Về Nguồn


Không nghĩ thiện, không nghĩ ác,
cái gì là bản lai diện mục của Thượng Tọa Minh ?
— Lục Tổ Huệ Năng

Ðào Viên

Sau một chuyến đi về thăm quê hương, một người bà con trong họ đã cho chúng tôi một món quà mà chúng tôi rất trân quí. Ðó là một bản sao cuốn gia phả của giòng họ Nguyễn chúng tôi. Chúng tôi được biết cuốn gia phả này, viết tay, bằng chữ quốc ngữ, đã được dịch từ bản nguyên thủy viết bằng chữ Hán Nôm, vẫn để nơi nhà thờ Tổ của giòng họ, và đã truyền thừa lại từ bao đời cho con cháu, trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử cũng như vận mệnh nổi trôi của đất nước và giòng họ.

Quê quán chúng tôi là làng Dương A, thuộc xã Nam Thắng, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Ðịnh, nơi mà cụ Tổ giòng họ đã đến lập nghiệp từ thế kỷ thứ 13, cuối đời nhà Lý, đầu đời nhà Trần. Ðọc cuốn gia phả, chúng tôi mới biết là giòng họ chúng tôi, một thời, đã ít hay nhiều gắn liền với vận mệnh lịch sử của dân tộc. Là giòng dõi công thần nhà Trần, nên sau khi nhà Trần mất ngôi về tay Hồ Qúy Ly, những đóng góp và ảnh hưởng của giòng họ đối với quốc gia đại sự đã suy thoái. Ðến khi tướng Trương Phụ nhà Minh kéo quân sang thôn tính nước ta thì tổ thứ năm giòng họ chúng tôi đã phải trở về đất tổ sống một cuộc đời ẩn dật bình dị, trong sạch, làm ruộng, dậy học, không chịu hợp tác với giặc. Cho đến thời Lê Trung Hưng, mới lại có người trong họ ra giúp nước, đảm nhiệm các chức vụ quan trọng trong triều.

Tất cả đã bắt đầu từ vị Thủy Tổ của giòng họ, một nhân vật lịch sử, sống trong một thời kỳ huy hoàng của dân tộc, và đã đóng góp công sức – mặc dầu khiêm nhường, vì số mệnh không cho phép – vào công cuộc bảo vệ tổ quốc chống nạn ngoại xâm và công cuộc kiến thiết quốc gia đem an lạc hạnh phúc lại cho đồng bào.

Cụ Nguyễn Hiền

Cụ Nguyễn Hiền

Ông Thủy tổ giòng họ chúng tôi chính là Cụ Nguyễn Hiền, mà đời sau vẫn gọi là Ðệ Nhất Trạng Nguyên của nước ta. Vì là một nhân vật lịch sử, nên Cụ đã được nói đến trong nhiều tài liệu thư tịch. Tỷ như Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim có ghi Nguyễn Hiền là người đã đậu Trạng Nguyên, khóa thứ Nhất, khoa thi Tiến Sĩ (còn gọi là Thái Học Sinh) năm Ðinh Mùi, niên hiệu Thiên Ưng Chính Bình, đời vua Trần Thái Tông, tức là năm 1247 DL. Cùng khóa thi năm đó có các ông: đệ Nhị danh, Bảng Nhãn Lê Văn Hưu, người làm sử đầu tiên của nước ta, tác giả bộ Ðại Việt Sử Ký; và đệ Tam danh, Thám Hoa Ðặng Ma La. Năm ấy, Nguyễn Hiền, sinh năm Ất Mùi, tức 1235 DL, mới 12 tuổi. Nguyễn Hiền cũng là vị Trạng Nguyên trẻ tuổi nhất nước ta vậy. Sách Người Việt, Ðất Việt của Toan A¨nh có ghi chép nhiều sự tích về Nguyễn Hiền. đặc biệt chuyện Nguyễn Hiền đã bị nhà vua đuổi về, không ban cho áo mũ, bảng lọng để vinh quy bái tổ, chỉ vì một hiểu lầm(1). Sách cũng ghi sự tích Nguyễn Hiền ít năm sau được vua triệu về triều để giúp triều đình khỏi bị mất mặt với sứ giả nhà Nguyên (Mông Cổ) khi đã giải được câu đố trong một bài thơ theo thể ngũ ngôn, sau khi Vua và bá quan luận không ra(2).

Dĩ nhiên là cuốn gia phả của giòng họ có ghi chép đầy đủ các sự tích trên. Gia phả còn ghi nhiều chi tiết, giai thoại, truyền kỳ khác không có trong sử sách chính thức, như công trạng của Nguyễn Hiền trong kế hoạch xây đắp toàn bộ hệ thống đê sông Hồng Hà khoanh ra tới biển gọi là đê quai vạc (công trình Thủy Nông đầu tiên của nước ta) hoàn tất vào khoảng năm 1248; kế hoạch thành lập Giảng Võ Ðường (di tích khu Giảng Võ ngày nay và là trường võ bị cao cấp đầu tiên của ta) vào năm 1253. Các sử sách cũng không ghi vợ Trạng là con gái út vua Trần Thái Tông và Trạng đột nhiên mất, vào ngày 14 tháng 8 năm Ất Mão, tức là năm 1255 DL. Khi ấy ông mới 21 tuổi. Vua Trần Thái Tông cho lập đền thờ bên mộ người tại Hoa Linh Sơn gần hồ Ngọc Hà, kinh đô Thăng Long (Hà Nội ngày nay) và trên quê hương Trạng, ngay trên nền nhà cũ nơi mà Trạng đã sinh ra. Mộ và đền thờ tại kinh đô Thăng Long, nay không còn nữa vì người Pháp đã phá hết di tích lịch sử của ta trong khu vực đó để xây phủ Toàn Quyền Pháp. Riêng ngôi đền thờ Trạng ở quê hương Dương A hiện nay vẫn còn nguyên và giữ được vẻ tôn nghiêm.

Người trong họ chúng tôi kể lại chuyến viếng thăm đền quan Trạng tại quê nhà, sau khi đọc cuốn gia phả, với nhiều mối cảm súc. Anh ta đã cảm thấy ngay trong huyết quản mình, tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất, khả năng uy vũ, anh minh sáng suốt của tổ tiên. Có điều anh ta rất ân hận là đã không có khả năng đọc được những hoành phi, câu đối treo rất nhiều trong đền, cùng những bia đá lớn nhỏ để rải rác các nơi trong khuôn viên, ghi lại những thần tích, những công trạng, những văn chương thi phú của tổ Nguyễn Hiền và của những người đồng thời. Sự

Bia đá trong Văn Miếu

Bia đá trong Văn Miếu

bực tức này càng rõ hơn khi anh ta ra Hà Nội, vào thăm Văn Miếu, mà không sao tìm được tên tổ Nguyễn Hiền đâu, trong cả ngàn tên các vị khoa bảng của các triều đại. “Mình về nhà mình, quê hương mình mà có cảm tưởng như mình là một khách du lịch đi thăm một xứ sở xa lạ – anh ta than phiền – gia tài ông cha ta để lại đã bị mất mát rất nhiều. Cũng may mà còn có ít người đọc được gia phả mà viết ra bằng quốc ngữ”.

Cũng đã có nhiều người chia sẻ với tôi tâm trạng tương tự. Vì không hiểu biết, không được học chữ Hán Nôm, chúng ta đã không thưởng thức được rất nhiều gia tài văn hóa của tiền nhân. Chúng ta đã bị cắt đứt với một quá khứ không thiếu gì những cái hay cái đẹp, những điều huy hoàng rực rỡ có thể làm cho chúng ta hãnh diện đểø tiếp tục công trình của tổ tiên. Vì định mệnh khắt khe của lịch sử, dân tộc Việt Nam đã bị đẩy vào một khúc quanh, quá nhanh, quá mạnh để hành trang văn hóa dân tộc bị mất mát khá nhiều.

Người Pháp, vào những năm đầu của thập niên 1900, để củng cố nền đô hộ, đã áp dụng một sách lược văn hóa có tầm mức ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài. Họ đã quyết định bãi bỏ nền giáo dục và thi cử của triều đình, dựa trên Hán Nôm và văn minh Á đông, mà thay thế bằng một nền giáo dục mới, dựa trên tiếng Pháp, chữ quốc ngữ và văn minh Tây Âu. Quyết định này nhằm mục đích đầu tiên là loại bỏ ảnh hưởng chính trị và văn hóa xã hội của lớp Nho học cựu trào còn nặng tinh thần quốc gia dân tộc, không chịu sự đô hộ của người Pháp mặc dầu đã thất bại liên tiếp. Mục đích thứ hai là đào tạo một lớp người mới, cắt đứt với thế hệ trước, đoạn tuyệt với những hoài bão của lớp Văn Thân, mà dễ dàng cộng tác với người Pháp trong cái gọi là “sứ mạng khai sáng văn minh” (mission civilisatrice) của họ cho dân thuộc địa.

Ðồng thời với sách lược văn hóa này, họ cũng đả dùng một số mưu chước chính trị nhằm đập tan uy tín, quyền lực và ảnh hưởng của triều đình Nguyễn, như bỏ vua cũ khó bảo (Hàm Nghi, Duy Tân) thay bằng vua mới nhu nhược (Khải Ðịnh, Bảo Ðại), có thái độ ngạo mạn hỗn xược trong triều, xắp đặt cho những người thân Pháp, thân Tây phương (Pétrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Hữu Bài, Phạm Quỳnh) trong triều đình Huế…Với chính sách trên, và với những vị Thái Thú tài năng như Paul Doumer, Albert Sarraut, Pierre Pasquier, chỉ vài chục năm sau, người Pháp đã đạt được nhiều thành quả tốt đẹp. Một thế hệ lớp lãnh đạo mới, xuất thân từ các trường đào tạo kẻ thừa hành bản xứ, như trường Thông Ngôn (đào tạo thư ký, thông dịch viên), trường Hậu Bổ (đào tạo quan lại), trường Lycées, trường Nhà Dòng, thấm nhuần văn hóa Tây Âu, chỉ biết đọc chữ Pháp và chữ quốc ngữ, nhưng lại mù tịt hoặc rất mơ hồ về gia tài văn hóa tổ tiên, đã sẵn sàng giúp người Pháp kiện toàn nền cai trị trên xứ sở chúng ta.

Người viết bài này không có ý phủ nhận giá trị lớn lao của chữ quốc ngữ, mà chỉ muốn nói đến vai trò quan trọng của chữ Hán Nôm cũng như ảnh hưởng tai hại khi bị quên lãng, cho lịch sử cũng như văn hóa của nước nhà. Nhiều người Việt Nam, khi nói đến chữ Hán Nôm thì coi đó như là tàn tích của một thời kỳ phong kiến, lệ thuộc người Tầu, không có gì đááng luyến tiếc, mà phải vứt bỏ.

Nhận định này có phần thiển cận. Dân tộc Nhật bản và Triều Tiên (tức là Ðại Hàn ngày nay), cũng như dân tộc Việt Nam, cũng đã dùng chữ Hán – một cách viết tượng hình của người Trung Hoa – để diễn tả và truyền đạt tư tưởng cho nhau, cũng cả ngàn năm trước. Cũng như người Việt Nam, họ viết chữ Hán nhưng đọc lên thành tiếng địa phương (Nhật hay Triều Tiên). Cũng như người Việt họ đã làm giầu thêm ngữ vựng, bằng cách lấy ngay chữ Hán mà đọc theo thổ âm bản xứ(3). Cũng như người Việt biết đặt ra tiếng Nôm cho tiếng Việt, họ cũng chế ra một cách viết riêng cho tiếng Nhật hay tiếng Triều Tiên. Người Nhật có hệ thống chữ viết Kana (katakana và hiragana) để phiên âm tiếng Nhật. Hệ thống này – tương truyền do một nhà sư tên là Kukai đặt ra từ thế kỷ thứ 9 – đã được dùng song song với hệ thống chữ Hán, gọi là Kanji, hay Honji. Ðến thế kỷ thứ 15, thì hai hệ thống văn tự đó đã được người Nhật dùng đầy đủ để dựng nên một nền văn học rực rỡ. Người Triều Tiên cũng chế ra một hệ thống văn tự riêng cho thổ ngữ xứ sở. Ðó là hệ thống chữ hangul (còn được gọi là Hunmin Chongum) đặt ra dưới triều đại vua Sejong (Thế Tôn) nhà Yi

Vua Lý Thế Tôn nước Cao Ly

Vua Lý Thế Tôn nước Cao Ly

(Lý) thế kỷ thứ 15. Cũng như người Nhật và người Việt, người Triều Tiên đã dùng cả hai nền văn tự trong đời sống văn hóa của họ. Sách vở thư tịch, của dân gian cũng như của triều đình đều vừa có chữ Hán vừa có chữ Hangul riêng của quốc gia.

Ðến đây, bắt đầu có sự khác biệt giữa người Việt Nam với người Nhật và Ðại Hàn. Trong khi cả hai dân tộc ấy tiếp tục dùng chữ Hán song song với chữ Nôm của họ – một cách tự nhiên, không chút mặc cảm lệ thuộc ngoại bang, vì họ đã coi chữ Hán như chữ của họ rồi – để gia tài lịch sử và văn hóa dân tộc, cũng như truyền thống và tình tự quốc gia được tiếp tục truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp, thì người Việt ta đã đoạn tuyệt sớm và nhanh chóng với nền văn tự cũ. Ðến cuối thế kỷ thứ 19, có đến một nửa tiếng Ðại Hàn là có gốc chữ Hán. Ngày nay, người dân Ðại Hàn vẫn học chữ Hán ngay từ bậc tiểu học. Tối thiểu phải biết 500 chữ (bậc tiểu học) và trung bình phải biết 1500 chữ (bậc trung học). Còn trong tiếng Nhật, sau Thế Chiến Thứ Hai, người ta đã quyết định giới hạn dùng số chữ Hán là 1850 chữ. Ðến năm 1980, giới hạn này được tăng lên tới 1945 chữ, mới đủ cho nhu cầu văn học (Compton Encyclopedia – Japan). Trong khi ấy, chữ Hán Nôm tại Việt Nam chẳng được học đến, chẳng mấy ai biết đến, mà các bậc lãnh đạo quốc gia trong nhiều chính phủ kế tiếp cũng chẳng nghĩ gì đến. Do đó mặc cảm là “người ngoại quốc ngay trong xứ sở mình” tất nhiên phải nẩy sinh.

Nhìn rộng ra nữa, chế độ thực dân với những sách lược văn hóa và chính trị trên đã có những chấn động sâu rộng cho xã hội dân tộc Việt Nam mà ảnh hưởng vẫn còn thấy rất nhiều năm sau.

Trước hết là sự tan rã của một nền quân chủ, trong đó một ông vua, dù có bết bát đến đâu đi chăng nữa, vẫn còn là một hình tượng đại diện cho quốc gia để mọi người dân đúng chung quanh bảo vệ chống ngoại xâm. Sau đó là sự phá sản của một lớp trí thức lãnh đạo cũ, từ những ông Nghè ông Cống nhất phẩm

Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ?

“Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ?”

triều đình cho đến những ông Cử, ông Tú, ông Ðồ dậy học tại các trường huyện, trưỡng làng. Chỉ mấy chục năm sau họ chỉ còn là “những người muôn năm cũ; hồn ở đâu bây giờ ?” (4) (Vũ Ðình Liên). Thành phần xã hội bị thiệt hại hơn cả có lẽ là nền tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc. Sự bãi bỏ chữ Hán Nôm, mà tất cả các kinh điển Phật gíáo đã dùng để ghi chép, giảng giậy và truyền bá Phật pháp, có nghĩa là sự bóp chết tôn giáo này ngay trong trứng nước. Ðó là kết quả của sự thay thế cưỡng ép nền văn hoá Trung-Ấn dựa trên Tam Giáo (Phật, Khổng, Lão) mà dân tộc Việt đã khai triển và dùng trong quá trình xây dựng đất nước, bằng một nền văn hoá La-Hy xa lạ dựa trên Thiên Chúa Giáo.

Hệ luận đầu tiên của sự thay đổi chính trị và văn hóa trên là người Việt Nam đã mất cái bản lai diện mục (xin được tạm dùng danh từ Phật học để dịch danh từ Anh ngữ identity) của mình. Nhiều người dân Việt thế hệ sau trở nên lạc lõng, không thấy rõ nguồn cội của mình, không cảm thấy có liên hệ gì đến quá khứ, đến tổ tiên, đến dân tộc, không thấy mình thuộc vào một cộng đồng lịch sử nào. Một thời, người Việt được giảng dậy có tổ tiên là người Gô Loa. (Nos ancêtres sont des Gaulois). Nhiều người, nhiều khi đã chẳng lấy gì làm hãnh diện là người Việt Nam(5). Cả một hệ thống giá trị cũ, lần lượt bị thay thế bởi những giá trị mới. Những quan niệm căn bản cũ về trật tự xã hội, gia đình, cá nhân, về đời sống tâm linh của con người, những tập tục, tín ngưỡng, lần lượt bị lớp người mới gạt bỏ, quên lãng, chê bai, nhiều khi đả kích. Ngay quan niệm căn bản về Trung Quân Ái Quốc – rất rõ rệt nơi các dân tộc khác, ở bất cứ thời đại nào – đã trở thành mù mờ với nhiều người dân Việt Nam, nhất là lớp trí thức tân học. Ðã có thời, nhiều người tự hỏi: Trung thành với ai đây ? Với ông vua bù nhìn cùng triều đình bất lực hay với quan Toàn Quyền và các Bề Trên đầy quyền năng ? Yêu nước nào đây ? nước mình, hay nước Ðại Pháp(6), hay nước Chúa ?

Cụ Phan Bội Châu

Cụ Phan Bội Châu

Tại sao phải thờ cúng tổ tiên ? Thờ cúng Ma quỷ à ? Chuyện ông Nghè Phan Bội Châu (đậu Giải Nguyên đời nhà Nguyễn) đã bị ông chủ bút của tờ Ðông Dương Tạp Chí, (tốt nghiệp trường Thông Ngôn), chỉ trích, nói xấu trên báo là một thí dụ điển hình cho sự khác biệt giữa hai thế hệ trí thức về yêu nước yêu nòi(7). Phật giáo với hệ thống tư tưởng rất cao siêu, mà lớp tân học không hiểu, đã được mang ra chế riễu, báng bổ trên các báo của các nhóm này như Phong Hóa, Ngày Nay vân vân. Tinh thần khinh rẻ – nếu không gọi là bài bác – Phật giáo vẫn còn tồn tại trong nhiều lớp trí thức tân học những năm sau này.

Nền tảng Tam Giáo của xã hội cổ truyền Việt Nam là gia tộc (hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng các bậc trưởng thượng), là tổ tiêên, huyết thống (thờ cúng tổ tiên, bảo vệ giòng họ), là con người chính nhân quân tử (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), và là tu nhân tích đức (luân hồi, quả báo) đã bị coi là cổ hủ, lỗi thời, mê tín dị đoan. Nhiều truyền thống tốt đẹp mà tổ tiên chúng ta đã phải để cả trăm năm, qua nhiều thế hệ, mới gây dựng nên, đã bị xóa bỏ chỉ sau vài ba chục năm. Sùng bái cá nhân được coi trọng hơn tinh thần gia đình. Tự do và quyền lợi cá nhân có ưu tiên hơn trách nhiệm trong gia đình, trong cộng đồng. Sự kính trọng cá nhân lẫn nhau, chưa nói đến lòngï kính trọng người trên, các bậc trưởng thượng trong một xã hội có tôn ti trật tự, có truyền thống, đã biến dần. Không mấy ai bảo được ai. Trước sức mạnh của văn minh Tây Âu, mặc cảm tự ti nẩy nở, tinh thần vọng ngoại trở nên phổ cập, nhất là trong giới trí thức tân học. Nhiều chủ nghĩa ngoại lai, từ cực hữu đến cực tả, xa lạ hay ngược với truyền thống cố hữu của người Việt Nam mà không mấy ai còn nhớ nữa, đã được du nhập.

Hệ luận kế tiếp của sự mất chủ quyền dân tộc và sự xóa bỏ nhanh chóng nền văn hóa cổ truyền – cũng là sự cắt đứt trao truyền truyền thống dân tộc từ thế hệ này cho thế hệ kế tiếp – là sự phân hóa trầm trọng trong xã hội Việt Nam. Rất nhiều mâu thuẫn đã nẩy nở. Mâu thuẫn giữa thế hệ cũ và thế hệ mớøi; giữa lớp người ở thành thị quen sống với những giá trị mới của văn hóa Tây Âu và lớp người thôn quê chỉ biết những giá trị cũ của Tam giáo; giữa nền tín ngưỡng cổ truyền và nền tín ngưỡng mới mà sự du nhập vào nước ta, than ôi, đã đồng thời với, và cũng dựa vào, sự xâm lăng của người Pháp, đã gây ra biết bao “chia rẽ và đối nghịch” (Nguyễn Văn Trung); giữa ngay những chủ nghĩa nhập cảng mà nhiều người đã coi có giá trị tuyệt đối vĩnh cửu như Kinh Thánh. Khi người Pháp còn có mặt ở Ðông Dương, chính quyền bảo hộ, với bộ máy chính trị và quân sự khá hữu hiệu, đã có thể du trì được một trật tự quân bình nào đó. Sau 1945, khi bộ máy ấy tan vỡ thì tình trạng phân hóa được thể hiện. Những mâu thuẫn văn hóa xã hội đã nổ tung ra dưới nhiều hình thức tranh đấu giữa người Việt với nhau. Bất đồng ý kiến trong ý thức chánh trị, về phương thức dành độc lập, xây dựng công bằng xã hội, kiến thiết quốc gia là chuyện tất nhiên phải có trong mọi cộng đồng và sự giải quyết thông thường là nhân nhượng trong tinh thần tương liên, tương kính để đi đến một giải pháp chắc chắn sẽ không phải là tốt nhất cho bất cứ ai, nhưng mọi người đều có thể chấp nhận được. Nhưng ở một xã hội mất truyền thống, không còn kỷ cương, không có lãnh đạo, trong đó sự tín nhiệm – chưa nói đến lòng kính trọng – lẫn nhau là món hàng khó kiếm, thì sự hóa giải các đối nghịch trở nên khó khăn vô cùng. Thêm vào đóù tinh thần vọng ngoại của giai cấp lãnh đạo đã làm cho bài toán rắc rối thêm vì lời giải đã vượt khỏi tầm tay người bản xứ. Từ đó, người Việt nam đã mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo: đó là bệnh chia rẽ.

Một cuộc nội chiến tàn khốc suốt hơn hai mươi năm đã xẩy ra, cướp đi mạng sống của cả triệu người Việt. Thế mà, cay đắng thay, chung cuộc của cuộc chiến huynh đệ tương tàn ấy lại do người ngoài quyết định. Sau đó cả trăm ngàn người Việt đã ra khỏi nước, đem trí thông minh, lòng quả cảm và sức chịu đựng ra lập thành những cộng đồng người Việt hải ngoại, rất thành công, được sự nể trọng của dân bản xứ. Có điều đáng chú ý là tuy đã ra khỏi xứ, người Việt hải ngoại cũng vẫn không sao dứt bỏ được căn bệnh trầm kha mắc phải tự bao giờ: bệnh chia rẽ.

Tuy nhiên, khúc ngoặt lịch sử nay đã được chỉnh lại, với một giá rất đắt. Người Việt ngày nay đã có thể bình tâm suy nghĩ, tìm lại cái bản lai diện mục của mình, trở về với nguồn cội, hãnh diện với sự nghiệp của tổ tiên, lấy lại được lòng tự tín của một dân tộc anh dũng và có nhiều tiềm năng, để tiếp tục công trình của tiền nhân, dựng nước và đóng góp vào sự hưng thịnh thế giới.

Ðiều này có lẽ chỉ có thể chờ đợi nơi một thế hệ sau này, khác với thế hệ bây giờ, thế hệ những người Việt không từng chịu ơn huệ hay ảnh hưởng của ngoại bang, không có mặc cảm tự ti đối trước các nền văn minh Âu Mỹ hay bất cứ nền văn minh nào khác, hãnh diện với công trình của tổ tiên, hãnh diện là người Việt Nam, không vọng ngoại, và không còn chia rẽ hận thù. /.

______________________________________________________________

1) Câu chuyện như sau: Trong bữa yến tiệc do nhà vua khoản đãi, Trạng đượäc mời ngồi đối diện với nhà vua. Vua hỏi Trạng rằng: “Khanh học thầy nào mà giỏi làm vậy ?”. Nguyển Hiền đã tình thực trả lời: “Thần tự học là chính, đôi chỗ có trao đổi với nhà chùa”. (Hạ thần học thần. Ðản vấn tăng sư nhất nhị tự). Nhà vua không nghĩ được là Nguyễn Hiền, vì nhà rất nghèo, ở cạnh chùa làng, phải tự học lấy, mà cho rằng Hiền là đứa trẻ kiêu ngạo, nên đã phán trách: “Khanh chưa biết giữ lễ (Thượng nhật vi tri lễ). Hãy tạm về nhà đợi vài ba năm sau sẽ bổ dụng” (Khả tạm hồi gia ước tam niên nhi hậu dụng)

2) Bài thơ như sau:

Lưỡng nhật bình đầu nhật
Tứ sơn điên đảo sơn
Lưỡng vương tranh nhất quốc
Tứ khẩu tung hoành gian

Vào triều, Nguyễn Hiền đã xem qua bức thư của giặc, ông lắc đầu và nói: “Ðây chẳng qua là một trò chơi chữ rất tầm thường khờ khạo dốt nát. Theo chiết tự, tất cả chỉ là một chữ ÐIỀN.” Thực vậy, hai chữ Nhật ghép lại sao cho trên dưới bằng nhau thì là chữ Ðiền. Bốn chữ Sơn sấp ngửa đảo ngược nhau cũng là chữ Ðiền. Hai chữ Vương giao nhau cũng là chữ Ðiền. Cuối cùng bốn chữ Khẩu đặt ngang dọc liền nhau cũng là chữ Ðiền.

3) Thí dụ chữ Cha Mẹ mà người Trung Hoa viết theo lối tượng hình thì được người Việt lấy ngay mà đọc là Phụ Mẫu, người Triều Tiên cũng lấy mà đọc là Pumo, người Nhật cũng viết như người Việt hay người Triều tiên, nhưng đọc là Fubo.

4) Ông Ðồ Việt, Tết đến thì “bầy mực tầu giấy đỏ; bên phố đông người qua” kiếm chút tiền độ nhật. Trong khi đó, thuật viết chữ Hán đẹp (calligraphy) đã trở thành một nghệ thuật cổ truyền, đi vào mạch sống chính của xã hội Trung Hoa và Nhật Bản. Ở nước ta, người tử tù trong Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân có lẽ là người cuối cùng của truyền thống này, và ông cai ngục có lẽ là người cuối cùng có được những hạt minh châu của truyền thống ấy.

5) Trong những năm đầu của thập niên 60, trong một dịp sang Hoa Kỳ, tôi đã được nhiều sinh viên đang du học tại đây khuyên là nên nhận mình là người Phi Luật Tân hay Thái Lan khi được hỏi là từ đâu đến. Sau 1975, nhiều người Việt Nam hải ngoại đã quyết định không muốn còn là người Việt Nam nữa, thay đổi cả từ tên họ đến cung cách cư xử sinh hoạt.

6) Một nhà trí thức khoa bảng Việt Nam, tốt nghiệp Thạc sĩ từ một trường ưu tú nhất nước Pháp (Agrégé de Grammaire, Ancient élève de l’ École Normale Supérieure) đã bầy tỏ lòng biết ơn của người Việt đối với người Pháp – vì đã đem lại văn minh cho dân bản xứ – trong một cuốn sách được coi là một áng văn chuơng tuyệt tác viết bằng Pháp ngữ thời đó.Trong cuốn sách này (De Hanoi à la Courtine) ông đã giải thích cử chỉ cao đẹp của ông – trả nợ nước Pháp – khi ông gác bỏ một sự nghiệp rất danh giá (giáo sư Pháp Văn Trung Học) để tình nguyện gia nhập quân đội Pháp (làm binh nhì) chiến đấu bên cạnh người Pháp chống người Ðức xâm lược, hồi Ðệ Nhị Thế Chiến. Ông đã sống hầu như hết cuộc đời tại Pháp. Ông có về Việt Nam một thời gian ngắn, tham gia – làm Tổng trưởng Quốc Gia Giáo Dục – một chính phủ quốc gia thân Pháp.

7) Cụ Phan Bội Châu đã bị tờ Ðông Dương Tạp Chí chê là dốt nát không biết tiếng Lang Sa (tiếng Pháp), không được chính phủ Bảo Hộ trọng đãi, nên trở thành bất mãn, chỉ nói càn. Tưởng cũng nên nói thêm là hai tờ tạp chí nổi tiếng một thời, Ðông Dương và Nam Phong, đã được chính quyền Pháp cho tiền để tuyên truyền cho chính sách Thuộc Ðịa, Bảo Hộ của họ. (Chủ đích Nam Phong – Nguyễn Văn Trung)

___________________________________________________________________________________________

Tháng 2, 2009

3 responses to “Về Nguồn

  1. Kính thưa anh Đào Viên,
    Tối hôm qua tôi đọc đi đọc lại bài “Về Nguồn” của anh nhiều lần. Rất xúc động và xin được chia sẻ tâm sự và tâm nguyện của anh. Tôi nghĩ chắc chắn độc giả và bạn bè của anh, đọc xong, thì lại càng kính trọng và quý mến anh hơn.

  2. “… Tự do và quyền lợi cá nhân có ưu tiên hơn trách nhiệm trong gia đình, trong cộng đồng. Sự kính trọng cá nhân lẫn nhau, chưa nói đến lòngï kính trọng người trên, các bậc trưởng thượng trong một xã hội có tôn ti trật tự, có truyền thống, đã biến dần. Không mấy ai bảo được ai. Trước sức mạnh của văn minh Tây Âu, mặc cảm tự ti nẩy nở, tinh thần vọng ngoại trở nên phổ cập, nhất là trong giới trí thức tân học. Nhiều chủ nghĩa ngoại lai, từ cực hữu đến cực tả, xa lạ hay ngược với truyền thống cố hữu của người Việt Nam mà không mấy ai còn nhớ nữa, đã được du nhập. ”

    Thưa ông! Toàn bài này đã thể hiện rõ sự chia rẽ của dân tộc mình. Đoạn trích cháu lấy ra đây là vì cháu thấy ông viết rất sát với những gì đang xảy ra ngay bây giờ trong nước.

    Cháu xin lấy 1 góc rất hẹp, là về tư tưởng để nhận định. Hiện trong nước đã “nhập khẩu” thôi thì đủ các trào lưu tả hữu tân cựu…, thôi thì hiện sinh, cấu trúc, giải cấu trúc, hậu hiện đại… Dường như Việt Nam không chỉ có nhập mỗi rác thải hữu hình ông nhỉ!

    Cháu Kienngot

  3. Đọc mà buồn ghê anh ĐV ơi! Bôn trẻ gốc Việt hiện nay chúng dễ thương, nhưng dễ thương theo kiểu Âu Mỹ ( fair) gia đình biến thành gia đình hãt nhân( nuclear ) tuy còn theo cổ truyền sơ sơ thôi .. Về tôn giáo thì chúng bị/được lôi cuốn theo các tôn giáo Tây Phương . Cũng được đi , song độ vài thế hệ nữa thì dù da vẫn vàng nhưng tim óc thì đã bạch hóa cả rồi . Nhất là đám phụ nữ mới quá , ( nay thì đám phụ nữ đã quá lâu ở Âu Mỹ cũng học theo rồi ) thì hiện tượng WEndi Deng coi bộ phổ thông quá rồi .( google tên WEndi Deng thì rõ ). Xin chúc Anh vẫn sáng suốt minh mẫn , viết thêm nhiều bài nữa cho bà con xem . Mới đây Các Cô BS Sương & cô Nhuận có cho lên mạng chuyện Thi Kính xin hoan nghênh và thấy nên giới thiệu càng nhiều càng tốt, cho các lớp trẻ choai choai chứ lớp trẻ măng thì không biết ra sao đây. Bên VietNam ta thì có lẽ xin chào thua .

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s