Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu (tiếp theo)


Hai người anh xấu số

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xấp tàn y lại để dành hơi
——— Vua Tự Đức

Đào Viên

Thầy tôi – ở thế hệ chúng tôi, ngoài Bắc, nhiều người gọi cha mẹ mình bằng Thầy Mẹ hay Thầy U – có hai đời vợ. Người vợ lớn là người cùng làng với Thầy tôi (làng Yên Mẫn, tỉnh Bắc Ninh), đã qua đời trước khi anh chị em chúng tôi được sinh ra. Người này, mà tất cả anh chị em chúng tôi, khi nhắc tới, đều phải gọi là Mẹ Già, ngược lại với Cô Trẻ, là người vợ kế – không phải là vợ hai, hay vợ lẽ – của Thầy tôi, và cũng chính là mẹ ruột của chúng tôi.

Người vợ lớn chỉ có hai người con trai, là các anh Quảng và anh Dung. Tôi chỉ có một hình ảnh khá mờ mịt về hai ông anh này, vì các anh ấy đã lần lượt qua đời, khi tôi mới chỉ độ sáu bẩy tuổi. Họ hàng về bên Mẹ Già của tôi cũng không có bao nhiêu người. Mẹ Gìa chỉ có một người chị ruột, tên là Sử, thỉnh thoảng lặn lội từ Bắc Ninh sang Hà Nội thăm em mà thôi. Chúng tôi phải gọi người này, mỗi khi được nhắc tới, là Già Sử. Mẹ Già của chúng tôi rất quý Già Sử. Ngành vợ cả của Thầy tôi thế là tuyệt tự.

  1. Ông anh lớn

Quảng là người anh lớn, sinh năm 1913. Khi tôi bắt đầu hiểu biết thì anh Quảng đã đi làm ở xa, ít khi về nhà. Tôi được kể lại là khi đang chuẩn bị để thi lấy bằng Cán Sự về Xây Cất (Agent Technique des Bâtiments Civils), thì anh tôi đã xin được một việc làm cho hãng xe lửa, gọi là Công Ty Thiết Lộ Vân Nam (Compagnie des Chemins de Fer d’Yunnan). Nơi làm việc là Phố Mới, một thị trấn miền núi trên Lào Cai(1), gần biên giới Trung -Việt. Từ Lào cai sang Vân Nam, tỉnh phía nam của Trung Hoa, có thể đi ngựa sang được.

Đường xe lửa Công Ty Thiết Lộ Vân nam

Đường xe lửa Công Ty Thiết Lộ Vân nam

Công việc của anh tôi là đo đạc để làm đường xe lửa. Thỉnh thoảng anh tôi cũng về Hà Nội thăm nhà trong những ngày nghỉ lễ lớn. Hồi đó anh tôi chỉ độ khoảng 23, 25 tuổi, chưa có vợ, thuộc loại người hướng ngoại, ham vui, thích chơi bời du hý, tính tình phóng khoáng, khác hẳn với ông em là anh Dung, thuộc loại người hướng nội, hay suy nghĩ, trầm mặc, điềm tĩnh hơn.

Hai anh em, cùng một huyết thống, cùng cha cùng mẹ sinh ra mà tính tình bẩm sinh ra đã khác biệt rất nhiều, chắc chỉ có thể giải thích bằng thuyết nghiệp, đầu thai,  báo sinh tử luân hồi nhà Phật.

Tôi được kể là anh Quảng được Thầy tôi rất chiều. Anh ấy ăn mặc đỏm đang âu  phục; mùa rét mặc áo “măng tô” (manteau) vai long đình (có độn vai cho cao và ngang), đầu đội mũ phớt lệch, tóc nâu mắt nâu, trông rất đẹp trai. Thầy tôi còn cho anh tôi đi học tiếng Anh với một ông nghiên cứu sinh người Hàn quốc và học võ Thiếu Lâm, và cũng biết cả nhẩy đầm nữa. Anh ấy mượn về nhà cả một cái máy đánh nhịp (metrnome) để tập nhẩy cho nhuyễn. Thời đó những người như anh tôi hẳn được coi là một công tử Hà Nội tân thời.

Tôi chỉ nhớ mang máng là mỗi lần anh Quảng về chơi thì cả nhà vui

Đường phố tỉnh Bắc Ninh

lắm. Thầy tôi có nuôi mấy ông anh chú bác họ, từ Bắc Ninh sang Hà Nội đi làm, ở trong nhà. Anh Quảng tôi với mấy ông anh họ kéo nhau lên gác nói chuyện, phần lớn là về mấy cô con gái, cười hô hố với nhau. Các anh ấy đâu dám nói chuyện như thế trước mặt Thầy Mẹ tôi. Tôi cũng được kể là anh tôi với tính ham chơi, cũng rất mê gái, nhưng duyên phận chưa đến nên mọi chuyện chẳng đi đến đâu.

Gần nhà tôi có một cô nữ hộ sinh rất xinh đẹp đến mở một nhà hộ sinh. Anh tôi thấy vậy bèn nhờ u già gửi cho cô ta một bức thư nhưng không được trả lời. Trước mặt nhà tôi, bên kia đường là một căn nhà quét vôi mầu hồng. Trong nhà thấp thoáng cò hai cô con gái phấn son lượt là, có vẻ rất tân thời qua lại trong sân, sau hàng rào sắt. Thỉnh thoảng các cô mở cửa sắt ra mua quà mang vào ăn. Anh tôi mỗi lần về cũng lân la sang nói chuyện nhưng rồi cũng chẳng đi đến đâu. Trước khi để anh tôi lên Phố Mới làm việc, Thầy Mẹ tôi đã dự tính xin cưới một cô con gái của một người quen là một nhà mô phạm đã từng dậy học tại Yên Phong, mà việc cũng không thành.

Anh tôi có lẽ về nhà chơi nhiều lần mà cho đến nay, tôi không còn nhớ bao nhiêu, vì còn quá nhỏ. Chỉ có một lần tôi nhớ nhất. Lần đó, anh Dung tôi mới mất. Anh Quảng về đến nhà, mới được Thầy tôi báo cho biết. Thời đó, vào những năm thập niên 30, phương tiện giao thông liên lạc như điện thoại, điện tín, thư từ chưa phổ cập, không dễ dàng gì. Anh tôi đã chết lặng cả người. Anh lên gác, đứng trước ban thờ, trên đó có bức ảnh của người em xấu số và một ít đồ kỷ niệm của anh – mấy cây đàn, cây sáo…- nước mắt ràn rụa. Lần đó anh tôi về không thấy cười nói như mấy lần trước.

Thành phố Lào Cai vơí ngọn Fan Xi Pan

Thành phố Lào Cai voí ngọn Fan Xi Pan

Có lẽ đó là lần cuối cùng tôi gặp anh thôi thì phải. Anh Quảng tôi cũng mất theo, tại Lào Cai, một cách bất thình lình, không ai ngờ được.

Cái chết của anh Quảng đã tàn phá tâm hồn Thầy tôi không ít, bởi vì anh Quảng cũng là người con cuối cùng của người vợ trước, sau anh Dung, người em chết trước đó không lâu. Tôi không rõ tin dữ đã đến với gia đình tôi thế nào, dường như là có một bức điện tín của sở Hỏa Xa từ Lào Cai gửi về. Thầy tôi, chắc là buồn quá, chẳng muốn nhúc nhích, đi đâu cả. Thầy tôi đã phải nhờ một ông cháu rể là anh Chung, một trong mấy ông anh họ cùng làng cũng đang ở nhà tôi, đi lên Lào Cai, mang xác con về. Hồi đó anh chị em chúng tôi còn nhỏ quá, không đủ khôn lớn để làm việc này.

Anh Chung, mặc dầu chỉ là cháu rể của Thầy tôi (vợ anh là chị em thúc bá với tôi), đã được Thầy tôi quý và tin tưởng hơn các ông anh họ khác ở cùng nhà, có lẽ bởi vì anh Chung là người rất tốt bụng, tháo vát, ăn nói bặt thiệp, giao du rộng, bạn bè nhiều. Nhưng điểm chính yếu có lẽ là anh Chung, hơn các ông cháu khác, là anh Chung rất quý mến Thầy tôi, vì Thầy tôi đã giúp đõ anh ấy rất nhiều, khi anh ấy đã từ làng – không phải là làng tôi – ra Hà Nội để đi làm. Điều này đã được chứng tỏ sau này trong những năm loạn lạc trong cuộc chiến với người Pháp bắt đầu từ cuối năm 1946.

Anh Chung tôi lên Lào Cai bao giờ, bao lâu, làm gì, tôi không biết, không nhớ vì tôi còn nhỏ quá. Trong thời gian đó, tôi chỉ nhớ là Thầy tôi suốt ngày chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trong nhà, im lặng không nói câu gì, thỉnh thoảng lại lấy vạt áo thấm nước mắt. Cả nhà chìm đắm trong  bầu không khí ảm đạm. Các ông anh họ khác thì đươc Thầy tôi nhờ về Bắc Ninh để chuẩn bị ma chay chôn cất. Mặc dầu gia đình chúng tôi ở Hà Nội từ nhiều năm, mọi việc quan trọng vẫn được làm tại nơi chôn nhau cắt rốn, nơi mà đại gia đình họ Nguyễn, gồm có các Bác, các Chú, các Cô, các anh chị em chú bác, các cháu, vẫn còn ở đấy, và nếu không có những biến cố chính trị, có lẽ vẫn còn ở đó.

Xác của anh Quảng tôi được anh Chung đưa từ Lào Cai về trong một cái áo quan lớn, trên một toa xe lửa dành riêng. Sau này tôi được kể là áo quan đó có hai lớp. Lớp trong chứa xác người đã mất thì làm bằng chì, hàn kín lại để mùi của xác chết không xông ra ngoài. Trong lớp áo quan bằng chì này còn trải nhiều lớp than để hút các mùi hôi. Bên ngoài mới là áo quan bằng gỗ bình thường.

Xe đòn đám ma thời trước

Hôm ấy tôi có theo gia đình ra ga Hàng Cỏ (ga xe lửa tại Hà Nội) đón linh cữu và đi theo về Bắc Ninh, tại đó đã có sẳn những người của “nhà đòn” khiêng lên xe đòn đám ma, chở thẳng về nhà Bác Lý là ông anh cả của Thầy tôi, là nhà của đại gia đình, để từ đó chính thức làm tang ma cho anh tôi. Anh tôi được chôn tại một thửa ruộng trên đó đã có sẵn mộ của Mẹ Già và anh Dung tôi.

Tại sao anh Quảng đã lại mất sớm và trong trường hợp nào? Sau này, tôi có đặt những câu hỏi này với anh Chung. Anh Chung dường như cũng không biết rõ lắm. Khi lên đến Lào Cai để đưa xác em về, hẳn là anh Chung đã rất bận rộn với những việc như: làm giấy khai tử, xin phép đua xác về xuôi để chôn cất, thuê người khâm liệm, bỏ xác vào linh cữu, thu xếp với sở Hỏa Xa để đưa xác về Hà Nội, rồi về Bắc Ninh, xin phép các tỉnh trưởng cho được đem xác đi qua tỉnh, thu nhặt những tiền nong, đồ đạc của người quá vãng, và rất nhiều việc linh tinh khác. Vì vậy anh Chung tôi không còn nhiều thì giờ để điều tra chi tiết cái chết bất ngờ này. Anh tôi chỉ biết, theo người địa phương nói lại, thì ngày hôm trước anh Quảng tôi chẳng sao, ngày hôm sau thì đã chết.

Theo giấy khai tử của nhà thương cấp thì anh tôi đã mất vì bệnh “fièvre

bilieuse”. Anh tôi, với tính nết rất phong lưu đã từng vào “châu” (xóm làng của người Thổ(2), hay là người Tày địa phương) uống rượu “cần” với họ. Cái chết rất đột ngột của anh tôi đã đưa đến nghi vấn là anh tôi có thể bị “thư” – tức là một cách làm bùa chú của người Thổ – mà chết.

  1. Người anh thứ hai.

Hình ảnh tôi còn giữ lại được với người anh khác mẹ thứ hai, tương đối rõ rệt hơn. Có lẽ anh Dung tôi ở nhà, gần gũi với chúng tôi hơn anh Quảng, mặc dầu cũng chẳng được bao lâu. Anh Dung, sinh năm 1915, có dáng người thanh thanh, cao cao, hơi gầy. Tôi nhớ anh tôi suốt ngày hay mặc quần áo ta, mầu trắng, khác hẳn với ông anh thích mặc âu phục, chỉ ở trên gác, với rất nhiều sách vở, không thấy đi ra ngoài bao giờ. Có lẽ, hồi đó khi tôi bắt đầu hiểu biết thì anh tôi đả chớm bị bệnh lao phổi rồi chăng?

Tôi được kể lại là anh tôi học rất giỏi, thi đâu đậu đó. Đậu bằng Thành Chung(3)(Diplôme d’Études Primaires Supérieures Indochinoise) ngay khoá đầu. Hồi đó, dười thời Pháp thuộc, với tất cả những rào cản do người Pháp dựng lên để hạn chế người Việt đi học(4),, đậu được bằng Thành Chung là một thành công lớn lao, vì đại đa số mọi người chỉ mong đậu được bằng Thành Chung.Với tấm bằng Thanh Chung, người thanh niên đã có thể kiếm được một việc làm tốt, nhiều tiền và được mọi người gọi là ông Phán, về làng được mọi người kính nể.

Anh Dung thông minh, ham học. Có lẽ bởi cái tính ham học, ít ra ngoài, ít vận động mà anh tôi đã phải trả một cái giá quá đắt: anh tôi đã mắc bệnh lao phổi – một căn bệnh hiểm nghèo, thời đó coi như không thể chữa được – ở tuổi hoa niên, tương lai rực rỡ. Anh tôi mất khi mới có 22 tuổi.

Khi bệnh bắt đầu tàn phá và trở nên truyền nhiễm, Thầy tôi đã thu xếp cho anh Dung tôi về nhà quê ở, về nhà bác Ba tôi là người anh liền trên của Thầy tôi. Thầy tôi được mọi người gọi là ông Tư. Ở nhà quê, nhà bác Ba tôi, nhà cửa rộng rãi hơn, khí hậu mát mẻ trong lành hơn, đời sống có vẻ thanh nhàn hơn là ở Hà Nội, và nhất là anh tôi được sống riêng biệt, ít gặp mọi người, nên không truyền bệnh lao phổi cho người khác được.

Hồi đó tôi ở Hà Nội với gia đình, nhưng thỉnh thoảng vẫn theo các ông anh họ về Bắc Ninh chơi vào cuối tuần hay vào những ngày lễ. Các anh này, vì có gia đình bên Bắc Ninh – chỉ sang Hà Nội ở nhà ông Tư để đi làm – nên cứ cuối tuần, chiều thứ Bẩy là lấy vé xe lửa về nhà, để rồi sáng thứ Hai, hay tối Chủ Nhật lại sang Hà Nội đi làm.

Mỗi lần về Bắc Ninh là tôi đến bác Ba để gặp anh Dung. Vẫn dáng người cao cao gầy ấy, khuôn mặt mỗi ngày một vàng vọt, vẫn đôi mắt đen và to nhưng sâu thẳm, một vể buồn vô tận, cùng với một nụ cười héo hắt, vẫn bộ quần áo trắng ta trên một hình hài gầy guộc, anh tôi sống trong một căn phòng riêng khá rộng,

Tôi chỉ nhớ trong phòng kê một cái trõng lớn, một cái bàn nhỏ kê sát

Cái võng gai ở nhà quê

cửa sổ cuối phòng, và ngang phòng treo một cái võng gai mà anh tôi hay nằm trên đó, đu đưa. Dường như tôi đã được dặn dò là anh tôi đã mắc bệnh hiểm nghèo, không ở chung với mọi được, và không nên đến gần, nên mỗi lần về thăm anh tôi, tôi chỉ đứng ngoài cửa gọi anh, nói chuyện vớ vẩn.

Đúng hơn là để anh tôi hỏi chuyện. Hồi ấy tôi còn nhỏ quá, chỉ độ sáu bẩy tuổi, biết gì mà nói. Tôi đoán là anh tôi rất mừng khi thấy có người về thăm. Tôi nhớ có lần – anh tôi hồi đó đã đang ở những ngày tháng chót của cuộc đời – tôi thấy anh tôi lúc đó đang ngồi trên võng, thấy tôi đến, hỏi tôi:

-“Em đã về đấy à? Vào đây chơi với anh được không?”

Thấy tôi còn ngần ngừ chưa muốn vào, anh tôi thong thả đứng dậy, đi ra, nắm lấy tay tôi, kéo nhẹ vào phòng. Cảm thấy sự chống đối của tôi, anh tôi vẫn nắm lấy tay tôi mà hỏi rằng:

“Em không muón vào chơi với anh à?”

Ngưng một lúc anh tôi hỏi tiếp:

– “Em sợ anh hả? Em sợ anh truyền bệnh cho hả?  Thôi em đi ra ngoài kia chơi vậy”

Tôi nhìn lên ông anh thì thấy một nụ cười héo hắt trên môi, môt bộ mặt buồn bã. Anh tôi quay trở vào phòng, nằm trên cái võng gai, rôi vẫy tay ra hiệu cho tôi đi chơi chỗ khác. Không hiểu vì linh tính thấy đây là cuộc gặp mặt lần chót, hay vì thấy nét mặt thảm thương vô vọng của một người đang rất gần với ngưỡng cửa tử thần. tôi không nghĩ ngợi gì, chạy vào ôm chặt lấy anh tôi, không nói gì hết. Anh tôi cũng ôm lấy tôi một lúc, rồi đẩy nhẹ tôi ra. Sau đó tôi không bao giờ gặp lại anh tôi nữa.

Cái chết của anh tôi, mặc dầu ai cũng thấy là sẽ đến rất sớm, đã là một nỗi buồn rất lớn cho Thầy tôi, vì anh Dung có lẽ là đứa con được Thầy tôi quý nhất. Thầy tôi, về Bắc Ninh, suốt đêm ngồi uống trà trên một cái bàn kê gần với quan tài anh tôi, để hôm sau đưa đứa con đến chỗ an nghỉ cuối cùng.

Cái chết của anh Dung cũng đập mạnh vào trí tưởng tượng của tôi, một đứa bé mới sáu bẩy tuổi, khi thấy phòng anh tôi ở, vôi bột được rắc khắp nhà, một mầu trắng xóa trông rất ghê sợ. Tôi được giải thích là để trừ vi trùng, nếu có. Thời đó vôi bột được dùng để khử trùng rất nhiều.

Ngoài ra, các bác tôi cũng mời một ông thầy cúng về để làm lễ diệt trừ

Ông thầy cúng

tà ma quỷ quái. Nhiều người trong họ đã nghĩ là anh tôi đã bị yêu tinh bắt đi nên mới chết yểu như vậy. Bởi vậy phải đặt bùa chú khắp nơi trong nhà – gọi là yểm bùa – đặc biệt trong phòng anh tôi ở, để trấn át không cho yêu tinh ma quỷ về bắt thêm ai nữa.

Anh em chúng tôi, mỗi người được phát cho một cái bùa. Bùa làm bằng giấy bản, trên có viết mấy chữ nho đỏ chói. cuộn lại như một đoạn giây thừng nhỏ, đeo trong người, để trù ma quỷ, hay những con “trùng” khỏi bắt đi.

Mặc dầu đã có cái bùa hộ mang đeo trong người, tôi vẫn sợ lắm. Tôi đã được nghe lóm  người lớn kể những chuyện về “trùng” hiện thành con chim lửa, mỏ đỏ, tra khảo người chết, để lấy tên tuổi người nào sẽ bị chúng bắt đi tiếp, rồi “trùng” về gọi tên ngườ sắp bị bắt, “trùng” nhập vào người ấy là người ấy phải chết, vân vân… Những chuyện ấy ám ảnh tôi, một đứa bé trí óc còn non nớt, mãi nhiều năm sau này.

Tôi rất lo là anh tôi nằm một mình ngoài đồng, dưới lòng đất lạnh, có thể bị một con chim lửa to lớn, một con “trùng” mỏ đỏ, mổ túi bụi vào người, moi móc tim gan, để anh tôi phải khai ra tên một người khác trong gia đình cho nó bắt đi. Anh tôi, vì đau quá, có thể khai tên tôi ra thì tôi biết làm thế nào. Một thời gian sau mối lo sợ cũng nhạt dần đi, và kỷ niệm đáng sợ về một ông anh có tài nhưng xấu số đã được thay thế bằng những hình ảnh đẹp đẽ hơn.

Cây đàn Nhị

Cây đàn Nhị

Anh Dung, ngoài trí thông minh, học hành giỏi giang, còn có tinh thần nghệ sĩ. Anh tôi rất thích âm nhạc. Lục lọi chồng sách cũ cũa người, tôi thấy, và nay chỉ còn nhớ, có một quyển vở khá dầy, phải đến hai ba trăm trang, bỉa đỏ, trong đó chép toàn các bản nhạc.

Các dòng kẻ (portée) thì bằng mực đỏ, các nốt nhạc thì viết bằng mực tím, còn các lời nhạc thì viết bằng mực xanh, bài nài cũng như bài nào. Thời đó, ảnh hưởng Khổng giáo rất nặng, âm nhạc được coi là “xướng ca vô loài”, không những vô ích mà còn có hại vì làm cho tinh thần ủy mị. Rất ít người biết âm nhạc, lại đến nhạc lý Tây Phương thì hầu như chẳng ai biết. Có chăng là những người theo đạo Công giáo, học hát trong nhà thờ, và học âm nhạc với các vị cố đạo người Pháp trong nhà thờ Công giáo. Đó là trường hợp các vị nhạc sĩ người Nam có tiếng sau này như Lưu Hữu Phước, Nguyễn Thành Nguyên v.v…

Anh tôi học âm nhạc thế nào, học lấy hay học với ai, học lén Thầy tôi hay được người đồng ý, tôi không biết. Chỉ biết rằng anh tôi đã để lại một tập sách nhạc chép tay, rất công phu và một số nhạc khí, như một cây sáo đem, sáu lỗ khá dài, một cây đàn nhị, một cât đàn nguyệt và một cây đàn bầu. Những cây đàn này được đặt trên ban thờ, trước khung ảnh của anh tôi.

Tôi hồi đó chỉ độ bẩy tám tuổi nhưng bi hấp dẫn bởi cuón tập đó rất nhiều. Tôi đã để rất nhiều thì giờ đọc các bài hát trong đó mà phần lớn là các bài hát bằng tiếng Pháp (nhạc bằng tiếng Việt còn quá ít) mà tôi vẫn được nghe người lớn hát vài câu, hay qua những đĩa hát ở mấy tiệm làm bánh gần chợ Hôm vọng ra.

Nhiều bài tôi còn nhớ ít câu đến tận bây giờ. Những bài ca ngợi tình yêu lãng mạn rất thịnh hành những năm 1936-1940 như:

– J’ai deux amours, mon pays est Paris…

– Oh! Rose Marie, Marie…

– C’est à Capri que je l’ai rencontrée….

– Tant qu’il y aura des étoiles…  (Xin nghe dưới đây)

– Viens! Le soir descend. Et l’heure charmeuse.
Viens! Toi si frileuse, la nuit dejà comme un manteau s’etend…

Trong tập viết tay của anh tôi cũng thấy có chép ít bản nhạc bằng tiếng Việt, phỏng theo nhạc Pháp như:

Lá vàng hết rồi, chúa Xuân nay đã về, chim ca hát mừng, vang trong núi rừng…” phỏng theo nhạc Pháp là bài: “Chantons la Belle au bois dormant, qu’un prince réveille, tot en chantant…”

và một bản nhạc Việt chính thống của một thời đại xa xưa, mà đến bây giờ chẳng còn mấy ai nhắc đến nữa. Đó là bài “Bình Bán(5)”. Xin mời độc giả lắng nghe.

Tôi thích âm nhạc, có lẽ một phần là ảnh hưởng của di sản này của anh tôi, vì ngay từ nhỏ tôi đã được anh tôi đưa cho cái thìa khóa của thế giới âm thanh khi tôi mở cuốn sách đó ra, theo rõi các nốt nhạc trầm bổng, các tiết tấu nhịp nhàng nhanh chậm. Tôi đã hoàn toàn bị thu hút bởi  các nốt nhạc trong cuốn tập đó.

Tôi cũng mang mấy nhạc khí của anh tôi để lai, ra tập thử. Tập cây sáo

Cây đàn Bầu

ngang không thấy khó lắm. Thử gảy cây đàn bầu được mấy nốt. Đến khi kéo cây đàn nhị thì thấy quá khó, có tiếng như mèo kêu, tôi đành bỏ cuộc. Rất tiếc là anh tôi không còn để chỉ dẫn cho tôi về âm nhạc. Tôi đã phải tự tìm hiểu lấy một cách khó khăn. Điều đáng tiếc hơn nữa là vì thời cuộc, chiến tranh lan tràn, tất cả những kỷ niệm của anh tôi để lại đã không còn nữa.

__________________________________________________________________________________

(1) Vùng đất thị xã Lào Cai ngày nay xưa kia, có một khu chợ, dần dần người ta mở mang thêm một phố chợ. Vì thế phố chợ đầu tiên này theo tiếng địa phương được gọi là Lão Nhai (tức Phố Cũ). Sau này người ta mở thêm một phố chợ khác gọi là Tân Nhai (Phố Mới ngày nay). Theo cố giáo sư Đào Duy Anh, từ Lão Nhai được biến âm thành Lao Cai và được gọi một thời gian khá dài. Khi làm bản đồ, người Pháp viết Lao Cai thành Lào Kay. Danh từ Lào Kay đã dược người Pháp sử dụng trong các văn bản và con dấu. Nhưng trong giao tiếp và dân gian người ta vẫn gọi là Lao Cai.

(2) Tỉnh Lào Cai gồm hai châu Thuỷ Vỹ, Bảo Thắng và các đại lý Mường Khương, Phong Thổ, Bát Xát, Bắc Hà (Pa Kha) và thị xã Lào Cai, trong đó có 855 làng bản, 6.812 hộ, 39.099 nhân khẩu, với 11 dân tộc chủ yếu: Mông, Dao, Tày, Giáy… trong đó Người Tày hay Thổ chiếm kho ảng 20,77,

(3) Thành có nghĩa là  nên việc, kết quả. Chung có nghĩa la xong hết

(4) Người Pháp, để hạn chế số người Việt đi học, đặt ra thể lệ chỉ áp dụng ở Việt Nam là: Học sinh 6 tuổi mới được xin vào trường công. Học trò lớp Ba (cours Élémentaire) đủ 8 tuổi phải qua một kỳ thi gọi là kỳ thi Sơ Học Yếu Lược (Certificat d’Études Elémentaires). Chưa đủ 8 tuổi thì phải ở lại. Có đậu mới được lên lớp Nhì (cours Moyen I). Học trò Tiểu học bên Pháp không phải thi bằng này.

(5) “Bình Bán” là một thể nhạc có giai điệu đều (bình) nhau. Lời nhạc hồi đó rất thô sơ, do nhiều người đặt ra khác nhau. Thí dụ như bài hát Bình Bán Vắn sau:

  1. (Xuân) mừng xuân tốt (tươi)
  2. trắng đỏ (vàng) hoa nở khắp (nơi)
  3. nồng hơi (hương) sắc xinh khoe (màu)
  4. hoa đào càng (ưa) mùi lý kém (chi)
  5. Đó khóm (mai) này cúc đơm (bông)
  6. gió phất (phơ) đưa hường lay (động)
  7. Nhành (liểu) trên cành tha (thướt)
  8. Lan hải (đường) cùng lài đưa (xinh)
  9. bầy ong (chen) với bướm nhộn (nhàng)
  10. lần cành nhởn (nhơ) khắp trên muôn (hoa)
  11. Én lướt (bay) cùng liệng khắp (nơi)
  12. Đàn chim (hót) trên cành líu (lo)
  13. Đờn nhặt (khoan) đưa hơi thăng (trầm)
  14. Công líu (xê) công xê xang (xự)
  15. Xanh da (trời) một màu nước (biếc)
  16. một bầu phong (quang) đầy vẻ thắm (tươi)
  17. Mừng (xuân) ta đồng mừng (xuân)
  18. Xuân thanh (bình) đời đời mừng (xuân)
  19. Đầy tương (lai) hạnh phúc vẻ (vang)
  20. Với đất (nước) xuân mãi miên (trường)
  21. Giành tài (ba) quyết tâm vun (bồi)
  22. Sơn hà Việt (Nam) ngàn thuở xứng (danh)

____________________________________________________________

Tháng 4, 2011

3 responses to “Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu (tiếp theo)

  1. Khi nào nhận được Vườn Đào tôi đều say mê đọc ngay. Có bài hai ba lần, như bài ” Bà Kể Chuyện Ngày Xưa “. Hôm nay, đọc bài “Hai Người Anh Xấu Số”, tôi rất xúc động vì những tình tiết trong bài đã gợi lại trong tôi
    những hậu qủa đau buồn của chiến tranh :

    Mẹ tôi mất giữa tháng Tám năm 1975 tại Saigòn, trong lúc tôi đang tị nạn tại Fort Smith , Arkansas và trước đó hai người em kế, môt Chuẩn úy mới ra trường tử trận tai Long Thành và một Trung sĩ Không quân máy bay trực thăng bị bắn rớt tại Mộc Hóa tháng 7 năm 1972.

    Chuyện cảm động khác là về cái “bùa” cũng nhắc tôi tới bà Mẹ yêu qúy của tôi. Cuối năm 1973, tôi được Qũy Tiền Tệ Quốc Tế ( International Monatery Funds) tuyển chọn cùng với 23 chuyên viên của 23 quốc gia thành viên khác theo học một khóa huấn luyện dài 4 tháng về Chính Sách Tài Chánh Quốc Gia tại Washington DC. Trước khi ra phi trường Tân Sơn Nhứt để đi Mỹ, tôi kiểm soát lại giấy tờ trong ví thì thấy cái gì cồm cộm trong ví. Giở ra thi thấy cái “bùa”. Bà Mẹ tôi đứng bên cạnh, nói là Mẹ để vào ví của con để trừ tà ma. Tôi đã vui vẻ cháp nhận chứ không chống đối như mọi khi, vì cảm nhận được tình thương bao la của Mẹ. Cho tới bây giờ, tôi vẫn còn giữ cái ví đó làm kỷ niệm, nhưng cái “bùa” thì không còn nữa.

    Xin cám ơn ông đã cho tôi sống lại với những kỷ niệm thân thương.

  2. Tôi đọc hết bài Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu và nhớ lại thời còn nhỏ đi học ở Trường Léonet , nhớ các kỳ thi Sơ học yếu lược, và Cepci. Tôi cũng rất nhớ các bài hát anh gửi cho nghe do Tino Rossi hát, và vài bài khác, nhưng không nhớ bài Bình Bán( không biết sao mà anh còn các bài này thật là quý)

    Rất tiếc thời thơ ấu nay còn đâu ! “Mais où sont les neiges d’antan ? “(Francois Villon) . Câu chuyện anh kể về các ông anh cũng làm tôi nhớ hồi nhỏ tôi có ông anh mắc bệnh tim, khi anh mất đi thầy tôi cũng rất đau buồn, mà tôi thì còn nhỏ, chỉ thấy vui mỗi ngày chủ nhật được thầy tôi đưa đi thăm mộ ông anh.

    Bây giờ đã ngoài 80 rồi ! Thời gian sao mà đi mau quá !!!.

  3. Bài viết của Chú thật hay và lôi cuốn. Lời văn gọn gàng, trong sáng. Truyện kể thật hay . Cháu đã đọc một lèo cho đến cuối truyện.
    Kính quý,

    Cháu UPMN

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s