Cử nhân Văn Chương và Cử Nhân Luật và 3 năm sau ông là người Việt Nam đầu tiên đậu Tiến sĩ Văn Chương Đại học Sorbone. Trở về nước, ông dậy học tại trường Bưởi trước khi vào Trường Viễn Đông Bác Cổ. Từ năm 1945 cho đến khi ông mất (1975) ông đã là Bộ Trưởng bộ Quốc Gia Giáo Dục trong chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Ông Paul Mus, người Pháp, là người đã đóng một vai trò khá đặc biệt trong lịch sử nước ta. Tuy được sinh ra ở Pháp quốc, ông Paul Mus từ nhỏ đã sống tại Hà Nội, lớn lên, đi học tại Hà Nội, cho nên ông rất hiểu và có cảm tình với nước và dân chúng Việt Nam. Trở về Pháp, ông đả trở nên một học giả chuyên về Đông Nam Á, rồi một chiến binh chống Đức Quốc Xã. Trở lại Việt Nam ông vào làm cho Trường Viễn Đông Bác Cổ, khảo cứu về văn minh Đông Phương và Phật giáo, nhất là về Phật giáo tại Nam Dương quần đảo (quần thể Borobodur).
Khi Tướng Leclerc trở lại việt Nam, ông Paul Mus được mời làm cố vấn cho quân đội viễn chinh Pháp. Vì thấy ông Paul Mus có mối giao tình với Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, nên sau khi cuộc chiến Việt- Pháp bùng nổ, ông cao ủy Pháp Émile Bollaert đã nhờ ông Mus liên lạc với chính phủ Việt Nam, đề nghị một cuộc hưu chiến, với một số điều kiện.

Ông Paul Mus (1902-1959)
Ông Paul Mus đã phải lặn lội cả trăm cây số vượt rừng đến gặp ông Hồ Chí Minh, đưa đề nghị hưu chiến. Xem song, ông Hồ Chí Minh đã hỏi ông Mus: “Nếu anh ở địa vị tôi thì anh có nhận đề nghị hưu chiến này không?”. Ông Mus trả lời: “Không”, vì ông cũng thấy đó là một đòi hỏi đầu hàng trá hình chứ không phải là một dề nghị hưu chiến(3). Do đó sứ mệnh Paul Mus đã bất thành, cuộc Trường kỳ Kháng chiến chống Pháp bắt đầu.
4. Cuộc đời đi làm của Thầy tôi.
Nhà tôi có một tủ sách khá lớn, trong đó phần lớn là các sách của Thầy tôi để lại, bằng Pháp văn. Khi tôi đã được 9, 10 tuổi, đã biết khá tiếng Pháp, tôi bắt đầu lục ra xem.
Có một bộ sách tôi thích nhất và hay mở ra xem, là bộ sách của Jules Verne. Bộ này có đâu năm sáu cuốn, nhưng hai cuốn tôi thích nhất là: “Vingt mille Lieues Sous les Mers’ (Hai ngàn dậm dưới đắy biển) và “Le Tour du Monde en Quatre Vingts Jours” (Cuộc Phiêu lưu quanh Trái Đất trong 80 ngày).
Bộ sách này là sách in rất đặc biệt, với khổ sách gấp đôi khổ sách thường, giấy dầy, có bìa cứng bọc vải đỏ, chữ in sâu xuống bìa ,chữ vàng. Bìa mép sách đều có kim nhũ mầu vàng ónh ánh. Chữ in trong mỗi trang đều là chữ khổ lớn, với nhiều hình vẽ trông rất đẹp.
Tiềm thủy đĩnh Nautilus của Jules Verne
Tôi đã từng bỏ ra cả ngày để rở từng trang sách ra đọc, say mê không những với những chuyện ly kỳ xẩy ra cho ông thuyền trưởng “Némo” điều khiển tiềm thủy đĩnh “Nautilus” dưới biển sâu, mà còn với hình ảnh những con bạch tuộc (loài cá mực) khổng lồ, lọt vào được tầu ngầm của ông Némo, đang cuốn chặt lấy người mấy người thủy thủ không may.
Mỗi cuốn sách này, dầy lối 2 inches, nặng lối năm sáu pounds, cầm lên rất sướng tay, khác hẳnh những cuốn sách khác, vừa nhỏ, vừa nhẹ mà lại mềm oặt. Mở trang bìa đỏ ra, trên đầu trang mỗi cuốn sách, đều có ghi mấy hàng chữ:
À Nguyễn Văn Kh. (tên của Thầy tôi) Premier prix de… Collège du ProtectoratĐiều này đã làm cho tôi rất hãnh diện và đã đem lén ra khoe với mấy người bạn hàng xóm láng giềng.
Rất tiếc là khi gia đình tôi bỏ Hà nội về quê lánh nạn binh lửa vào cuối năm 1946 thì tất cả của cải, cũng như là tủ sách đó, phải để lại, đều đã bị thiêu hủy cùng với căn nhà.
Như đã nói ở trên, Thầy tôi vào làm cho EFEO với chức vụ Phụ tá (cho các nhà khảo cứu) của Trường, tiếng Pháp là Assistant. Hai người Việt Nam đầu tiên làm Phụ tá là ông Nguyễn Văn Tố và Thầy tôi. Tôi không rõ với chức vụ này, bổn phận và trách nhiệm của Thầy tôi ở sở là những gì, vì hồi đó tôi còn nhỏ quá. Đến khi tôi lớn lên, tôi không còn ở bên Thầy Mẹ tôi lâu.

Tap chí của Trường Viễn ông Bác Cổ
Tôi chỉ biết rằng Thầy tôi cũng đóng góp vào công cuộc khảo cứu của trường bằng những bài khảo cứu đăng trong Tạp Chí của Trường (Buletin de l’EFEO). Những bài này được Thầy tôi viết trong thập niên ba mươi, nay đã bị thất lạc cả, hay cháy mất tiêu cùng với căn nhà chúng tôi ở trước mùa chinh chiến.
Có hai xấp tài liệu mà vì một sự tình cờ có một người đã đưa lại cho tôi khi còn ở Sài gòn. Đó là bài khảo cứu có tên là “Essai sur le Đình”. Thầy tôi viết về nguồn gốc và ý nghĩa của cái Đình trong các làng ở Việt Nam. Bài khảo cứu kia có tên là “Le Repêchage de l’âme” trong đó Thầy tôi nghiên cứu tục lệ cúng lễ những cô hồn uổng tử bị chết đuối, trong dân gian thời bấy giờ.
Tôi nghĩ rằng với khả năng Pháp ngữ và Nho học của Thầy tôi, sự đóng góp của Thầy tôi cho công cuộc khảo cứu về xã hội và văn minh nước Việt Nam của Trường EFEO hẳn không nhỏ.
Nếu bạn đọc nào có hứng thú muốn đọc bài “Essai sur le Đình” , hay bài “Le Repêchage da l’Âme” viết bằng tiếng Pháp, chua thêm chữ Hán để làm rõ nghĩa câu văn, xin mời vào Tập San Khoa Học Persee sau đây:
http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/befeo_0336-1519_1930_num_30_1_3171
http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/befeo_0336-1519_1933_num_33_1_4616
Ngoài hay cuốn sách này ra. Thầy tôi cũng cho đăng vào tạp chí của Trường hai bài khảo cứu ngắn có đề tựa là “Le Bán Khoán” (tục lệ đưa đứa con nào khó nuôi bán cho nhà chùa hoặc Đức Thánh Trần để nuôi cho dễ
Bình tráng men Céladon
hơn) và “Le Céladon” (một thứ men sứ mầu xanh rất đặc biệt).
5. Một con người thủ cựu trầm tĩnh.
Hàng ngày Thầy tôi đi đến sở làm cũng như bao nhiêu các công chức đi làm cho chính phủ Pháp thời đó. Buổi sáng làm từ 8:00 giờ đến 11:30, trưa về nhà ăn cơm, rồi ngủ một giác ngắn. Chiều đi làm lại từ 2 giờ 30 đến 5 giờ. Một tuần 6 ngày, chỉ có ngày Chủ Nhật là được nghỉ. Cho đến năm 1942 thì phải, mới có chế độ nghỉ buổi chiều thứ Bẩy, sáng đi làm, mà người ta gọi là “semaine anglaise”. Giờ đi học của chúng tôi cũng theo thế.
Để đi làm, Thầy tôi bao giờ cũng mặc “quần áo ta”, khác với “quần áo Tây” tức là âu phục mà hầu hết các bạn của Thầy tôi thường mặc. Người bao giờ cũng có một cái áo dài đen, quần trắng, đầu đội khăn xếp đen, chân đi dép ta – giống như giầy “pantoufle” bây giờ - bằng da củng mầu đen, với một cái ô đen nơi tay. Sau này tôi mới thấy Thầy tôi đi đôi giầy tây bằng da, và đó là món áo quần độc nhất trên người Thầy tôi có tính chất văn minh Tây phương.
Ngày nào cũng như ngày nào: mùa Hè thì áo dài bên trong là một cái áo dài trắng, bên ngoài là môt cái áo the đen; mùa Đông, thường là một cái áo dạ Mông Tự đen. Tôi chưa hề thấy người mặc Âu phục bao giờ; điều này nói lên bản chất bảo thủ của Thầy tôi. Anh Chung, ông anh rể họ đã từng ở nhà tôi rất lâu năm, đã kể lại rằng tất cả các giầy dép của “ông Tư” đi đều mòn theo chiều dài của đế giầy, không đôi nào có đế mòn vẹt một phía, như phần lớn giầy dép của mọi người. Điều này cũng nói lên cá tính của một con người trầm tĩnh, khoan thai, cẩn thận trong cách đi đứng, nói năng là Thầy tôi.
Thầy tôi không phải thuộc mẫu người thích ăn chơi, thích tiêu sài hoang phí, thích hưởng thụ xa hoa, lạc thú vật chất ở đời, mặc dù người có đủ khả năng tiền bạc làm những việc đó. Thầy tôi cũng có nhiều bạn bè, hay tổ chức ăn uống ở nhà. Mỗi lần như vậy là nhà rất đông người, người Việt cũng như người Pháp, mọi người cười nói ầm ỹ, rượu vào lời ra.
Thầy tôi không ham uống rượu. Chỉ có một lần trong đời tôi thấy Thầy tôi say rượu. Đó là lần người đi ăn tối ở nhà một người bạn nào đó, khi về đến nhà liền nằm ngay lên sập, lăn ra ngủ, không kịp thay quần áo.
Thầy tôi cũng không ham đánh bạc. Tôi chưa bao giờ thấy Thấy tôi cầm quân bài nào, kể cả những khi chúng tôi theo Thầy tôi về nhà Bà Huyện, tức là nhà mẹ vợ, hay là bà Ngoại của chúng tôi, mà tổ tôm, tài bàn dược tổ chức gần như suốt ngày, Chủ nhật nào cũng có.
Về phương diện cá tính, Thầy tôi là một người hiền hòa, tử tế với tất cả mọi người, biết công ơn dưỡng dục, nếu không phải của những bậc sinh thành, thì là của anh chị quyền huynh thế phụ, của thầy đồ đã giậy giổ tử hồi còn để chỏm, khá thủ cựu, không xông xáo, rất cẩn thận trong mọi hành động, trong lời ăn tiếng nói, ít đam mê cũng như hoài bão chí lớn.
Tóm lại Thầy tôi là một con người bình thường, chân thật, chân chỉ hạt bột, không sáng loáng như nhiều ông bạn thân như các ông Vũ Văn An, Kỹ sư Hóa học bên Pháp về, ông Nguyễn Huy Xương, một vị quan lại (Tuần phủ), ông Hoàng Cung, Kỹ sư Điện học, cũng từ Pháp về, ông Trương Hán Thu, y sĩ Đông Dương vân vân.
Ông Vũ văn An là bạn đồng khoa với Thầy tôi ở trường Bưởi. Tôi được kể lại rằng sau khi ra trường, Thầy tôi, vì đứng đầu lớp, được chính phủ Pháp cho học bổng để sang Pháp học thêm. Thầy tôi đã từ chối, ở lại nhà, làm việc cho Trường Viễn Đông Bác Cổ, giúp đỡ con cháu. Học bổng ấy sau đó lọt vào tay ông Vũ Văn An.
Ông An nhận học bổng sang Pháp học về Hóa học. Sau khi từ Pháp về, ông Kỹ sư Hóa học Vũ Văn An đã mở ra nhà máy nhuộm, để trở thành một doanh thương kỹ nghệ gia, giầu sang có tiếng thời đó. Bởi vậy ông An đã là một người bạn rất thân của Thầy tôi mà tôi hay thấy đến chơi nhà tôi: một người hơi béo mập, có râu mép, mặc Âu phục rất đẹp đẽ, trông như Tây (người Pháp) vậy. Ông An cũng đã từng muốn Thầy tôi quản lý cơ sở thương mại cho ông ta, trả lương rất cao, nhưng Thầy tôi không nhận.
Một người con của ông Vũ Văn An cũng theo chân bố sang Pháp học. Sau khi tốt nghiệp “Ecole Centrale” – một trong những “Grandes Ecoles” của Pháp – người con, tên là Vũ Văn Thái, về nước đã đóng nột vai trò quan trọng, Tổng Giám Đốc Ngân Sách và Ngoại Viện, trong chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa.
Ông Giám đốc trường Hậ Bổ Hà Nội (1903)
Ông Nguyễn Huy Xương là người cùng làng với Thầy tôi, học trường Hậu Bổ, ra làm quan tới chức đầu Tỉnh – Tuần Phủ – cũng hay sang Hà Nội thăm Thầy tôi. Rất tiếc rằng sau khi đảng Việt Minh của ông Hồ Chí Minh lên cầm quyền, trong nước bắt đầu manh nha chuyện giai cấp đấu tranh, reo răc chia rẽ trong lòng người, cho nên đã có nhiều hiểu nhầm giữa một bên là đại gia đình ông Xương bị coi là giai cấp quan lại, một bên là đại gia đình Thầy tôi bị coi là giai cấp nông dân. Thành thử ra sự liên lạc giữa ông Tuần Xương và Thầy tôi không còn được mặn mà như trước.
Ông Hoàng Cung cũng đã từ Pháp về, làm lớn trong chính phủ Bảo Hộ, thỉnh thoảng cũng hay đến thăm Thầy tôi. Vì thấy tôi hồi đó đã đậu Tú Tài đôi, ban Toán, không tệ, được xếp hạng “Bình” ông Hoàng Cung muốn nhờ tôi đến làm gia sư môn Toán Lý Hóa cho một người con ông ta. Theo lệnh Thầy tôi, tôi đã đến nhà ông Hoàng Cung trong ba tháng hè để làm việc này. Gia đình ông Hoàng Cung ở một căn nhà rất lớn, đẹp đẽ, trong một con đường, tên là Autigeon (bây giờ là Đặng Tất), rất sang, trong đó có toàn là villa của những gia đình giầu có.
Đến đấy, tôi lại khám phá ra rằng ở cuối phố Autigeon có nhà của ông Bác sĩ Y khoa Đông Dương Trương Hán Thu, cũng là bạn của Thầy tôi. Con ông Trương Hán Thu, tên là Trượng Mộ Hà, cũng là bạn học Trung học với tôi ở Hà nội.
Ông Nguyễn Văn Huyên
Thỉnh thoảng Thầy tôi cũng dẫn tôi đến sở làm là Trường Viễn Đông Bác Cổ. Tôi được vào xem phòng làm việc của Thầy tôi, thư viện của Trường với cơ man nào là sách. Đến đây, tôi lại được gặp những người bạn đồng sự của Thầy tôi, mà tôi đã gặp trước đây, như các ông Nguyễn Văn Huyên, ông Nguyễn Văn Phấn, khi họ đến nhà thăm Thầy tôi.
Ông Nguyễn Văn Huyên, trông người cao lớn, bao giờ cũng mặc bộ “com plê” trắng, khác hẳn với ông bạn là Thầy tôi, vẫn khăn xếp, áo the, răng đen, rất cổ điển. Ông Nguyễn Văn Phấn, ít tuổi hơn Thầy tôi nhiều, nhưng rất hay đến nhà thăm Thầy tôi. Mỗi lần đến, gặp tôi ra mở cửa đón ông vào, ông lại đứng nghiêm, giơ ba ngón tay lên chào tôi, miệng mỉm cười, làm tôi rất xấu hổ ngượng ngùng, Ông Phấn là Tráng sinh trong Hội Hướng Đạo Việt Nam và ông cũng biết tôi là một Sói con trong đoàn Hồng Bàng.
Ngoài những người bạn thân nói trên, Thầy tôi giao du rất rộng. Tôi được kể lại rằng, hằng tuần, mỗi thứ Tư, Thầy tôi đều đến tham dự những buổi diễn thuyết tại “Institut Anatomique pour l’Étude de l’Homme” về những vấn đề nhân văn, khảo cổ và khoa học. Chính tại đây Thầy tôi đã làm quen và trở nên người bạn thân với những ông Huard, Rivoalen, Tôn Thất Tùng, Vũ Đình Tụng là những y khoa bác sĩ có tiếng thời bấy giờ. Bác sĩ Huard đã là người làm phẫu thuật trên đầu một đứa em của tôi, ngã từ trên cao xuống đất và đã cứu sống nó.
Một lần theo Thầy tôi đến Trường Viễn Đông Bác Cổ, Thầy tôi đưa tôi lên tầng gác trên cùng của tòa nhà. Trên cái gác xép này, trần rất thấp không như những tầng khác, khí hậu rất nóng bức, vì không có quạt trần, tôi thấy một người đàn ông, chỉ mặc áo thung đang ngồi viết lách làm việc. Thầy tôi bảo tôi người đó là ông Hoàng Xuân Hãn(4), một nhà khoa học và học giả nổi tiếng thời đó. Ông Hãn đến Trường Viễn Đông Bác Cổ để tìm tòi khảo cứu các tài liệu của Trường để viết cuốn sách “Lý Thường
Sách "Lý Thường Kiệt" của Hoàng Xuân Hãn
Kiệt”. (xuất bản năm 1949)
Nói rằng Thầy tôi là người hiền hòa không có nghĩa là Thầy tôi đã từ bỏ trách nhiệm, để mặc mọi người trong gia đình nắm quyền chủ động. Trong gia đình tôi, Thầy tôi là chủ gia đình trong mọi nghĩa của nó, từ những quyết định lớn lao như đầu tư địa ốc, việc học hành của con cái, cho đến những chi tiêu trong gia đình. Tôi ít thấy Thầy tôi giận dữ, nhưng không phải không có.
Vì thấy những cơn giận dữ họa hoằn này, nên tôi – một đứa bé không ngoan ngoãn lắm – không dám “qua mặt” người, như đôi khi đối với Mẹ tôi, một người rất hiền. Đối với chúng tôi, Thầy tôi tỏ ra nghiêm khắc, tuy nhiên sự thân thiết của tình Cha Con vẫn có qua những buổi đi chơi xa, vào dịp hè, phần lớn là những buổi đichơi xuống thăm bà Ngoại tôi vào cuối tuần.
Tôi cũng còn được kể lại rằng, có lần tôi khoảng ba bốn tuổi, bị ốm, được Thầy tôi bế trên vai, đi lại trong phòng, ru cho con ngủ. Chẳng may, tôi bị đi tiêu chẩy, làm ướt cả bộ áo the Thầy tôi đang mặc. Cả nhà hoảng quá muốn bế tôi ra, nhưng Thầy tôi đã không chịu, bảo rằng cứ để cho tôi ngủ.
Thầy tôi, bề ngoài trông có vẻ cổ hủ, nghiêm khắc, nhưng có một tâm hồn nghệ sĩ. Tôi cũng được kể lại là người cũng từng đi hát quan họ Bắc Ninh, hay huýt sáo những điệu nhạc phổ thông. Trong nhà, Thầy tôi nuôi rất nhiều chim bạch yến trong lồng mà Thầy tôi rất chăm chút cho ăn trong những cái cóng bằng sứ rất quý, không kể đến một bể cá vàng. Giữa bể cá nhô lên hòn non bộ với cây si, loại bonsai, cành lá um tùm, trên đó có những tượng nhỏ xíu hai tiên ông đang đánh cờ, hay ông Lã vọng ngồi câu cá, vài ba chiếc thuyền cột neo dưới gốc cây si. Xem mấy con cá vàng, mầu đen, trắng, đỏ, vàng bơi lội tung tăng trong hồ cá, tôi cũng rất thích.
Thầy tôi cũng thích chơi hoa các loại, nhất là hoa quỳnh chỉ nở về đêm. Mỗi đêm hoa quỳnh nở, Thầy tôi hay bảo cả nhà ra sân ngồi uống trà, ăn bánh kẹo, dưới trăng xem hoa nở, cánh trắng nhị vàng, mùi thơm lan tỏa khắp nơi. Thật là tuyệt diệu.
Lần cuối cùng tôi gặp Thầy tôi là vào năm 1954, khi đó đất nước đã chia đôi. Tin tưởng ở Hiệp định Genève, trong đó có điều khoản Tổng tuyển cử sau hai năm, đất nước thống nhất, Thầy Mẹ tôi ở lại Hà Nội với người em gái út của chúng tôi, khi đó chúng tôi di cư vào Nam. Thầy tôi mất ngày 25 tháng Chạp năm Giáp Dần Âm Lịch, trước tết Nguyên Đán có năm ngày, cũng là ngày thứ Tư mồng 5 tháng 2, năm 1975 Dương lịch, hưởng thọ 84 tuổi. Chỉ 3 tháng sau, Sài gòn thất thủ và Việt Nam đã thống nhất. Thầy tôi đã không được biết ngày trọng đại đó mà người hằng trông đợi để có dịp gặp lại bầy con ở bên kia bờ sông.
Chúng tôi đã có cái bất hạnh là không được ở bên cạnh Thầy, và cả Mẹ tôi nữa, khi người lìa đời. Em gái tôi đã viết thư báo tin dữ cho biết Thầy tôi đã mất một cách êm ả, chóng vánh, sau bữa cơm chiều./.
___________________________________________________
(1) Chúng ta đã biết vào những năm đầu của thập niên 1900, trong nước có hai hệ thống giáo dục và thi cử song hành.
Một là nền giáo dục Nho học (Hán học) của triều đình Huế. Người nào đậu được Cử Nhân (thi Hương), Thám Hoa, Bảng Nhãn, Tiến Sĩ (thi Đình) thì được triều đình bổ nhiệm làm quan Tri Huyện, Tri Phủ, Án Sát, rồi Tuần Phủ…Không đậu gì cả hay chỉ vào được Nhất trường, hay đậu Tú Tài thì chỉ có thể ở nhà làm thầy giáo dậy con trẻ..
Hai là hệ thống giáo dục của người Pháp, dậy bằng chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp, đặt ra để có người làm cho chính phủ Bảo Hộ thời đó. Người Pháp, vào những năm đầu của thập niên 1900, để củng cố nền đô hộ, đã áp dụng một sách lược văn hóa có tầm mức ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài. Họ đã quyết định bãi bỏ nền giáo dục và thi cử của triều đình, dựa trên Hán Nôm và văn minh Á đông, mà thay thế bằng một nền giáo dục mới, dựa trên tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ và văn minh Tây Âu. Quyết định này nhằm mục đích đầu tiên là loại bỏ ảnh hưởng chính trị và văn hóa xã hội của lớp Nho học cựu trào còn nặng tinh thần quốc gia dân tộc, không chịu sự đô hộ của người Pháp mặc dầu đã thất bại liên tiếp. Năm Mậu Ngọ (1918) là khoá thi Hương cuối cùng ở Việt Nam.
(2) Để bạn đọc hìmh dung được đời sống kinh tế trong những năm đầu thập niên 30, tôi được biết là:
- một gia đình bình thường ở nhà quê có tử 3 đến 5 mẫu ruộng có thể kiếm được từ $100 đến $150 môt năm - một tạ gạo giá $3 - một chiếc xe đạp (nhập cảng hiệu Durand) giá $25. - Lương hàng tháng của các ông anh họ, mỗi người $25.Đơn vị tiền tệ là đồng bạc (piastre) Đông Dương.
(3) Ông sử gia Stanley Karnow có nhắc lại sứ mạng Paul Mus bất thành trong cuốn VietNam, a History, năm1983
(4) Ônh Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) là một giáo sư toán học, kỹ sư, nhà sử học, ng ôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn hóa, giáo dục, Việt Nam. Ông là người soạn thảo và ban hành Chương trình Trung học Việt Nam đầu tiên. Thuở nhỏ ông học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại nhà. Năm 1926, Hoàng Xuân Hãn đậu bằng Thành Chung..Năm 1928, Hoàng Xuân Hãn đỗ thủ khoa kỳ thi tú tài toàn phần và được nhận học bổng của chính phủ Đông Dương sang Pháp học.Năm 1930, Hoàng Xuân Hãn đỗ vào trường École normale supérieure và Trường Bách khoa Paris. Hoàng Xuân Hãn chọn học trường Bách Khoa. Năm 1932-1934, Hoàng Xuân Hãn vào học École Nationale des Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris).
Ngày 17 tháng 4 năm 1945, Hoàng Xuân Hãn tham dự nội các Trần Trọng Kim với chức vụ Bộ trưởng Giáo dục – Mỹ thuật. Từ ngày 20 tháng 4 đến ngày 20 tháng 6 năm 1945, với chức bộ trưởng, ông đã thiết lập và ban hành chương trình giáo dục bằng chữ Quốc ngữ ở các trường học. Áp dụng việc học và thi Tú Tài bằng tiếng Việt, dùng tiếng Việt trong những công văn chính thức.
Tháng 8 năm 2011, Trường Đại học Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris), một trong những đại học có uy tín hàng đầu của Pháp đã chọn giáo sư Hoàng Xuân Hãn đặt tên cho giảng đường đại học thuộc trường. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được Nhà trường vinh danh là một trong 100 sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của Trường.
________________________________________________
Tháng Giêng 2012




Chú giỏi quá, làn sao nhớ được nhiều chi tiết từ thưở thiếu thời, lại sưu tập được cả hình ảnh.
Nhờ bài của chú mà biết được thêm rất nhiều về sinh hoạt của các cụ thời thuộc Pháp và của các bậc tiền bối.
Kính bác Đào Viên,
Đọc bài bác viết “Chân Dung Một Người” , thích quá và thật là cảm động về “các cụ nhà ta” của thế kỷ trước, trong giai đoạn giao thời, ngày xưa chỉ có ít cụ làm trong Viễn Đông Bác Cổ, mà các bài các cụ viết, cho đến by giờ cũng khó có người nào viết được như vậy.
Trong bài bác viết về những nhân vật thần tượng trong Viễn Đông Bác Cổ của cháu mà từ lâu nay cháu đang tìm hiểu thêm, nếu bác có thêm chi tiết gì về các cụ Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên, hay thân phụ của bác, kính xin bác cho đăng thêm để chúng cháu có dịp được mở mắt.
Bộ sưu tập về các ông Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên thì cháu đã có, riêng cháu muốn biết thêm về cụ Nguyễn Văn Tố, ai đã giết cụ và tại sao lại giết cụ? muôn đọc bài của cụ Tố thì đọc ở đâu? vì cháu không biết tiếng Pháp, cái link bác cho về sách của viện Viễn Đông Bác Cổ, cháu cũng đã có nhưng không đọc được, thật là tiếc và ân hận.
Vài hàng kính thăm bác.
cháu Định
Anh Định,
Tôi có vào trong mạng internet, và có tìm được một ít tài liệu về các vị tiền bối anh muốn biết thêm.
1. Về cụ Nguyễn Văn Tố anh có thể vào các trang:
http://vov.vn/Home/Nguyen-Van-To-nhan-si-yeu-nuoc-nha-tri-thuc-lon/20095/112943.vov
http://hanoi.vietnamplus.vn/Home/Nguyen-Van-To–Pho-mang-ten-nha-tri-thuc/20104/1060.vnplus
http://laodong.com.vn/Home/Da-tim-thay-phan-mo-cu-Nguyen-Van-To/20077/47218.laodong
Cụ Tố đã bị quân đội Pháp giết (bằng cách nào không ai biết) tại Bắc Cạn, khi họ nhẩy dù xuống đấy, khi đó chính phủ Hồ Chí Minh mới di tản đến.
2 Về cụ Nguyễn Văn Huyên, anh có thể vào các trang:
http://quehuongonline.vn/VietNam/Home/Dat-nuoc-Con-nguoi/Con-nguoi-Viet-Nam/2011/11/4238E4D6/
http://dantri.com.vn/c25/s25-455661/gs-nguyen-van-huyen-mot-tam-guong-ve-nhan-cach.htm
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/94634/Chang-re-Nguyen-Van-Huyen.html
3. Hai ông Tố và Huyên là những nhân vật chánh trị (trong chính phủ Hồ Chí Minh), nên có nhiều tài liệu về hai người này.
Thầy tôi không tham chánh, nên ngoài giới học giả, rất ít người biết đến. Anh có thể tìm thấy trong:
http://geza.roheim.pagesperso-orange.fr/html/honvia.htm
http://danco.org/comcol/cultes2.html
http://hal.archives-ouvertes.fr/docs/00/33/58/82/PDF/PNgoc_Paul_Mus_chapitre.pdf
nhất là các tài liệu về hai ông Paul Mus và Pierre Gourou (của Collège de France). Thầy tôi đã là người giậy ông Gourou tiếng Việt.
ĐV