Người Đi Tìm Ông Phật Năm


 

                                                      Sabbe sankhara anicca
                                                Appamadetha sampadetha
 
                                      ‘Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường
                                           Hãy tinh tấn tìm cầu giải thoát”
                                                    —— Lời dạy cuối cùng của Như Lai
 

Đào Viên

1. Phật Giáo đến A Phú Hãn

Đức Phật đã ra đời(1) từ thế kỷ thứ 7 trước Tây lich (năm 624 BC) tại thành Ca Tì La vệ (Kapilavatu), trên vùng biên giới giữa Nepal và North Bihar, Ấn độ. Năm 29 tuổi Thái tử Siddhattha Gotama đã rời bỏ kinh thành xuống tóc đi tu. Sau sáu năm gian khổ, kiên trì, không mệt mỏi, vào năm 35 tuổi, Thái tử Siddhattha đã chứng ngộ Chân lý cứu kính Vô thượng và trở thành Đức Phật, bậc Toàn giác.

Kể từ ngày ấy Phật giáo đã ra đời. Năm người đầu tiên được biết tới chánh Pháp là năm anh em Kondanna (Kiều Trần Như) sau khi được Đức Phật thuyết giảng Chuyển Pháp Luân. Sau đó Ngài đã đi bộ khắp miền lưu vực sông Hằng thuyết pháp giáo hóa không ngừng nghỉ để truyền bá đạo Phật. Sau 49 năm hoằng Pháp, ở tuổi 80, khi về gần đến thành phố Kusinara, thân thể suy yếu, nằm nghỉ giữa hai cây Sala lớn, trong tư thế một người nằm nghiêng bên phải, và đêm hôm ấy (năm 544 BC), Ngài đã nhập diệt.

Đức Phật, nằm dưới hai cây sala, Nhập diệt


Trong thời Đức Phật còn tại thế, từ lúc Ngài có năm đệt tử đầu tiên là anh em Kiều Trần Như đến người đệ tử cuối cùng là vị du sĩ ngoại đạo Subhadda được Đức Phật cho ra nhập Tăng đoàn, số người biết đến đạo Phật chỉ ở hàng chục ngàn. Những nơi Ngài đi đến để hoằng dương cháp Pháp cũng rất giới , chỉ ở trong vùng lưu vực sông Hằng, nuớc Ấn độ.
 
Phải chờ đến thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch (năm  273 BC) vua Ashoka (A Dục), con của vua Bindasara, cháu của vua  Chandragupta – người sáng lập ra triều đại Mauryan – đóng đô tại Pataliputa (Hoa Thị), thì Phật giáo mới có cơ hội bành trướng khắp mọi nơi trên lục đia Ấn, xuống đến cả Tích Lan, nhờ ở công dương hoằng Pháp của hai người con vua A Dục.
 
Bốn mươi hai năm sau khi vua A Dục băng hà, trong nước có nội chiến, đưa vương quốc Mauryan vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Tướng Pushyamitra, một người theo đạo Bà La Môn, lên nắm giữ quyền bính. Đạo Phật không còn phát triển được như trước.
 
Trở lại thế kỷ thứ 4 trước Tây lịch (năm 334 BC), vua A Lịch Sơn Đại Đế(2)nước Hy Lạp bắt đầu một cuộc viễn chinh Đông tiến định chinh phục Ấn đô. Nhà vua thấy nhà hiền triết Aristotle – cũng là ông thầy dậy học mình –  nói về Ấn-Độ như là một dải đất mênh mông xa tít mù tắp tận chân trời, nên cảm thấy hứng thú phải đi chiếm lấy và để đem nền văn minh Hy-Lạp reo rắc cho các dân bản xứ.
 
Cuộc Đông tiến rút cục chẳng đi đến đâu. Sau khi đã đánh chiếm Ba Tư, đi qua A phú Hãn đến miền Ngũ Hà, tức là Punjab của Pakistan ngày nay, vượt qua một con sông lớn, A Lịch Sơn Đại Đế đã tới Taxila, một thị trấn sầm uất có nhiều thương gia đi qua trên con đường Tơ Lụa. Khi tới con sông Beas cũa vùng Punjab, Pakistan, đoàn quân này đã phải ngưng lại, rồi rút lui.
 
Người Hy lạp đã ở lại sinh sống trên những vùng đất đã đi qua, hòa hợp với dân bản xứ đã được đạo Phật cảm hóa, từ đó đến thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch.
 
Quốc gia Gandhara (Kiền Đà La) chẳng hạn là một nước hùng cường rộng lớn vùng Bactria đã sản xuất ra rất nhiều vi tu sĩ Phật giáo như Già-nhi-sắc-già (Kanishka). Nước này cũng là quê hương của những vị Luận Sư xuất chúng, hay những Tổ Sư đã sáng lập các tông phái như Ngài Na Tiên Tỳ kheo, Pháp Cữu, Như Ý, Hiếp Tôn Giả nổi tiếng sau này.
 
Người nổi tiếng nhất vẫn còn được nhắc đến trong kinh điển Nam tông là vua Menander của Bactria (Đại Hạ) – tiếng Pali dịch là Di Lan Đà – trong một cuộc đối thoại, trên 240 câu vấn đáp, với tỳ lheo Na Tiên(2).
 
Sau triều đại vua Menander, vương quốc suy yếu, người Hy lạp tiếp tục cai trị vùng Bactria nhưng ảnh hưởng của văn minh Ấn độ gia tăng. Phật giáo Nam tông đến trước, theo sau là Phập giáo Bắc tông (Đại thừa) lan tràn cả sang đến vùng đất của A Phú Hãn  bây giờ.

Di tích Phật giáo Gandhara với những Tịnh xá đào vào vách sa-thach


Đến thế kỷ thứ 3, thời đại vua Asoka, thì Phật giáo ở đây trở nên hưng thịnh. Một trung tâm Phật giáo quan trọng hình thành vào cuối thế kỷ thứ 1 tại nơi này là Gandhara (Ki ền à La) . Gandhara là một trung tâm Phật giáo rất lớn. Nghệ thuật Phật giáo ở đây đã đạt đến đỉnh cao. Các thành phố chính của văn minh Granhara bao gồm Zaranj, Bamiyan, Paktia, Kabul, Zabul, và Peshawar.
 
Sử sách đầu tiên nói về sự phát triển của Phật giáo tại A Phú hãn là cuốn sách Đại Đường Tây Vực Ký của nhà sư Huyền Trang hay là Đường Tam Tạng.
 
Ông Lương Khải Siêu, một học giả trứ danh Trung hoa đã sưu tầm tài liệu(3)về cuộc hành trình Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh, có đoạn viết như sau:
 
“Ðáng lẽ đi thẳng về phía Nam để sang Ấn Ðộ, Pháp sư Huyền Trang rẽ về phía nước Tát Già Thì (thuộc xứ Batriane, nước Apganixtan).Vua mời Ngài đi đến thành Tiểu Vương Xá là một nơi có rất nhiều di tích Phật giáo.. Nhưng trong thời gian Ngài Huyền Trang đi qua, thì đây là một thành phố phồn thịnh có trên một trăm Tịnh Xá, chứa gần ba ngàn Tăng đồ thuộc phái Tiểu thừa. Trong các Chùa có rất nhiều di tích của đức Phật Thích Ca”.
 
2. Hai pho tượng khổng lồ
 

Tượng ông Phật lớn


Một trong những di tích Phật giáo mà Pháp sư Huyền Trang đã trông thấy là hai pho tượng khổng lồ của Đúc Phật Thích Ca Mâu Ni, được tạc trong lòng núi, vùng Bamiyan, một phần của vương quốc Gandhara khi xưa. Bamiyan là một thung lũng trong vùng Hazarajat thuộc A Phú Hãn, cách thủ đô Kabul 230 km.
 
Hai pho tượng này, một nhỏ phía Đông, một lớn phiá Tây, tạc hình Đức Phật đứng, sâu trong vách đá sa-thạch, trên cao nguyên 2,500 thước trên mặt biển. Pho tượng nhỏ, cao 37 mét, được tạc năm 507 Tây lịch. Pho tượng lớn, cao 55 mét, được tạc song năm 554 Tây lịch.
 

Tượng ông Phật nhỏ


Khi ngài Huyền Trang đến đây(4)trên đường đi Ấn độ (năn 630 Tây lịch) ngài đã thấy hai pho tượng khổng lồ này còn thếp vàng, lát ngọc. Quanh tường còn trạm trổ hoa văn nhiều mầu sắc miêu tả thiên đường. Đôi mắt Phật, khi sáng trăng, từ xa nhìn thấy óng ánh, dường như nghệ nhân đã cẩn hồng ngọc vào đó. Áo khoác trên mình Phật được trét bằng vữa theo lối áo ngoài dài rộng kiểu quân phục của quân đội A Lịch Sơn Đại Đế Hy lạp đã từng qua đây càng ngàn năm trước.
 
Hai bức tượng khổng lồ này vẫn còn đứng vững với thời gian, trải qua bao phong ba bão táp của lich sử nước A Phú hãn.
 
Thiên tai bắt đầu đến với A Phú Hãn thanh bình khi quân đội Ả Rập theo đạo Hồi Islam của Yaqub ibn Layth Saffari kéo vào từ thế kỷ thứ Bẩy. Người Ả Rập Muslim đã tìm cách xóa sạch những dấu tích của nền văn hóa Ấn độ, nhất là Phật giáo, để thay thế bằng văn hóa, tôn giáo Muslim. Tuy nhiên hai bức tượng đó vẫn còn nguyên mặc dầu Phật giáo đã suy tàn, gần như mất hẳn vào cuối thế kỷ thứ Chín.
 
Ngay cả đến năm 1221 khi quân đội Mông cổ của Thành Khát Tư Hãn tiến vào A Phú Hãn reo rắc tàn phá và giết hại hầu hết dân chúng những nơi chúng đã đi qua, kể cả vùng Bamiyan, hai pho tương Phật khổng lồ đó vẫn không suy suyển.
 
Đầu thế kỷ thứ 19 người Anh cát Lợi đã gây ra một cuộc chiến tranh kéo dài bốn năm trong nước A Phú hãn, hai pho tượng đó vẫn còn đó, chứng kiến cuộc bể dâu gây ra bởi ngoại mhân.
 
Hai pho tương này còn chứng kiến cảnh huynh đệ tương tàn, vào thập niên 1980 giữa những người Muslim A Phú Hãn, được hỗ trợ bởi hai đại cường, một bên là Liên bang Sô Viết, một bên là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Rốt cục cuộc chiến này đã đưa Tổ chức Taliban, một tổ chức Muslim quá khích, lên nắm quyền sinh sát.
 
Tháng Hai năm 2001, chính quyền Taliban, đã tố cáo hai pho tượng Phật tại Baniyan là “thần tượng ngoại đạo”, trái với giáo lý Islam, cần phải phá bỏ. Được tin này các tổ chức quốc tế, kể cả ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đã yêu cầu ông Mullah Omar lãnh tụ chính quyền Taliban can thiệp mà thu hồi ý định đó, nhưng vô hiệu quả.
 

Quân Taliban nổ súng phá vỡ tượng Phật


Sang tháng sau, chính quyền Taliban đã súng lớn (thần công), cùng với 30 chuyên gia thuốc nổ Ả Rập khác, đặt thuốc nổ dưới chân hai pho tượng để phá hủy. Họ đã phải làm như vậy nhiều lần và 3 tuấn sau hai pho tượng mới hoàn toàn bị phá hủy, để lại hai hốc trống chơn.
 
Trong khi người Taliban mở tiệc ăn mừng việc phá tượng bằng cách giết chín con bò, theo một nggười đã tham gia chuyện này kể lại, thì ông Kiochiro Matsura, giám đốc cơ quan UNESCO đã phải nói là: “ thật là kinh tởm khi phải chứng kiến cuộc phá hủy có tính toán những di tích văn

Tượng Phật lớn không còn


hóa, cũng chính là tài sản kế thừa của nhân loại
 
3. Một người đi tìm ông Phật nằm
 
Khi tin này đến tai ông Zemaryalai Tarzi, khi đó đang ở Strasbourg, Pháp quốc, ông đã hốt hoảng kêu lên: “C’est lamentable! C’est absolument lamentable!” (thật là bi thảm!) khi thấy hình ảnh cuộc hủy hoại hai pho ttưộng Phật Đứng trên màn truyền hình Pháp.
 
Zemaryalai Tarzi là  ai? Ông là một nhà khảo cổ người A Phú Hãn rất thiết tha với đôi tượng Phật Bamiyan. Ông sinh năm 1939 là một thành viên trong một gia đình hoàng tộc A Phú Hãn, đã đi du học nước ngoài, tốt nghiệp tiến sĩ Khảo Cổ học Đại học Strasbourg, Pháp quốc.
 

Ông Tarzi tại Bamiyan vớitoán công nhân đào bới


Ngay từ năm 1967 khi còn là một sinh viên khoa khảo cổ, ông đã đến Bamiyan khảo sát những di tích Phật giáo tại vùng này.
 
Trong suốt mười năm kế tiếp, hằng năm ông vẫn trở lại Bamiyan chỉ huy công cuộc đào bới những di tích Phật giáo, trùng tu lại hai pho tượng khổng lồ đã có nhiều chỗ rơi rớt lả tả. Ông tự cho là ông là người đã biết rõ từng tấc đất của Bamiyan.
 
Vì thế cho nên ông đã tin chắc rằng ở đâu đây, quanh chỗ đôi tượng khổng lồ này phải có một pho tượng Phật khác: Một ông Phật Nằm, trong tư thế Đức Phật Thích Ca Nhập Diệt, dài khoảng 1,000 anh bộ.
 
Sự suy đoán này của ông Tarzi là dựa trên bút ký của Pháp sư Đường Huyền Trang. Trong bút ký Đại Đường Tây Vực Ký, ngài Đường Tăng đã kể lại rằng khi ông đến đây, ông đã được dẫn đi thăm nhiều Thiền viện, Tịnh Xá, ngoài Thiền viện Quốc Vương. Chính tại đây ông đã thấy một tôn tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni nằm nghiệng Nhập Niết Bàn, dài khoảng 1,000 anh bộ.
 
Khi nhóm Taliban lên cầm quyền, ông Tarzi và gia đình đã phải di cư sang Pháp. Ông giậy học tại Đại học Strasbourg. Sau khi nhóm Taliban cùng Osama Bin Ladem bị liên quân Hoa Kỳ đánh bại, ông Tarzi đã xin được tài
trợ của chính phủ Pháp để đi tìm ông Phật Nằm.
 
Tài trợ này vào khoảng $50,000 Mỹ kim một năm, chỉ đủ cho ông Tarzi thuê một căn buồng  trong khu dân cư dưới chân tượng Phật đã bị phá, trả lương cho mấy người sinh viên phụ tá, trả tiền cho phu phen thuê làm chuyện đào bới khảo cổ.
 
Ông là người A Phú Hãn theo đạo Muslim, cho nên ông không được chính phủ Pháp tin tưởng lắm. Nhưng nhờ có sự can thiệp và giúp đỡ của ông Bernard-Henri Lévy, một nh à trí thức triết gia có tiếng người Pháp nên tài trợ mới được chấp thuận.

Công cuộc đào bới khảo cổ tiến hành


Ông Tarzi liền trở về A Phú Hãn, đi lên Bamiyan để nói với nhà đương quyền ở đó – một thứ tổng đốc địa phương, không coi trung ương ra gì – là ông bắt đầu khởi công đào bới tìm ông Phật Nằm. Ông tưởng rằng đây là một dự án khoa học rất đáng hãnh diện cho người A Phú Hãn. Nào ngờ ông bi chính quyền địa phương yêu cầu phải ra khỏi Bamiyan.
 
Ông lại phải quay về Pháp, chờ đợi tình trạng quân hồi vô phèng của nền chính trị nước ông lắng dịu hơn. Năm sau ông trở lai Kabul, thủ đô A Phú Hãn, ông được Tổng thống A phú Hãn là ông Hamid Karzai rất hoan nghênh, coi ông là một nhà khoa học có giá của xứ A Phú Hãn.
 
Được chính phủ trung ương ủng hộ hết mình, đảm bảo công việc khảo cổ ở Bamiyan, năm 2007, ông Tarzi thực sự bắt đầu công việc đi tìm ông Phật Nằm.
 
Ông kể lại là khi ông bắt đầu công cuộc đào bới, ông đã gặp phải nhiều mìn, di vật của những năm nội chiến. Chính ông đã lượm được một số mìn chưa phát nổ trước khi nhóm phá mìn quân đội đến. Một trong số những người địa phương làm công cho ông đã bị trúng mìn, gần nơi có ông Phật Đứng, làm mất luôn hai chân. Ông đã phải đưa y về Kabul lắp chân giả và bây giờ người đó đã trỏ lại công trường làm việc như thường.
 

Công trường khảo cổ với hai ngôi tháp


Tuy ông Tarzi tin chắc là có tượng một ông Phật nằm, nằm sâu dưới lòng đất, trong khoảng chân hai tượng Phật Đứng, nhưng có nhiều nhà khảo cổ khác không hẳn tin như vậy, tuy rằng tất cả mọi người nghĩ rằng Đường Tam Tạng rất đáng tin.
 
Bà Nancy Dupree, một nhà khảo cổ Hoa kỳ, đã sống nhiều năm tại Kabul, thủ đô A Phú Hãn, đã nghiên cứu về hành trình Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh, nói là nhiều điều trong bút ký rất chính xác. Nếu pháp sư đã nói là có nhìn thấy ông Phật Nằm thì hẳn là phải có. Chỉ có điều là có còn tồn tại hay không và có tìm thấy được hay không.
 
Ông Kazuya Yamauchi, một nhà khảo cổ người Nhật, cho rằng tượng ông Phật Nằm là một bí mật trong khoa Khảo cổ học vì có khá nhiều người có những ý kiến khác nhau và cả sau nghìn năm, không ai thấy một dấu vết gì.
 
Có người nghĩ rằng pháp sư Đường Tam Tạng có thể đã lẫn lộn pho tượng nằm với một khối đá sa thạch hình dáng giống như một người nằm, hay ông ta đã muốn nói tới một địa danh khác, không phải ở Bamiyan, mà theo ông ta thời ấy Phật giáo rất hưng thịnh, có nơi có cả hàng trăm tu viện, thiền viện, tịnh xá là nơi tu tập của 6,000 tăng sĩ, phần lớn theo Đại Thừa.
 
Theo ông Kazuya Yamauchi thì địa danh đó có lẽ ở vùng Shari-i-Golghola, còn có tên là “Thành phố Than Khóc”, miêu tả thời quân Mông Cổ đến tàn sát tất cả mọi dân trong thành.
 
Có người lnhư ông Kosaku Maeda, người Nhật, lại nghĩ rằng giả thử là có tượng Phật Nằm đi nữa, tượng này dài 1,000 anh bộ như Đường Tam Tạng kể lại, bức tượng ấy phải có chiều cao từ 100 đến 130 anh bộ. Mặt Đức Phật trên tượng Phật Nằm được nặn bằng vữa – giống như tượng Phật Đứng – đến nay hẳn đã bị suy sụp rồi. Còn lại phần thân thể nhìn xa trông thành một cài đồi nhỏ, hoặc với thời gian, tất cả đã suy sụp vì sức nặng của chính nó rồi.
 
Tất cả những lời bàn ra tán vào về sự hiện hữu của tượng ông Phật Nằm không làm ông Tarzi nản chí. Sau bẩy năm trời đào bới ở hai chỗ mà ông nghi là có bức tượng, ông đã đã tìm ra bẩy tịnh xá, một cái tháp, một phần của một cái chân tượng Phật, một số di tích Phật giáo và nhiều đồ sứ cổ vật từ thời xa xưa.
 
Trong khi nhóm của ông Tarzi tiến hành công việc đào bới tìm di tích Phật giáo, thì có một nhóm khác được tài trợ bởi UNESCO đến Bamiyan để trùng tu hai hốc vách đá không còn bức tượng Phật Đứng nữa.
Đứng đầu nhóm này là ông Praxenthaler, người Đức. Khi ông tới Bamiyan ông đã thấy là sau khi hai bức tượng bị phá hủy bằng chất nổ, vách đá đã có nhiều chỗ nứt rạn. Ông cho rằng nếu không sửa chữa sớm, chỉ cần một trận động đất nhỏ, cả vách đá sa thạch này cũng sẽ sụp xuống.
 
Nhóm ông Praxenthaler đã phải bơm hai chục tấn xi măng, và đóng cả chục thanh thép dài vào vách đá để giữ vách đá cho chắc.
 
Trùng tu hốc vách đá mới chỉ là giai đoạn đầu trong việc cứu vãn di tích Phật giáo này, đã được UNESCO, Liên Hiệp Quốc coi là bảo vật văn hóa của nhân loại. Nhiều nhà sử học vàc khảo cổ học đã có đề nghị xây cất lại hai pho tượng Phật Đứng như cũ.
 
Một nghệ sĩ người Nhật, ông Hiro Yagamata hiện sống tại California, Hoa Kỳ, lại đưa ra một ý kiến rất táo bạo. Thay vì xây cất lại bức tượng Phật Đứng, chúng ta sẽ dùng kỹ thuật “laser” chiếu hình ảnh tượng Đức Phật Đứng bằng tia “laser” lên vách trống. Ý kiến này không được hưởng ứng vì sẽ rất tốn kém và có nhiều bất tiện.

Một bàn chân ông Phật Đứng còn lạt


Dự án xây lại hại bức tượng thấy thế hai bức tượng đã bị phá hủy, về phương diện kỹ thuật, nhiều người cho là có thể thực hiện được.
 
Mặt khác, nhiều người lại đứng về góc độ chính trị, cho rằng tái lập lại hai bức tượng Phật Đứng khổng lồ này, ít ra là trong lúc này, không chắc là một chuyên khôn ngoan. A Phú Hãn là một nứớc Hồi giáo. Islam là một tôn giáo không bao dung cởi mở, nhất là bộ lạc Pashtun đang có thế lực tại đất nước này.
 
Ông Paxenthatler nghĩ là: “Trùng tu hai vách đá bỏ trống thì OK. Nhưng khi đặt vào đó hai bức tượng Phật, mà người ta sẽ cho là đang tuyên dươngPhật giáo, người Islam sẽ nghĩ nhiều điều không hay”. Ông cho là cứ nên bỏ trông hai hốc đá đó. Hai hốc đá trống tự nó đã có giá trị riêng của nó rồi.
 

Ông Tarzi đồng ý. Ông nói: “Chúng ta hãy đề hai hốc đá dó trống, như là hai trang sử, để thế hệ mai sau, mọi người sẽ thấy rầng có một thời “Điên rồ” đã thắng “Lý trí” ở xứ này”.

__________________________________________________

(1)     Ngày đản sanh của Đức Phật có nhiều nghi vấn. Xin xem chi tiết trong bài Thử Nhìn Lại Ngày Ðản Sinh Ðức Phật

(2)      Xin xem thêm bài Phật Giáo và người Hy-Lạp

(3)      Quyển sách này được tác giả VÕ ÐÌNH CƯỜNG biên soạn, nhà Xuất bản HƯƠNG ÐẠO ấn hành lần thứ nhất vào năm 1960 với tựa đề là HUYỀN TRANG. Sách ghi lại bài viết của ông Lương Khải Siêu, đã được Thượng tọa Thích Thiện Siêu dịch ra Việt văn.

(4)     Dưới đây là một đoạn trong cuộc hành trình Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh:

“Ðáng lẽ đi thẳng về phía Nam để sang Ấn Ðộ, Ngài rẽ về phía nước Tát Già Thì (thuộc xứ Batriane, nước Apganixtan). Ngài muốn đến thăm vị Vua nước này, là con ruột của Vua Diệp Hộ nước Ðột Quyết và là con rể của Vua Khúc Văn Thái, nước Cao Xương. … Vị tiểu vương mới này cũng rất hậu đãi Ngài Huyền Trang. Vua mời Ngài đi đến thành Tiểu Vương Xá là một nơi có rất nhiều di tích Phật giáo. Thành này bây giờ đã hoang phế điêu tàn. Nhưng trong thời gian Ngài Huyền Trang đi qua, thì đây là một thành phố phồn thịnh có trên một trăm Tịnh Xá, chứa gần ba ngàn Tăng đồ thuộc phái Tiểu thừa. Trong các Chùa có rất nhiều di tích của đức Phật Thích Ca. Trong số các vị Sư ở đây có nhiều người rất tinh thông giáo lý Tiểu thừa. Chính ở tại đây, Ngài Huyền Trang đã học hỏi được rất nhiều về những bộ Kinh chính yếu của giáo phái này.

Ở đây, Ngài gặp được một vị Sư trẻ tuổi và thông thái là Tuệ Tịnh người nước Thổ Hòa La. Hai Thầy trò đi về phía Đông Nam, trèo lên dãy Tuyết Sơn. Con đường núi này thật muôn ngàn hiểm trở hơn tất cả những đoạn đã đi qua. Núi luôn luôn có tuyết phủ, vì thế nên người Trung Hoa gọi là Tuyết Sơn. Sương tuyết phủ mờ tất cả, người ta có cảm tưởng đi trong trăng mờ; thỉnh thoảng may ra mới có được một khoảng bằng phẳng độ 4, 5 thước vuông. Núi lởm chởm nằm ngang lưng trời, mất hút trong mây. Lạnh thấm đến cốt tủy. Hai người đi như thế trên 2.000 dặm, chịu đựng biết bao gian khổ mới đến được Ba-mi-dăng (Bamiyan) là một xứ nằm cheo leo trên đỉnh núi, giữa con đường đi qua Hy Mã Lạp Sơn. Xứ này cũng theo Phật giáo Tiểu thừa, có độ mười ngôi Chùa và mấy ngàn Tăng đồ”.

__________________________________________________

Tháng Sáu 2012

 

 

3 responses to “Người Đi Tìm Ông Phật Năm

  1. Hiện tại trên thế gian Phật pháp chân chính đang được Hồng truyền đó là Pháp Luân Công.
    Chúng ta cùng tu luyện và mong muốn nhiều người hơn nữa biết về Pháp Luân Công nhé.

  2. Thưa ông Đào Văn Cương,
    Cám ơn ông đã bỏ thì giờ đọc bài “Người Đi Tìm Ông Phật Nằm”.
    Tôi e rằng chỗ này không phải là chỗ để thảo luận về Pháp Luân Công.

    Nếu ông muốn viết bài phản hồi về “tu luyện và hiểu biết về Pháp Luân Công” thì ông hãy vào bài Lý Hồng Chí và Pháp Luân Công thì phải hơn.

    Rất nhiều bạn đọc đã viết trong đó những bài phản hồi (61 bài) trong ấy rồi
    ĐV

  3. Bạn Đào Văn Cương nhầm chỗ rồi. Bạn hãy sang bài LHC và PLC mà viết.

    Hơn mữa Phật pháp từ kim khẩu đức Phật nói ra. Pháp Luân Công không phải là Phật pháp. Ông Lý Hồng Chí nói xấu đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật giáo Thiền tông thì làm sao PLC có thể là “hồng truyền” của Phật pháp được.

    “Hồng Truyền”? nghe như tiếng Tầu. Bạn nói tiếng Việt sẽ dễ hiểu hơn

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s