Hậu Đêm Giữa Ban Ngày


               The test of courage comes when we are in the minority;
               the test of tolerance comes when we are in the majority.

———-Ralph W. Sockman (1889 – 1970)

Đào Viên

Lời dẫn nhập – Biến cố Bát nhã, còn được gọi là Huyền sử Bát Nhã, đã xẩy ra hai năm trước đây. Đó là chuyện 400 tăng ni sinh đang tu tập yên ổn theo pháp môn Làng Mai của Thiền sư Nhất Hạnh tại chùa Bát Nhã, tỉnh Lâm Đồng, bỗng nhiên bị trục xuất một cách dã man ra khỏi chùa, ra khỏi tỉnh, bắt buộc phải trở về nguyên quán.

 Ba tăng sinh nạn nhân đã viết ra những gì họ chứng kiến, những trải nghiệm đau thương của các tăng ni sinh, trong một bài viết dài, có tên ← Đêm Giữa Ban Ngày… nhưng đã được Vườn Đào đăng tải trước đây.

 Câu chuyện tưởng như đã lắng chìm trong quên lãng..

 Cho đến khi WikiLeaks(1) – một tổ chức quốc tế chuyên làm chuyện dò rỉ những bí mật trong hậu trường chính trị nhiều quốc gia –  tung ra những điện tín trao đổi giữa Đại Sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam và Washington, người ta mới biết nhiều sự thật nhiều người chưa biết, nhiều điều dối trá nhiều người tưởng là thật, nhiều âm mưu có tính toán dự trù từ trước, và thông cảm được những khó khăn bất lực của rất đông người, ngoại quốc cùng Việt nam trong ngoài nước, có lòng từ tâm, muốn giúp đỡ kẻ khốn cùng mà không được. Đồng thời, người ta thấy rõ sự suy thoái và phân hóa trầm trọng của Phật giáo Việt Nam, cùng những nguyên do gây ra tình trạng này.

 Ngay sau khi xẩy ra biến cố Bát Nhã, nhiều người đã đặt câu hỏi:

  • tại sao nạn nhân lại là tăng ni sinh Bát Nhã tu tập theo Pháp môn Làng Mai?
  • tại sao họ đã tu tập tại đó từ bốn năm rồi sự cố lại xẩy vào thời điểm ấy (tháng 9, 2009) ?
  • sự cố xẩy ra có liên quan gì đến Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Pháp chủ Pháp môn Làng Mai không? Nếu có thì là những gì?

Nay với WikiLeaks(1), người ta đã có được những câu trả lời khá đầy đủ. WikiLeaks tung ra hai loại thông tin. Một loại là những điện văn bá cáo về biến cố Bát Nhã, sự trục xuất tăng ni sinh ra khỏi chùa bắt trở về nguyên quán. Loại kia liên quan đến Thiền sư Thích Nhất Hạnh trở về hoằng pháp tại Việt Nam.

 Vì tòa Đại sứ Hoa kỳ gửi nhiều bá cáo về Washington, với nhiều thông tin trùng hợp, nhắc lại nhiều thông tin trước, nên chúng tôi đã xắp xếp lại các thông tin ấy cho có thứ tự mạch lạc để quý độc giả dễ tóm thâu các sự kiện hơn. Bài viết được chia làm hai phần, tương ứng với hai loại thông tin cũa WikiLeaks.

***

Phần 1: Biến cố Bát Nhã

  1. Tóm tắt diễn biến:

 Bạo động đã xảy ra cho các tăng ni sinh tu tập theo pháp môn Làng Mai tại Bát Nhã vào ngày 27 và ngày 28 tháng Chín. Công an và một nhómngười địa phương hung hãn đã dùng bạo lực để trục xuất các tăng ni sinh ra khỏi tu viện Bát Nhã, tỉnh Lâm Đồng.

Theo giới thuyền thông và tường trình của những người tận mắt chứng kiến cuộc bạo hành, vào ngày 27 tháng 9, công an mặc thường phục và một nhóm người địa phương đã dùng bạo lực để ép buộc 150 tu sĩ rời khỏi tu viện, sau đó đập phá những đồ đạc và tài sản bên trong. Nhóm côn đồ và công an mặc thường phục này đã đánh hai vị thầy(2)đến bất

Một Thầy bị đánh bất tỉnh

tỉnh và lùa các thầy lên xe để chở ra khỏi tu viện. Vào ngày 28 tháng 9, công an lại tiếp tục dùng bạo lực để ép buộc 230 ni sinh rời khỏi tu việnvà đến tá túc tại một ngôi chùa gần đó.

Công an và nhóm côn đồ này đã lùa ép 150 tăng sinh ra ngoài trời mưa và tiến hành phá hủy đồ đạc và tài sản bên trong, đập phá các cửa sổ và đồ dùng, thiết bị trong khu nhà, đổ nước lên các thiết bị điện tử, trong đó có cả điện thoại di động và các máy tính xách tay mà các Tăng sinh sử dụng để liên lạc với giới truyền thông và với Tăng thân Làng Mai ở Pháp quốc

Khi công an bắt giữ hai vị thầy lớn thì một số thầy đã cố gắng ngăn công an lại bằng cách nằm xuống giữa đường không cho xe chạy. Hai vị thầy lớn(3) đã bị công an tra hỏi cho đến tối khuya, sau đó bị áp tải về lại nguyên quán của từng người là Nha Trang và Hà Nội. Vị thầy lớn ở Nha Trang cho biết rằng trong suốt thời gian tra hỏi, công an đã tìm mọi cách để ép thầy khai nhận rằng Làng Mai có dính líu đến “các hoạt động chống phá chính quyền”. Sau khi bị công an áp tải về nhà, vị thầy đó cho biết công an đã chụp ảnh thầy và cha của thầy, nói rằng để thờ ở nhà. Họ cũng khuyên thầy không nên “bôi đen lý lịch trong sạch” của mình và “đặt những người thân trong gia đình vào hoàn cảnh khó khăn”.

Theo các nguồn tin quốc tế cũng như các nhân chứng có mặt tại Bát Nhã khi xảy ra vụ việc, có khoảng từ 80 đến 150 thầy bị chính quyền áp tải lên xe và chở đi – các nguồn tin cho biết họ đã mất liên lạc với các thầy và không biết công an chở các thầy đi đâu. Một số thầy đã đi bộ 17 km dưới trời mưa để tìm chỗ tá túc tại một ngôi chùa ở thị xã gần đó. Một nhóm khoảng 230 sư cô và một số thầy đã bị công an trục xuất ra khỏi Bát Nhã vào ngày 28 tháng 9. Các nguồn tin cho biết công an đã

Quang cảnh tăng ni sinh bị trục xuất ra khỏi chùa

lùa số Tăng Ni sinh còn lại đến chùa Phước Huệ, ngôi chùa lớn nhất của thị xã.

Ngôi chùa Phước Huệ nơi các tu sinh đang nương náu sau khi bị trục xuất khỏi Bát Nhã cũng chỉ là nơi ở tạm thời vì một lần nữa họ lại bị buộc phải rời khỏi ngôi chùa này trước ngày 31 tháng 12. Trong thời gian tị nạn tại Phước Huệ, các tu sinh này phải chịu liên tiếp các hành động sách nhiễu, quấy phá .

Sau sự kiện Phái đoàn Liên minh châu Âu (EU) bị ngăn cản không được viếng thăm chùa Phước Huệ vào ngày 9 tháng 12, theo thông tin của Thượng Tọa Thích Viên Thanh,  Phó Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng, thì ngay cả một số các vị chức sắc trong Tỉnh hội cũng bị một nhóm người lạ mặt giả dạng người tu tấn công bằng những lời chửi rủa thô tục ngay trước cổng chùa Phước Huệ.

Trong khi đó công an vẫn tiếp tục theo dõi, giám sát các hoạt động của họ và đang ra sức kêu gọi người dân địa phương ký vào đơn đề nghị trục xuất các tu sinh này. 21 tăng ni sinh Bát Nhã đã bị cưỡng chế rời khỏi ngôi chùa mà họ đang tá túc về Khánh Hòa vào ngày 29 tháng 11; thêm 11 sư cô đã về tạm trú tại Huế.

Dư luận càng thêm bất bình khi việc phát hành “lá thư chia tay” của Tăng thân Bát Nhã, một ấn phẩm mang thông điệp của thương yêu trong đó Tăng thân chia sẻ về hai năm tu tập tại tỉnh Lâm Đồng cũng bị gây khó khăn. Một sư cô cho biết người chủ của cửa hàng photocopy đã bị đe dọa là sẽ bị phạt 50 triệu đồng và bị rút giấy phép kinh doanh nếu còn tiếp tục in ấn cho Tăng thân Bát Nhã.

Một người đáng tin cậy cho biết gần đây cô có đến thăm em gái của mình là một sư cô thuộc Tăng thân Bát Nhã hiện đang tá túc tại chùa Phước Huệ. Cô nói rằng công an hiện vẫn bí mật theo dõi mọi hoạt động của chùa từ một khách sạn ở phía bên kia đường. Họ cũng đồng thời thường xuyên vào chùa Phước Huệ để kiểm tra đăng ký tạm trú, tạm vắng của số người đang ở trong chùa.

Thầy Thích Thái Thuận trụ trì chùa Phước Huệ

Cũng theo nguồn tin này, công an cũng đang vận động người dân ở thị xã Bảo Lộc ký vào đơn kêu gọi Thượng tọa Thích Thái Thuận, Trụ trì chùa Phước Huệ trục xuất nhóm tu sinh Bát Nhã đang lánh nạn tại đây.

Lãnh đạo Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng đã xác nhận những thông tin đăng tải trên Internet về việc lãnh đạo chính quyền tỉnh Lâm Đồng đã yêu cầu Thượng tọa Thích Thái Thuận trục xuất các tu sinh tu tập theo pháp môn Làng Mai ra khỏi chùa Phước Huệ trước ngày 2 tháng 11.

Thượng tọa Thích Thái Thuận cho biết rằng Thượng tọa đã cùng ăn trưa và trao đổi với các quan chức địa phương. Buổi làm việc đó diễn ra trong không khí “thân mật”, vì các quan chức chính quyền cố gắng dùng biện pháp thuyết phục, vận động thay vì đe dọa nhằm thuyết phục Thượng tọa rằng “việc che chở cho các tu sinh Bát Nhã không phải là điều ích lợi cho chùa”.

Thượng tọa Thích Thái Thuận cũng xác nhận về việc công an thường xuyên vào chùa để kiểm tra cũng như việc viếng thăm của các đoàn cán bộ địa phương – nguyên quán của Tăng Ni sinh Bát Nhã – nhằm thuyết phục các tu sinh này rời chùa Phước Huệ để trở về địa phương.

Thầy Trụ trì chùa Phước Huệ cảm thấy không còn sự lựa chọn nào khác nên phải ký vào biên bản đồng ý trục xuất các tu sinh Bát Nhã trước áp lực từ phía công an, chính quyền địa phương cũng như áp lực từ phía các nhóm bạo hành.

Các tu sinh Bát Nhã có vẻ như đã chuẩn bị tinh thần để trở về địa phương.

  1. Về đâu?

Một số Tăng Ni sinh Bát Nhã cho biết rằng chính quyền địa phương đã tìm mọi cách để gây sức ép, buộc gia đình của các tu sinh này đưa con em của mình về lại địa phương. Họ gây khó khăn cho cuộc sống của các thành viên trong gia đình, trong đó có việc kêu gọi các chủ công ty không tiếp tục thuê thân nhân của các tu sinh Bát Nhã vào làm việc, hoặc đe dọa đến sự thăng chức của những thân nhân làm việc trong chính quyền.

Một vị thầy lớn trong Tăng thân Bát Nhã chia sẻ rằng anh trai của thầy là một thầy giáo, cũng đã bị buộc phải tham dự một cuộc họp mà tại đó, ban giám hiệu nhà trường chỉ trích và gọi Tăng thân Làng Mai cũng như các vị tôn túc thuộc giáo hội – những người đứng ra bảo lãnh Tăng thân Bát Nhã – là “những thành phần phản động tham gia chống chính quyền”.

Các tu sinh Bát Nhã cũng cung cấp thêm rằng công an địa phương đã dùng biện pháp cưỡng chế để trục xuất 21 Tăng Ni sinh tu tập theo pháp môn Làng Mai ra khỏi chùa Từ Đức, tỉnh Khánh Hòa vào ngày 29 tháng 11.

Chùa Từ Đức (Khánh Hòa)

Hành động trục xuất này được tiến hành bất chấp việc Thượng tọa Thích Giác Viên, Trụ trì chùa Từ Đức đã đồng ý bảo lãnh và đăng ký tạm trú cho 2 thầy và 19 sư cô. Chỉ 11 tu sinh có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Khánh Hòa được phép ở lại ngôi chùa này.

Thầy Pháp Sĩ – một vị thầy lớn trong Tăng thân Bát Nhã, đã bị công an áp tải về tỉnh Khánh Hòa sau khi bị trục xuất ra khỏi Bát Nhã – cho biết thầy hiện đang về ở cùng với cha mẹ tại Khánh Hòa, tuy nhiên công an địa phương thường xuyên đến nhà để yêu cầu thầy báo cáo về các hoạt động đi lại của mình.

Theo nguồn tin nhận được về ba vị thầy lớn bị bắt giữ tại Bát Nhã vào tháng 9, thầy Pháp Sĩ đã rời Việt Nam sang Pháp (trước đó thầy bị giam lỏng ở nhà riêng tại Nha Trang); thầy Pháp Tụ hiện đang ở Hà Nội, còn Thầy Pháp Hội vẫn đang phải ẩn lánh mặc dù thầy đã liên lạc với tòa Tổng lãnh sự Hoa Kỳ Thành phố Hồ Chí Minh qua điện thoại.

Ngoài các nhóm tu sinh tại hai tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa còn có 11 sư cô thuộc Tăng thân Bát Nhã hiện đang tạm trú tại chùa Từ Hiếu, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Các tu sinh Bát Nhã trong khi tá túc tại chùa Phước Huệ tỉnh Lâm Đồng đã đi cùng thầy trụ trì – Thượng tọa Thích Thái Thuận – tham gia cứu trợ thiên tai tại Huế, tuy nhiên, chính quyền Lâm Đồng đã cử người đi theo giám sát mọi hoạt động của họ trong suốt chuyến cứu trợ.

Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng ban đầu có công văn yêu cầu các tu sinh Bát Nhã chấm dứt tình trạng “tụ tập trái phép” tại chùa Phước Huệ, tỉnh Lâm Đồng trước ngày 30 tháng 11. Tuy nhiên, đến thời hạn quy định, Tỉnh hội đã không đưa ra một hành động chính thức nào để buộc các tu sinh rời khỏi Phước Huệ.

Theo thông tin nhận được, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đồng ý với đề nghị bảo lãnh Tăng thân Bát Nhã của Thượng Tọa Thích Minh Nghĩa, Viện chủ Tu viện Toàn Giác tại Đồng Nai và Thượng Tọa Thích Viên Thanh, Viện chủ Tu viện Vạn Hạnh tại Đà Lạt. Đơn bảo lãnh đã được gửi trình lên Ban Tôn giáo Chính phủ để xin ý kiến.

Tuy nhiên, theo nguồn tin từ Tăng thân Làng Mai thì ít có hy vọng Ban Tôn giáo Chính phủ sẽ chấp thuận các đề nghị bảo lãnh này, bởi vì họ không nghĩ rằng chính phủ Việt Nam muốn thấy sự có mặt của một tăng thân xuất sĩ đông đảo không thuộc sự quản lý của Giáo hội Việt Nam, lại phổ biến rộng rãi những phương pháp tu tập mới nằm ngoài khuôn khổ pháp luật về tôn giáo của Nhà nước.

Dưới đây là một đoạn tin video về tình hình các tu sinh Bát Nhã sau khi bị trục xuất khỏi tỉnh Lâm Đồng với những ý kiến “không có ý kiến” hay “không biết” của Tỉnh Hội Phật Giáo Lâm Đồng và những người liên can.

Một vị thầy nêu thêm một lý do nữa, đó là Thượng tọa Thích Minh Nghĩa không có hộ khẩu thường trú tại Đồng Nai và tu viện Toàn Giác không được công nhận là một cơ sở chính thức trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Trước yêu cầu phải rời chùa Phước Huệ trước ngày 31/12 của chính quyền Việt Nam, nhiều Tăng Ni sinh Bát Nhã đã buộc phải xin tị nạn tại Thái Lan. Các tu sinh Bát Nhã cho biết 30 sư thầy và 80 sư cô âm thầm rời Phước Huệ theo từng nhóm nhỏ và đã sang đến Pakchong, gần thủ đô Băng-Cốc, Thái Lan.

Các tu sinh này hiện đang tá túc tại nhà của một Phật tử thuần thành tu tập theo pháp môn Làng Mai, người này có ý định xây dựng một tu viện theo kiểu Làng Mai tại Thái Lan với sự yểm trợ của Tăng thân Làng Mai tại Pháp quốc.

Theo nguồn tin mà Tổng lãnh sự nhận được từ Tăng thân Làng Mai thì tất cả số tu sinh này đều có giấy tờ tùy thân hợp lệ nhưng chỉ vào Thái Lan dưới hình thức khách du lịch (các công dân Việt Nam có thể được cấp visa du lịch tại cửa khẩu với hiệu lực trong 30 ngày). Nguồn tin cho biết các tu sinh Bát Nhã cảm thấy hạnh phúc khi có thể tiếp tục tu tập cùng nhau như một Tăng thân tại Thái Lan và sẵn sàng đi bất kỳ nơi nào mà họ được phép tu tập một cách hợp pháp như một Tăng thân.

3. Tổng Lãnh Sự Hoa kỳ can thiệp

Từ tháng 6 cho đến cuối năm 2009, Ngài Đại sứ và cán bộ Đại sứ quán Hoa Kỳ đã liên tục có các cuộc gặp gỡ và làm việc với các quan chức của Bộ Ngoại giao, Bộ Công An và Ban Tôn giáo Chính phủ, cũng như với các quan chức tỉnh Lâm Đồng nhằm lên tiếng phản đối các hành động bạo lực tại Bát Nhã và kêu gọi Chính phủ Việt Nam giải quyết vụ việc một cách hòa bình theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Tại cuộc

Thứ trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh

gặp với Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh , Ngài Đại sứ Hoa Kỳ một lần nữa bày tỏ quan ngại trước tình hình Bát Nhã và cảnh báo rằng cách xử lý của Chính phủ Việt Nam có nguy cơ làm lu mờ những tiến bộ mà chính quyền Việt Nam đã đạt được trong các lĩnh vực khác.

Cán bộ Tổng lãnh sự Hoa Kỳ cũng đã đến thăm tỉnh Lâm Đồng vào tháng 11 để gặp gỡ và làm việc với lãnh đạo địa phương cũng như với lãnh đạo Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng và các tu sinh thực tập theo pháp môn Làng Mai nhằm tìm ra hướng giải quyết cho vấn đề Bát Nhã.

Các cuộc gặp gỡ tiếp sau đó vào tháng 12 tại Hà Nội với các quan chức của Bộ Công An và Ban Tôn giáo Chính phủ cũng không tác động được gì đến sự thay đổi chính sách của chính quyền Việt Nam, thay vào đó chỉ nhận được những luận điệu thủ cựu của chính quyền. Những nỗ lực của các quan chức đại diện Phái đoàn EU tại Việt Nam cũng chỉ nhận được những kết quả đầy thất vọng tương tự.

Tòa Tổng lãnh sự Hoa Kỳ đã xin phép các cơ quan hữu quan về chuyến thăm Lâm Đồng từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 12 nhằm gặp gỡ và làm việc với tất cả các bên liên quan đến vụ việc Bát Nhã.

Bộ Ngoại giao Việt Nam đã bác bỏ yêu cầu của Tổng lãnh sự Hoa Kỳ về việc đến thăm khu vực xảy ra bạo động, với lý do Lâm Đồng nằm ngoài địa phận lãnh sự của Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong cuộc gặp ngày 12 tháng 12 với ông Trần Việt Hùng, Phó Trưởng Ban chỉ đạo phụ trách khu vực Tây Nguyên tại tỉnh Đắc Lắc, ông Poloff, Tổng lãnh sự Hoa kỳ, đã lên tiếng bày tỏ sự quan ngại về tình hình đang diễn ra với các tu sinh đang tu theo pháp môn Làng Mai hiện đang lánh nạn tại chùa Phước Huệ.

Ông cũng đồng thời đề cập cụ thể những vấn đề mà Phái đoàn Liên Hiệp Âu Châu gần đây đã chứng kiến khi cố gắng tiếp xúc với Thượng tọa Thích Thái Thuận và các tu sinh Bát Nhã.

Ông Trần Việt Hùng đã được báo cáo đầy đủ trước đó về tình hình Bát Nhã nên ông gần như trích dẫn lại y hệt những luận điệu mà Bộ Ngoại giao và Bộ Công An đã tuyên bố trước đó, rằng vấn đề Bát Nhã chỉ là “tranh chấp trong nội bộ Phật giáo”.

Ông Hùng cũng đề cập đến những trao đổi với các quan chức của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về chủ đề này trong chuyến thăm Hoa Kỳ vào tháng 11 vừa qua theo chương trình VOLVIS(5). Ông khẳng định rằng giải pháp duy nhất có thể vào thời điểm này cho vấn đề Bát Nhã đó là các Tăng Ni sinh Bát Nhã phải trở về nguyên quán và cư trú tại các ngôi chùa địa phương trực thuộc Giáo hội Việt Nam.

Bà Marie-Louise Thaning (ngồi giữa)

Vào ngày 14 tháng 12, Bà Marie-Louise Thaning, Tham tán chính trị của Đại sứ quán Thụy Điển tại Hà Nội – người đã dẫn đầu Phái đoàn Liên Hiệp Âu Châu đến thăm tỉnh Lâm Đồng – nói rằng bà thực sự bị “sốc” trước sự bạo hành của nhóm côn đồ, làm gián đoạn cuộc gặp gỡ giữa Phái đoàn Liên Hiệp Âu Châu với vị Trụ trì chùa Phước Huệ vào tuần trước.

Bà Thaning cho biết vấn đề Bát Nhã là chủ đề chính trong cuộc Đối thoại Nhân quyền thường kỳ (hai lần trong một năm) giữa Việt Nam và EU diễn ra vào ngày 11 tháng 12, ngay sau chuyến đi thực tế tại Lâm Đồng của phái đoàn EU. Bà Thaning nói rằng Phái đoàn EU delegation đã nhấn mạnh về nghị quyết gần đây của Hội đồng Châu Âu trong đó chỉ trích những hành động của Việt Nam đối với các tu sinh tu tập theo pháp môn Làng tại Bát Nhã và yêu cầu Chính phủ Việt Nam kiềm chế trong việc giải quyết tình hình Bát Nhã.

Ông Bùi Hữu Dược cải chính

Vào ngày 14 tháng 12, Đại Sứ quán Hoa Kỳ đã có cuộc gặp với Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế Đặng Tài Tính và Vụ trưởng Vụ Phật giáo Bùi Hữu Dược thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ để bàn về tình hình đang diễn ra tại Bát Nhã.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi ông Dược trình bày về vụ việc Bát Nhã như là một “tranh chấp giữa các phe phái trong nội bộ Phật giáo”.

Đại sứ quán ghi nhận những lời trình bày của ông Dược và đề cập đến việc gần đây Ban Tôn giáo Chính phủ đã bác bỏ đề nghị bảo lãnh Tăng thân Bát Nhã của hai chùa trực thuộc Giáo hội tại Đồng Nai và Lâm Đồng. Như vậy nếu nói vấn đề Bát Nhã chỉ đơn thuần là tranh chấp trong nội bộ Phật giáo thì tại sao Ban Tôn giáo Chính phủ lại can thiệp vào khi Giáo hội cố gắng giải quyết vấn đề này một cách ôn hòa.

Ông Vụ trưởng Bùi Hữu Dược thay đổi chiến thuật liền lập tức, khẳng định rằng Làng Mai đã vi phạm pháp luật Việt Nam khi không xin phép Ban Tôn Giáo Chính phủ trước khi xây dựng trung tâm tu học tại Bát Nhã, bổ nhiệm phó trụ trì không thông qua Giáo Hội, không đăng ký tạm trú tạm vắng đầy đủ cho các tu sinh theo quy định của pháp luật, mở giới đàn thụ giới không thông qua Ban Tôn giáo Chính phủ.

Ông Dược nói thêm rằng “nếu chúng tôi để Tăng thân Làng Mai vi phạm pháp luật như vậy mà không có biện pháp xử lý thì các tôn giáo khác cũng sẽ làm theo như vậy.” Ông cũng đồng thời nhấn mạnh rằng “đạo” Làng Mai có cách sinh hoạt rất khác so với Giáo hội Phật giáo Việt Nam vốn được chính quyền hậu thuẫn, trong đó có việc cho phép tăng ni sinh ngồi thiền, tụng kinh cùng với nhau, một chuyện được coi là rất “tai tiếng” đối với các Phật tử ở đây.

Đại sứ quán lưu ý rằng các tu sinh tu tập theo pháp môn Làng Mai đã hoạt động rất tích cực ít nhất là trong 4 năm qua, và rằng Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã được đón tiếp rất trọng thể bởi Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng như nhiều lãnh đạo cao cấp khác của Nhà nước Việt Nam.

Ông Dược đã không trả lời về điều này, thay vì vậy ông quay sang chỉ trích về các thông tin “chống lại Nhà nước” được đăng tải trên trang “Phù Sa” mà ông cho là do sự chỉ đạo của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Cho rằng những đánh giá, nhận định của chính quyền Việt Nam đối với Thiền sư Thích Nhất Hạnh còn bị tác động từ góc độ chính trị, ông Dược còn trích dẫn thêm một lá thư của Thiền sư gửi Chủ tịch Nguyễn Minh Triết (lá thư này lẽ ra không được phổ biến nhưng sau đó lại được đăng tải trên mạng Internet). Trong lá thư đó, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đưa ra kiến nghị về việc “xóa bỏ Ban Tôn giáo Chính phủ, Công an Tôn giáo” và bỏ từ “Xã hội Chủ nghĩa” ra khỏi tên nước.

Ông Bùi Hữu Dược nhắc lại những luận điệu đã được đề cập trước đó rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã nhiều lần đề nghị gặp Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại Pháp nhưng những cố gắng đó đều không được đáp lại. Ông cũng tự hỏi không hiểu vì sao không có ai trong ban lãnh đạo của Làng Mai đến gặp Ban Tôn giáo Chính phủ để trao đổi về những vấn đề đang diễn ra tại Bát Nhã.

Cán bộ Đại sứ quán đã hỏi ngược lại vậy ông Dược có liên lạc với chính quyền tỉnh Lâm Đồng khi biết tin bạo hành mới bắt đầu diễn ra với các tu sinh Bát Nhã từ hồi tháng 6 không? Ông có liên lạc với Bộ Thông tin và Truyền thông để làm rõ sự việc khi báo Công an nhân dân – cơ quan ngôn luận của Bộ Công an – đăng tải những bài báo có tính chất xuyên tạc, vu cáo Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai không? Ông có gọi điện cho Bộ Công an để tìm hiểu tại sao lại có sự dính líu của công an mặc thường phục trong các vụ bạo hành và trục xuất các tu sinh tại Bát Nhã ra khỏi tu viện?

Không có gì đáng ngạc nhiên khi ông Dược không trả lời được những câu hỏi đó.

  1. Chính quyền Việt Nam giải thích sự kiện Bát Nhã.

 Nhằm làm lắng dịu những quan ngại về tình hình Bát Nhã, các quan chức Bộ Ngoại giao, đại diện Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng và Ban Tôn Giáo Chính phủ đã mở cuộc họp báo vào ngày 11 tháng Giêng tại Hà Nội.

Buổi họp báo hầu như không cung cấp thêm được các thông tin mới nào. Các quan chức đại diện chính quyền chỉ trình bày lại dòng sự kiện kèm theo đó là các công văn cụ thể liên quan đến các sự kiện đó.

Mục đích chính của cuộc họp báo là cố gắng làm giảm thiểu sự liên can của chính quyền trong sự kiện Bát Nhã. Bộ Ngoại giao Việt Nam luôn khẳng định quan điểm nhất quán của mình rằng các xung đột tại Bát Nhã chỉ là vấn đề tranh chấp nội bộ giữa các nhóm Phật giáo và rằng việc cho phép các tu sinh tu tập theo pháp môn Làng Mai được ở lại Bát Nhã chỉ là tạm thời.

Các quan chức chính quyền vẫn một mực tuyên bố rằng Nhà nước không hề can thiệp vào vụ việc Bát Nhã, tuy nhiên chính quyền vẫn giám sát tình hình một cách chặt chẽ cho đến khi Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng yêu cầu chính quyền can thiệp nhằm giúp bình ổn tình hình.

Chính phủ Việt Nam đã đổ trách nhiệm lên Thiền sư Thích Nhất Hạnh khi tuyên bố rằng Đại sứ quán Việt Nam tại Paris đã liên tục đề nghị đối thoại với Thiền sư về vụ việc Bát Nhã nhưng đã không được đáp ứng. Các quan chức chính quyền một lần nữa phủ nhận những hành động bạo lực xảy ra đối với tu sinh Bát Nhã mà lẽ ra những hành vi này phải bị truy tố trách nhiệm hình sự.

Chính quyền vẫn một mực tuyên bố rằng 190 tu sinh Làng Mai phải trở về nguyên quán và đăng ký với chính quyền địa phương theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Theo thông tin từ buổi họp báo, 42 Tăng Ni sinh Bát Nhã đã trở về Huế; số tu sinh còn lại vẫn chưa biết sẽ đi về đâu.

Những điều mà chính quyền tuyên bố hoàn toàn không đúng với sự thật, đó là theo nguồn tin từ phía Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng. Theo nguồn tin này, Phật tử ở nhiều địa phương rất cảm thông với Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng và mong muốn yểm trợ nhưng hầu hết đều bị ngăn cản.

Thượng Tọa Thích Viên Thanh, Chánh đại diện Phật giáo Lâm Đồng

Thượng Tọa Thích Viên Thanh cho biết Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng đã có thư thỉnh nguyện gửi lên Chính phủ, Ban Tôn giáo Chính phủ và Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng như các cấp chính quyền tỉnh Lâm Đồng vào ngày 18 tháng 12, trong đó đề nghị xử phạt thích đáng đối với những cá nhân có hành vi quấy phá và hành hung các tu sinh Bát Nhã tại Phước Huệ trong những ngày mùng 10, 11 và 14 tháng 12.

Thượng tọa cũng cho biết không ít các thành viên trong Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng sẽ rời khỏi Giáo hội – vốn nằm dưới sự quản lý và chỉ đạo của Chính phủ – nếu đơn thỉnh nguyện này bị từ khước.

  1. Nhận xét của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ.

Vụ việc liên quan các tu sinh Bát Nhã tu tập theo pháp môn Làng Mai có vẻ như đã đi đến hồi kết. Chính quyền Việt Nam dường như đã giành phần thắng với sự ngoan cố và những thủ thuật của mình.

Tuy nhiên cái giá mà chính quyền Việt Nam phải trả cho chiến thắng này là sự mất uy tín của chính quyền với cách hành xử hết sức nhẫn tâm và không chính đáng – cho dù chính quyền đã cố gắng biện minh cho những hành động của mình trước giới truyền thông quốc tế và ngoại giao đoàn.

Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng vốn dễ bị kiểm soát và chỉ đạo hiện rất đau buồn trước kết cục này. Phật tử ở các nơi như Hà Nội, Huế và nhiều địa phương khác cũng bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với Tỉnh hội.

Cũng như trong các vụ việc khác (gần đây là vụ Đồng Chiêm), cách hành xử có tính “tự kỷ ám thị” với những mệnh lệnh, chỉ thị và kiểm soát đã khiến cho một sự việc tranh chấp nhỏ cũng bị thổi bùng lên thành một sự kiện lớn, gây thêm nhiều tổn hại cho uy tín của chính quyền.

Dưới đây là một đoạn video nói về phản ứng của cơ quan Nhân Quyền quốc tế đối với những hành xử của chính quyền Việt Nam trong vấn đề trục xuất tăng ni sinh tu tập theo Pháp môn Làng Mai ra khỏi tỉnh Lâm Đồng

Tài liệu tham khảo:

***

Phần hai:  WIKILEAKS:

Thiền Sư Nhất Hạnh  từng phê phán chính quyền

1. Phía sau hai chuyến đi Việt Nam

Trong hai chuyến đi Việt Nam năm 2005 và 2007, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, khi gặp riêng giới lãnh đạo Việt Nam, đã có những lời phê phán bộc trực và đề nghị thay đổi cho Việt Nam, nhưng mọi cố gắng này đều thất bại, và ông không gặt hái được kết quả gì trừ quyền được phát hành sách rộng rãi. Ðó là những gì được tiết lộ trong hai công điện của đoàn ngoại giao Hoa Kỳ tại Việt Nam, trong vụ WikiLeaks.

Năm 2005 là lần đầu tiên Thiền Sư Nhất Hạnh trở về Việt Nam sau gần 40 năm. Lần đó cũng không phải là lần đầu tiên ông muốn về. Năm 1999, ông từng đề nghị với nhà nước Việt Nam để về thuyết pháp, nhưng chuyến đi bị hủy bỏ.

Chuyến về của ông cùng một đoàn Phật tử, học trò 200 người năm 2005, kéo dài hai tháng rưỡi, được báo chí trong nước cũng như giới truyền thông quốc tế loan tin rộng rãi. Trong một cuộc gặp mặt riêng với Ðại Sứ Mỹ Michael Marine, Thiền Sư Nhất Hạnh tiết lộ những điều không thấy trong những buổi sinh hoạt công khai, và những tiết lộ này được báo cáo từ Hà Nội về Bộ Ngoại Giao trong một công điện đề ngày 31 tháng 3, 2005

2. Phật Giáo bị ‘chia rẽ’

Trong cuộc gặp gỡ này, Thiền Sư Nhất Hạnh tiết lộ là chuyến đi năm 1999 bị hủy bỏ do phía ông. Nhà nước Việt Nam muốn đặt áp đặt lịch trình và muốn ông về với tư cách khách mời của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), tức giáo hội được chính quyền công nhận, và ông không đồng ý.

Hòa thượng Thích Thanh Tứ được Huân chương Nhà Nước

Hòa thượng Thích Thanh Tứ được Huân chương Nhà Nước

Khác với năm 1999, trong chuyến đi năm 2005, ông đòi nhà nước CSVN hai điều kiện: Ông có thể đi bất cứ đâu trong nước Việt Nam, và sách của ông được tự do phát hành. Ðiều này ông đã thực hiện được; 10,000 bản của cả 12 bộ sách của ông đã bán hết trong chuyến đi này.

Thiền Sư Nhất Hạnh cũng cho rằng chuyến đi của ông là một sự thành công vì ông trực tiếp thuyết pháp được cho hơn 200,000 người và giúp gầy dựng lại lòng tin vào Phật pháp.

Thiền Sư Nhất Hạnh miêu tả tình hình Phật Giáo Việt Nam là “chia rẽ trầm trọng.” Mặc dù Phật tử được tự do thờ phượng, “sức khỏe chung của giáo hội rất tồi,” và ông cho rằng lý do là vì chính quyền can thiệp vào việc nội bộ của giáo hội.

Ông miêu tả sự can thiệp này gồm hai mặt.

Một, Thiền Sư Nhất Hạnh nói có nhiều tăng ni được đặt vào vị trí lãnh đạo Phật Giáo “vì lý do chính trị,” và ngược lại các vị đại diện GHPGVN thì “hành xử như công chức nhà nước”.

Hai, GHPGVN, theo Thiền Sư Nhất Hạnh, lệ thuộc vào nhà nước Việt Nam về tiền bạc cũng như để được cho phép làm một số việc, chẳng hạn gửi tăng ni đi tu học ở ngoại quốc.

Sự lệ thuộc này “làm người dân chán nản” đạo Phật. Thiếu tâm linh, xã hội suy đồi. “Bể khổ giữa các thế hệ rất là lớn. Người trẻ không còn tin vào hạnh phúc gia đình,” Thiền Sư Nhất Hạnh nói vậy.

3. Gặp Thủ tướng, chỉ trích chế độ

Nhưng Thiền Sư Nhất Hạnh dành những lời chỉ trích nặng nề nhất cho nhà cầm quyền.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh gặp Chủ tịch Nhà nước

Hôm trước ngày gặp đại sứ, Thiền Sư Nhất Hạnh gặp Thủ Tướng Phan Văn Khải trong vòng một tiếng rưỡi. Thủ Tướng Khải kêu gọi ông giúp tạo sự thống nhất trong dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, Thiền Sư Nhất Hạnh trả lời là người Phật tử, thay vì tìm sự thống nhất, cần tìm “tình huynh đệ,” và họ có thể nằm trong các nhóm chính trị khác nhau nhưng không đấu đá lẫn nhau.

Ông kêu gọi ngược lại, nói với Thủ Tướng Khải, rằng “người cộng sản nên trở thành người Việt Nam hơn” và chấp nhận những giá trị truyền thống. Nếu không, chính trị sẽ “phá sản” và đảng Cộng Sản sẽ mất sự ủng hộ. Ông kêu gọi Thủ Tướng Khải tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị.

Tăng ni không thể bị bắt tham gia Quốc Hội hay Hội Ðồng Nhân Dân,” Thiền Sư Nhất Hạnh nói với Thủ Tướng Khải. “Giáo hội không thể bị bắt tham gia vào Mặt Trận Tổ Quốc.

Ông trao cho Thủ Tướng Khải một bản yêu cầu 7 điểm, và ông trao cho Ðại Sứ Marine một bản sao. Trong số đó, có đề nghị “tăng ni không giữ chức vụ chính quyền hoặc nhận bằng khen từ nhà nước” ; hai hòa thượng “Thích Huyền Quang và Thích Quảng Ðộ phải có quyền tự do đi lại, thuyết pháp khắp nước;” và Phật Giáo không bị “ảnh hưởng chính trị trong nước và hải ngoại”.

4. Thất bại khi muốn gặp gỡ Hòa Thượng Huyền Quang

Trong lần trở về năm 2005, Thiền Sư Nhất Hạnh dự định gặp Hòa Thượng Thích Huyền Quang, lúc đó còn sống và là vị tăng thống thứ tư của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, một giáo hội không được nhà nước công nhận. Hai người từng là đồng tác giả cuốn “Ðạo Phật áp dụng vào đời sống hàng ngày: Cương lĩnh giáo lý nhập thế của Phật Giáo Việt Nam hiện đại” do Viện Hóa Ðạo xuất bản năm 1973.

Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ đã không xảy ra. Thiền Sư Nhất Hạnh đã đến Thanh Minh Thiền Viện tìm gặp Hòa Thượng Quảng Ðộ, và đi Bình

Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang

Ðịnh muốn gặp Hòa Thượng Huyền Quang, nhưng cả hai đều từ chối.

Phía GHPGVN giải thích lý do hai bên không gặp được nhau một cách rất đơn giản. Họ nói với nhân viên tòa đại sứ, “Thích Quảng Ðộ muốn chuyến đi thăm được xem là chính thức và được ghi vào lịch trình của chuyến đi Việt Nam.” Trong khi đó, họ nói Thiền Sư Nhất Hạnh chỉ muốn thăm với tư cách cá nhân.

Tuy nhiên, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đưa ra lý do quan trọng hơn, được giải thích trong một bức thư của thượng tọa Thích Viên Ðịnh, trong đó có đoạn viết: “Có điều không biết vô tình hay cố ý, ngài về nhằm vào thời điểm rất tế nhị, có thể bị hiểu là ngài đã bị thế gian lợi dụng để tuyên truyền, làm đẹp cho chế độ.”

Bức thư này được Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế (IBIS) ở Paris, do ông Võ Văn Ái làm giám đốc, loan tải. Vì lý do này và vì nhiều lời tuyên bố khác của ông Ái, đoàn phụ tá của Thiền Sư Nhất Hạnh tỏ thái độ bất bình với IBIS.

Người phụ tá tín cẩn nhất của Thiền Sư Nhất Hạnh, sư cô Chân Không, nhắc lại với Ðại Sứ Marine một câu nói mà sư cô cho là bị trích dẫn sai, rồi sau đó bị IBIS nêu lên trên các bản tin.

Trong một cuộc phỏng vấn với thông tấn xã AFP của Pháp, sư cô Chân Không được hỏi lý do tại sao một số tổ chức tôn giáo ở Việt Nam bị cấm hoạt động. AFP ghi câu trả lời như sau: “Vì một số các giáo hội này tàng trữ những lá cờ của chế độ cũ. Còn chúng tôi, thì chúng tôi chẳng có một tham vọng chính trị nào cả.”

Sư cô nói với Ðại Sứ Marine là câu đó bị ghi sai, và ý của sư cô là, “Khi ở hải ngoại dùng cờ vàng để ủng hộ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, điều đó khiến cho chính quyền xem giáo hội này là tổ chức chính trị thay vì tôn giáo.

Trong lần thứ nhì trở về Việt Nam năm 2007, đoàn phụ tá của Thiền Sư Nhất Hạnh có họp với nhân viên tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, và họ cho rằng những phát ngôn của ông Ái đã đầu độc không khí ngay giữa lúc Thiền Sư Nhất Hạnh và Hòa Thượng Huyền Quang đang tìm cách chấp thuận một giải pháp để gặp gỡ nhau.

5. Bị cấm cầu siêu cho thuyền nhân, tù cải tạo

Cũng trong lần thứ nhì trở về Việt Nam, Thiền Sư Nhất Hạnh dự định tổ chức ba buổi cầu siêu tại Sài Gòn, Huế, Hà Nội cho mọi nạn nhân chiến cuộc. Tuy nhiên, khác với lần thứ nhất, lần này, chính quyền cứng rắn hẳn lên và gây nhiều khó khăn cho buổi cầu siêu.

Phật tử, Tăng Ni cung nghinh Thiền Sư Nhất Hạnh lập Trai Đàn Chấn Tế tại chùa Vĩnh Nghiêm

Những trục trặc này được ghi lại trong một công điện của tổng lãnh sự ở Sài Gòn, đề ngày 21 tháng 3, 2007, sau cuộc gặp mặt với phó tổng lãnh sự và tham tán chính trị.

Theo lời Thiền Sư Nhất Hạnh, ba buổi cầu siêu này dự trù cho mọi nạn nhân đã “thiệt mạng vô duyên cớ” trong chiến tranh. Dự tính, lễ cầu siêu sẽ nhắc đến chiến binh Mỹ cũng như những người Việt Nam bị chết vì “những tai họa khác,” kể cả trại tù cải tạo và người vượt biên.

Tuy nhiên, trong thương thuyết với phía Việt Nam, chính quyền tỏ ra cứng rắn hơn so với năm 2005. Họ nhất định cấm không được nhắc đến lính Mỹ, cấm nhắc đến tù cải tạo, cấm nhắc đến thuyền nhân.

Ở miền Bắc, việc tổ chức còn khó hơn. GHPGVN tại Hà Nội còn không muốn có lễ cầu siêu vì cho rằng không có lý do gì mà phải hóa giải, và cũng cho rằng không có người Việt Nam nào chết “vô duyên cớ” trong chiến tranh cả.

Buổi lễ cầu siêu tại Sài Gòn được tổ chức ngày 16 tháng 3, 2007, ở chùa Vĩnh Nghiêm, sau những thương thảo vào phút chót với chính quyền. “Có ít nhất 2,000 người tới dự,” theo công điện của tổng lãnh sự Hoa Kỳ. Thiền Sư Nhất Hạnh tuân thủ những đòi hỏi của chính quyền và không nhắc đến “những tai họa khác,” đến thuyền nhân, hay đến những binh sĩ không phải Việt Nam.

Tuy nhiên, Thiền Sư Nhất Hạnh đã cầu siêu cho tất cả “nạn nhân hai miền Nam Bắc” và nói là toàn thể sáu triệu người thiệt mạng trong chiến tranh đều đã chết “vô duyên cớ”. Thiền Sư Nhất Hạnh cũng so sánh với hai miền Ðông Ðức và Tây Ðức thống nhất mà không đổ máu, và giới lãnh đạo Việt Nam lẽ ra phải làm được như vậy. Ông kêu gọi mọi người, bất kể tôn giáo, cầu nguyện cho tha thứ và kết đoàn.

Tới đây, trong điều mà tòa tổng lãnh sự gọi là “một cú hích vào đảng Cộng Sản,” Thiền Sư Nhất Hạnh nói người Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo có thể đọc kinh của đạo mình để sám hối, còn người Cộng Sản thì cứ việc “tìm tâm linh từ Marx”.

6. Chính quyền tẩy chay

Có vẻ biết trước bài thuyết pháp của Thiền Sư Nhất Hạnh sẽ có vấn đề, phía nhà nước không ai đến dự cả.

Phải đến khi bài thuyết pháp đã xong và phần tụng kinh bắt đầu, mới có một nhóm đại diện GHPGVN tới dự. Dẫn đầu là Hòa Thượng Thích Trí Quảng, phó chủ tịch Hội Ðồng Trị Sự Trung Ương GHPGVN và là một ủy viên Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc(4).

Ông Trương Tấn Sang Chủ tịch Nhà nước đến thăm Thượng Tọa Thích Trí Quảng

Trong lời đạo từ, Hòa Thượng Trí Quảng nói ngược lại những điều Thiền Sư Nhất Hạnh đã nói, và thay vào đó, nói buổi lễ cầu siêu là dành cho những liệt sĩ hy sinh “trong cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ”.

Khác với chuyến đi năm 2005, trong chuyến đi 2007, báo chí trong nước rất ít tường thuật. Sau lễ cầu siêu ở chùa Vĩnh Nghiêm, báo chí chỉ đưa tin sơ sài, trích dẫn lời Hòa Thượng Thích Trí Quảng và không nhắc đến những câu “nhạy cảm” của Sư ông Thích Nhất Hạnh.

Một vài nhà báo nói với tổng lãnh sự quán, họ nhận được lệnh miệng của tuyên giáo là cần “thận trọng” khi tường thuật chuyến đi của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh.

tác giả: VuQuiHaoNhien@nguoi-viet.com

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=137035&z=321

______________________________________________

(1)   WikiLeaks là một tổ chức quốc tế bất vụ lợi, thành lập năm 2006, chuyên tung ra những thông tin mật của Nhà nước tại nhiều quốc gia. Ông Julian Assange, quốc tịch Úc, thường được coi là sáng lập viên, giám đốc tổng biên tập của tổ chức này. Wikileaks được sự trợ giúp của nhiều cá nhân và đoàn thể ẩn danh cung cấp các thông tin bí mật. WikiLeaks đã từng công khai hóa những thông tin mật của chính phủ Hoa kỳ trong trận chiến tại Irắk (Baghdad), Afghanistan, về nhà tù Guatanamo Cuba. WikiLeaks cũng đã phanh phui những sự tham nhũng bí mật tại Kenya,,,

(2)   Hai thầy bị đánh bất tỉnh là thầy Thông Tánh và thầy Pháp Hội

(3)   Hai vị thầy lớn bị Công an tra hỏi là Pháp Hội và Pháp Sỹ

(4)   Dưới thời Bảo Đại, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, do Dụ số 10, bị coi là một hiệp hội, không phải là một Tôn giáo. Dưới thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trở thành một thành phần của một tổ chức chính trị là Mặt Trận Tổ Quốc.

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam có 3 đại tông chỉ rất khác thường là: Đạo Pháp, Dân Tộc và Chủ Nghĩa Xã Hội. Ít ra là một trong ba đại tông chỉ đó không mấy người lưu tâm đến, bởi vì nó chỉ có danh mà không có thực. Không thấy còn nhắc đến những tông chỉ cố hữu như: Bi, Trí, Dũng; hay Từ Bi Hỷ Xã, Chánh Định, Huệ….

Chủ tịch Hội Đồng Trị sự là Hòa Thượng Thích Thanh Tứ, mới được Huân chương Hồ Chí Minh của Nhà Nước.

(5)   VOLVIS – Voluntary Visitor’s Leadership Program – là một chương trình của Hoa Kỳ giúp những nhà lãnh đạo nước ngoài có thể đến Hoa Kỳ thăm một số trường Đại học, trung tâm Truyền Thông Báo Chí, trong một thời gian ngắn hạn, từ 3 đến 1 tuần.

2 responses to “Hậu Đêm Giữa Ban Ngày

  1. Nếu Thiền sư Nhất Hạnh là một nhà tu tầm thường, thi tôi kho^ng có ý kiến, nhưng ông được biết là một nhà tu Phật giáo nổi tiếng không những ở VN ma` cả khắp thế giới, thì cách cư xử của TS đối với những nhà Lãnh đạo chính quyền VN, những người trọng vọng mời ông về , gần như mắng vào mặt người ta ( góp ý kiến không phải lúc), thi` tôi thấy, ông không những thiếu xã giao tối thiểu của một nhà văn hóa và quan trọng nhất là thiếu chữ NHẪN của một thầy tu Phật giáo.

  2. Tôi đã đọc kỹ bá cáo của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ về sự trở về nước của Thầy Nhất Hạnh.

    Tôi không thấy Thầy Nhất Hạnh cố ý hay tỏ ra “gần như mắng vào mặt” một lãnh đạo chính quyền VN nào cả. Tôi chỉ thấy Thầy đã “đề nghị” với chính quyền “nên” tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị; “không nên” bắt Giáo Hội gia nhập Mặt Trận Tổ Quốc; “không nên” bắt tăng ni tham gia Quốc Hội hay Hội Đồng Nhân Dân vân vân.. Những đề nghị này ai cũng thấy rất hợp lý, ngoại trừ chính quyền của nhà nước XHCN.

    Tôi không hiểu tại sao cụm từ “đề nghị”, “nên hay không nên” với nhau lại có nghĩa là “gần như mắng vào mặt” nhau? Quả thực rất khó hiểu.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s