Tuổi Trẻ Tìm Về Nguồn Cội


                                “It takes a great deal of history to produce
                                                      a little literature
                                    —- “Henry James, Jr.” (1843 – 1916)
 
                             “History is our guide, and without a knowledge
                                              of history, we are lost!”
                                        — Louis Farrakhan (1933 – ____)
 
 
                                                                                                                                              Đào Viên
 
Đây là một câu chuyện đã xẩy ra gần 20 năm trước.
 
 Kể từ tháng 4, 1975 cho đến đầu thập niên (19)90, hàng trăm ngàn người Việt đã bỏ nước ra đi, đến Hoa kỳ, phần lớn tập trung tại quận Cam (Orang county) hơp thành một cộng đồng Á châu rất thành công và năng động.
 
Thành phần quan trọng của cộng đồng này là những người trẻ, thuộc thế hệ thứ hai của những người di dân. Họ theo nhiều đợt di cư sang đây – vượt biên, đoàn tụ, con lai, rồi HO – sống và lớn lên tại Hoa kỳ. Họ đã được tiếp súc với nền văn hóa rất sống động của Tây phương, được hấp thụ nền giáo dục phóng khoáng Hoa kỳ, được thấy rõ những thành quả tốt đẹp của xứ này. Họ là những thanh thiếu niên vô tư, hội nhập nhanh chóng và dễ dàng vào xã hội mới.
 
Tuy nhiên, tôi đã thấy rằng không vì thế mà nhiều người thanh niên Việt Nam trẻ tuổi đã quên đi hay không muốn nhận mình là người Việt da vàng mũi tẹt nữa. Trái lại họ đã lại muốn nhìn lại bản thân, nhìn lại ông bà cha mẹ, tổ tiên nòi giống mình là ai, nhìn lại những trang sử nước nhà, đối chiếu với những gì họ thấy trong xã hội Tây phương, để từ đó có một nhận định rõ ràng hơn về những giá trị của người Việt, của dân tộc Việt đang sinh sống trong lòng xã hội Hoa Kỳ, dang lan tỏa khắp năm châu bốn bể.
 
Tóm lại họ muốn tìm về nguồn cội.
 
Tôi đã thấy nhiều vị đàn anh lớn tuổi, thế hệ thứ nhất của những người di dân, đã nhìn thấy những khao khát chính đáng của lớp trẻ này. Họ đã không quản ngại khó khăn, bỏ thì giờ, bỏ ngày nghỉ cuối tuần, làm việc không công, đến với lớp trẻ, để giúp họ tìm về nguồn cội. Họ đã là gương mẫu cho những cộng đồng di dân không muốn nhìn nhận rằng ra đi là mất tất cả. Trái lại ra đi là phải mang theo, gìn giữ gia tài của Mẹ, dù xấu dù tốt, để truyền lại cho hậu thế.
 
Câu chuyện bắt đầu bầng một sự bất ngờ.
 
Một hôm vào tháng 7, 1993, có hai người bạn trẻ đến thăm chúng tôi. Họ là những thanh niên, sấp sỉ ba mươi tuổi, đã tốt nghiệp đại học tại Hoa kỳ, có công ăn việc làm vững chãi. Trong buổi nói chuyện, hai anh này đã nói rằng trong lúc giao tiếp với bạn bè, người quen Hoa Kỳ, họ đã không thấy thoải mái lắm khi được hỏi về nước Việt Nam, về văn hóa xã hội nước nhà, bởi vì những kiến thức của họ rất giới hạn. Họ nghĩ rằng đây là một hiện tượng khá phổ biến trong giới trẻ người Việt di cư. Những năm (19)90 là những năm còn tương đối mới mẻ đối với người Hoa Kỳ địa phương trong việc tìm hiểu nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Trong khi ấy, giới trẻ người Việt, có học hẳn hoi, lại tỏ ra biết quá ít về dân tộc mìnhTrong cuộc nói chuyện, hai anh bạn trẻ của chúng tôi đã tỏ ra rất ưu tư về điều này và ước mong là nếu những người bạn trẻ người Việt di dân, mà hai anh là một thành phần, hiểu biết nhiều hơn về nước nhà thì hay hơn biết mấy. Hai anh bạn trẻ này, có lẽ biết rằng chúng tôi khi còn ở nước nhà, là thuộc thành phần giáo chức, có đưa ý kiến hay là chúng ta hãy tổ chức những buổi hội thảo về văn học và lich sử Việt Nam, với sự giúp đỡ của những vị giáo chức đang có mặt tại quận Cam này.Thấy đây là một ý kiến rất hay,chúng tôi đã tán thành ngay. Thế là ngay sau đó chúng tôi đã liên lạc với một số bạn bè giáo chức quen biết trước đây, để rồi cùng với hai anh bạn trẻ đứng ra tổ chức nhiều buổi họp tại nhà chúng tôi, tìm cách hoạch định một chương trình thực hiện những buổi Hội Thảo về Văn Hóa và Lịch Sử Việt Nam.Chúng tôi phải nói ngay là lúc đầu, những bạn bè giáo chức chúng tôi quen biết đến họp với chúng tôi không nhiều. Nhưng rồi, vì thấy đây là một ý kiến rất hay, nên người nọ bảo người kia đã cùng đến nhà chúng tôi hợp tác soạn thảo ra chương trình này. Ngoài những nhà giáo, còn có sự tham gia của nhiều nhà báo, nhà văn, sử gia, nhạc sĩ và họa sĩ có tiếng trong cộng đồng người Việt nữa.Rất tiếc rằng hai vị trong số những người này, từng đóng góp rất lớn cho sự thành công của chương trình Hội thảo, nay đã không còn nữa. Đó là nhà văn Nguyễn Mộng Giác(1) và nhà báo Lê Đình Điểu(2). Xin chân thành tưởng niêm đến hai vị này.

Bắt tay vào làm việc chúng tôi đã lần lượt hoạch định ra: những đề tài hội thảo, thành phần thuyết trình viên, địa điểm và ngày giờ hội thảo và cách thông báo khóa hội thảo trong cộng đồng người Việt để mời mọi người đến tham dự. Tất cả mọi việc ít hay nhiều đã được giải quyết ổn thỏa nhờ ở sự tán đồng nhiệt tình và tinh thần bất vụ lợi (thuyết trình viên không nhận thù lao) của các bậc lớn tuổi thuộc thế hệ đi trước muốn giúp đõ thế hệ sau.

Khóa hội thảo được quy định chính thức bắt đầu ngày 8 tháng 8, năm 1993, mỗi tuần một lần vào ngày Chủ nhật, buổi chiều hai tiếng đến hai tiếng rưỡi, trong đó hai phần ba thời giờ dành cho phần thuyết trình, sau đó là phần trao đổi giữa thuyết trình viên và học viên. Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (Vietnamese American Arts and Literature Association – VAALA) đã bảo trợ chỗ hội họp, bàn ghế, dụng cụ, âm thanh cần thiết cho viện giảng dạy.

Truyền đơn thông báo khóa Hội thảo

Để lôi kéo học viên, chúng tôi đã viết ra những tờ truyền đơn (flyers) nói về khóa hội thảo đem đi phổ biến rộng rãi trên báo chí, đến các trường trung học và đại học, các chợ trong vùng.

Cũng như những chương trình có tính cách dài hạn, liên quan đến một số đông người tự nguyện, khóa Hội thảo khi thực hiện đã có đôi chút khác biệt với dự kiến ban đầu: thuết trình viên bận việc không đến được, buổi họp phải dời sang ngày khác; cuộc thảo luận hăng say, kéo dài hơn dự định vân vân.

Sau khóa Hội thảo, một Tập Kỷ Yếu đã ghi chép lại phần nào sự sinh hoạt của khóa Hội thảo. Để quý độc giả có chút hương vị của khoá Hội thảo trước khi xem chi tiết, chúng tôi chép lại ít giòng ngay trong những trang đầu của tập Kỷ Yếu như sau:

Khoảng trên 30 học viên người Việt mà đa số lớn lên tại Mỹ, hiểu và thông thạo tiếng Anh hơn tiếng mẹ đẻ đã bắt đầu tìm lại ý nghĩa của những bài học lịch sử và văn hóa Việt Nam …

Thành phần học viên rất đa dạng nhưng nhìn chung giống nhau ở một điểm: tất cả đếu cùng có ý muốjn tìm về nguồn gốc của mình qua những bài học lịch sử và nền văn hóa nước Việt…

Một học viên cho biết rằng anh đã đến Mỹ lúc năm tuổi. Bắt đầu cắp sách đến trườnglà đã học và sinh hoạt với người Mỹ. Ba mẹ anh vì bận kiếm sống, không có thì giờ giúp anh tìm hiểu Việt ngữ. Trong những năm trung học anh không hề để ý đế điều này trong giao tiếp. Nhưng khi lên đại học, một sinh viên đồng môn hỏi anh về những vị vua đầu tiên của đất nước anh, anh trả lời không được và cảm thấy rất ngượng ngùng.. Do vậy vẫn theo lời anh kể, lớp học này là một cơ hội tốt để giúp anh nắm các chi tiết căn bản về nguồn gốc ngưòi Việt Nam. Anh nói: Tại sao tôi lại phải bỏ những giờ nghỉ ngơi của ngày Chủ Nhật để đến đây. Tôi nghĩ mọi người thừa hiểu lý do tại sao rồi.

Một học viên khác, đứng tuổi cho hay rằng số vốn Việt ngữ của ông đủ để ông đọc nhiều sách về lịch sử và văn hóa Việt nam. Dĩ nhiên ở thế hệ ông , ông nói tiếng Việt giỏi hơn tiếng Anh. Nhưng những kiến thức của ông vẫn còn tản mạn. Ông muốn rằng qua việc tham dự khoá Hội thảo này, ông có thể hệ thống hóa những hiểu biết và phối hợp với những học hỏi khác…Ông nói thêm việc khuyến khích lớp rẻ trở lại với Việt ngữ là điều khó khăn. Tuy nhiên dù có khó khăn cách mấy thì việc phổ biến lịch sử và văn hoá cho lớp trẻ lớn lên tại Mỹ là điều nên làm và cần làm..”

Tập Kỷ Yếu này được hoàn thành là nhờ ở sự đóng góp của hai học viên hăng hái nhất (ông Tạ văn Trung và ông Lê Cẩm Thạch) và Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (ông Phạm Phú Minh).

***

                     Buổi Hội thảo Thứ Nhất; ngày Chủ Nhật mồng 8 tháng 8, 1993
                   với đề tài Địa vị Văn học trong Nền Văn hóa Dân tộc
                                      và Tổng  quan Văn học sử Việt Nam
  Thuyết trình viên: Giáo sư Lưu Trung Khảo và giáo sư Nguyễn Trung Quân

Giáo sư Lưu Trung Khảo

Giáo sư Lưu Trung Khảo đã mở đầu khoá hội thảo với bài thuyết trình: “Địa vị Văn học trong nền Văn hóa Dân tộc”. Tiếp theo là giáo sư Nguyễn Trung Quân thuyết trình đề tài: “Tổng quan Văn học sử Việt Nam”.

Đây là những đề tài có tính cách tổng quát, nhằm đem đến cho người tham dự một cái nhìn chung về vai trò của nền văn học trong đời sống của dân tộc.

Gần 50 tham dự viên, trong đó có hơn một nửa thuộc giới trẻ, học sinh, sinh viên, đã chăm chú theo rõi  những bài thuyết trình và đã phát biểu, thảo luận rất sôi nổi sau đó.

Trình độ tiếng Việt của các tham dự viên rõ ràng rất khác biệt nhau, do đó mức lãnh hội bài thuyết trình và các ý kiến tham gia cũng rất khác nhau. Có ý kiến liên quan đến bài nói, lại có ý kiến chỉ yêu cầu giải thích các từ ngữ, tỷ như Văn học là gì, Văn chương là gì, sự khác biệt giữa Văn hóa, Văn minh và Văn hiến, tại sao người Việt đặt tên con trai có chữ đệm là Văn, tên con gái có chữ Thị vân vân..

Cuộc trao đổi trở thành thân mật, hào hứng, vui vẻ, làm mất đi vẻ trịnh trọng có phần nào gò bó lúc ban đầu. Các bạn trẻ có vẻ rất hào hứng cho thấy rằng mặc dù đề tài  xem ra nặng tính hàn lâm, người ta vẫn có thể tiến hành các buổi hội thảo cởi mờ và dễ hiểu.

Sau buổi thảo luận mỗi tham dự viên được phát phiếu đánh giá để ghi tại chỗ một số ý kiến của mình về buổi hột thảo. Hầu hết tỏ ra bằng lòng về sự hăng hái tham gia của các học viên, thành phần giảng huấn cùng những đề tài cuộc hội thảo.

Điểm trùng hợp của rất nhiều phiếu là được phát dàn bài chi tiết trước một thời gian, trong đó có giải thích hoặc dịch ra tiếng Anh những từ ngữ khó sẽ dùng trong các bài thuyết trình.

Có một bạn trẻ đã ghi: “Being born here, I found some parts of the lecture hard to understand because of advanced Vietnamese vocabulary”.

Các ý kiến trên cho thấy ban tổ chứ và ban giảng huấn phải có gắng hoàn thiện các buổi hội thảo sau để giúp các hội viên tiếp thu được kiến thức về văn hóa và lịch sử, nhân đó học và hiểu thêm tiếng Việt.

Cưóc chú– Không có hội thảo ngày Chủ nhật 15 tháng 8, 1993

***

                       Buổi Hội thảo Thứ Hai; ngày Chủ Nhật 22 tháng 8, 1993
     với đề tài Tiến trình củaVăn tự Việt nam: từ chữ Hán, chữ Nôm
                                              đến chữ Quốc ngữ
                             Thuyết trình viên: giáo sư Phạm Quân Hồng

Diễn giả Phạm Quân Hồng trước đây là một giáo sư đệ nhị cấp, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ban Việt Hán, tại Sài gòn vào năm 1961. Trước 1975, ông đã dạy nhiều năm, và nhiệm sở sau cùng là Bộ Quốc gia Giáo dục.

Ông Phạm Quân Hồng

Nói về “văn tự cổ” Việt Nam, diễn giả cho biết ngành khảo cổ đã khám phá trên các vách hang đá ở Quảng Bình, trên những  mảnh đá ở Thái Nguyên, trên một mặt núi lộ thiên ở Mường Hoa..một loại chữ gọi là “chữ Khoa đẩu”, hình con nòng nọc, ngoằn ngoèo, đầu to đuôi nhỏ. Đây có thể là loại văn tự cổ nhất nước ta. Loại chữ này có thể đã biến đổi, có thêm ảnh hưởng của chữ Phạn, khi các vị sư Ấn độ đến truyền đạo Phật tại Giao Chỉ.

Tuy nhiên sau ngàn năm Bắc thuộc, thứ văn tự cổ này đã biến mất nhường chỗ cho “Hán tự”. Hán tự đã trở thành văn tự chính thíc của quốc gia cho mãi đến đầu thế kỷ 20 khi người Pháp đặt nền đô hộ lên nước ta.

Tuy được dùng chính trức, Hán tự vẫn là chữ nước ngoài, không được học thì người Việt nam vẫn không hiểu được, dù là nghe đọc âm. Vì thế người Việt đã cố gắng sáng chế ra một thứ chữ mới, dựa trên chữ Hán, dùng để diễn tả tiếng Việt. Thứ chữ ấy là “chữ Nôm”.

Chữ Nôm có thể đã ra đời ngay từ thời kỳ Bắc thuộc để tiện cho việc cai trị hoặc dùng trong các chùa, nhưng phát triển mạnh mẽ rõ rệt là vào đời nhà Trần. Càng về sau nền văn học chữ Nôm lại càng rực rỡ với các tác phẩm Chinh Phụ Ngâm của Đoàn thị Điểm, Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều (thế kỷ thứ 8), Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (thế ky thứ 19) v.v…

Từ khi người Pháp đặt nền cai trị lên đất VN thì chữ Nôm cũng như chữ Hán bắt đầu suy vi. Một thứ chữ mới ghép vần từ mẫu tự La Tinh, được sử dụng ngày càng rộng rãi bắt đầu từ Nam Kỳ từ sau thế kỷ thứ 19 lan dần ra miền Trung và miền Bắc vào đầu thế kỷ 20:  đó là “chữ Quốc ngữ”. Chữ Quốc ngữ là do các giáo sĩ Tây phương sáng chế từ thế kỷ 16, qua thời gian được phát triển, hệ thống hóa đủ để diễn tả tiếng Việt Nam. Về sau nhờ tính cách dễ viết, dễ học, chữ Quốc ngữ được truyền bá dễ dàng trong nhân dân. Năm 1908 chữ quốc ngữ được chánh thức giảng dạy trong các trường Tiểu học ở Việt Nam.

Cho đến nay, vào cuôí thế kỷ 20, ta thấy rằng chữ Quốc ngữ là phương tiện vô cùng lợi ích cho sự phát triển và tiến bộ của văn hóa văn minh Việt Nam.

Bài thuyết trình của giáo sư Phạm Quân Hồng đã đem lại sự tin tưởng vào tiếng Việt và chữ viết tiếng Việt nơi các bạn trẻ tham dự trong đó không ít người rành tiếng Anh hơn tiếng Việt.

Trong phần thảo luận các học viên đã nêu nhiều câu hỏi, trong đó có những thắc mắc đáng chú ý:

–          Chữ Quốc ngữ mới được dùng chính thức chưa đầy 100 năm. Trước đó, kể từ khi dân tộc Việt Nam có lịch sử, nền quốc học đều dựa vào chữ Hán và chữ Nôm. Phế bỏ hai chữ này mà chỉ dùng chữ Quốc ngữ thì có phải là dân Việt đã tự cắt đứt quá khứ của mình và do đó đã đi ra khỏi truyền thống của mình?

–          Chữ quốc ngữ sẽ có một ngày bị tiêu diệt không, như là số phận của chữ Hán và chữ Nôm trong quá khứ? Lý do là dù rất tiện lợi chữ Quốc ngữ đã tự nó cắt đứt với nền cổ học của dân tộc, tự nó sẽ mất sức sống.

Nhiều ý kiến đóng góp đã giải tỏa các thắc mắc trên.

***

                             Buổi Hội thảo Thứ Ba; ngày Chủ nhật 29 tháng 8, 1993.
                   Với đề tài Dòng văn học bình dân và dòng văn học bác học
                 Thuyết trình viên: các ông Cao Thanh Tùng, Lưu Trung Khảo
                                                     và Phạm Quân Hồng

Mở đầu ông Cao Thanh Tùng nói về “văn học bình dân”. Diễn giả không đồng ý với cách gọi dòng văn học này (văn học bình dân)  vì chữ bình dân tỏ ý xem thường, nếu không nói là hơi miệt thị. Ông đề nghị nên gọi là “văn học dân gian” và “văn học thành văn”.

  1. Văn học dân gian

Đi vào nội dung văn học dân gian, diễn giả đã đề cập đến trước tiên “tục ngữ, ngạn ngữ, phương ngôn” như những câu ngắn gọn dùng quen từ bao đời trong dân gian, có tính cách truyền khẩu để nói lên các hiểu biết thường thức, phong tục xã hội, luân lý, thói đời. Đó là quyển sách khôn mở ngõ lưu truyền trong dân gian từ xưa tới nay trong đó tàng chứa các kinh nghiệm của người xưa về vũ trụ cũng như nhân sinh.

Thứ đến là “Ca dao”, những câu hát theo giọng điệu tự nhiên lưu truyền trong dân gian mà tác giả thường là những người dân không biết chữ chỉ mượn lời nôm na bộc lộ ý mình, nhưng cũng có thể là những đấng sỹ phu dân giả khi chưa thành đạt. Nội dung của ca dao khá đa dạng, có thể nói về những điều thường thức hoặc các vấn đề xã hội, lich sử, tâm lý, luân lý, khôi hài, huê tình…

“Chuyện cổ tích” là một hình thức khác cũa văn học dân gian. Cổ tích có nhiều thể loại: thần tiên, ma quỷ, động vật, phong tục tín ngưỡng, khôi hài, luân lý, tình ái…Về nguồn gốc, chuyện cổ tích có thể đã du nhập vào từ nước ngoài (như kinh Phật, sử sách Ấn độ, Trung Hoa…), có thể bắt nguồn ngay từ dân tộc như các chuyện từ đời vua Hùng, vua Thục..Cổ tích đáp ứng được những nhu cầu giải trí, giải tỏa các ẩn ức, nhu cầu hiểu biết và phản ánh tình trạng sinh hoạt của dân chúng.

  1. Văn học thành văn

Văn học thành văn gồm ba dòng chính:

–          văn học chữ Hán
–          văn học chữ Nôm
–          văn dọc chữ Quốc ngữ.
 
  1. Văn học chữ Hán

Ông Lưu Trung Khảo đã nói vế văn học chữ Hán, một nền văn học rất phong phú suốt dòng lịch sử nước ta, được xem chính thức thành lập từ đời nhà Lý và kết thúc với triều Nguyễn.

Diễn giả đã phân chia văn học chữ Hán ra làm các thời kỳ:

a)      Thời kỳ Lý Trần với  các tác giả như Lý Thường Kiệt, Khánh Hỷ (Ngô Đạo thi tập), Bảo Giác (Viên Thông tập), các vua Trần (Ngự tập), Chu văn An, Phạm sư Mạnh, Trần quốc Tuấn, Trần Thái Tông (Khóa Hư Lục), Lý Tế Xuyên (Việt Điện U Linh) v.v.. Đặc điểm của thời kỳ Lý Trần là lúc đầu ảnh hưởng của Phật giáo rất mạnh, càng về sau Nho giáo càng lấn át.

b)      Thời kỳ Lê Mạc với Lê Thánh Tông (Minh Lương Cẩm Tú, Quỳnh Uyển Cửu Ca…) Nguyễn Trãi (Ức Trai thi tập, Dư Địa Chí, Quân Trung Từ Mệnh…), Lương Nhữ Học, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lý Tử Tấn…Ảnh hưởng Nho giáo rất rõ rệt trong thời kỳ này

c)      Thời kỳ Nam Bắc phân tranh. Bắc Hà có Phùng Khắc Khoan, Đặng Trần Côn, Trịnh Doanh, Trịnh Sâm, Ngô Thì Sĩ. Nam hà có Mạc Thiên Tích, Nguyễn Cư Trinh. Đặc biệt trong thời kỳ này nổi lên một nhà bác học sáng chói là Lê Quý Đôn với một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, với thơ văn, bài giảng kinh, truyện, khảo cổ, sưu tập thơ văn, nghiên cứ Sử Địa…

d)     Thời kỳ triều Nguyễn. Thời Nguyễn sơ có Phạm Quý Thích, Nguyễn Du, Trịnh Hoài Đức..Vào các triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức nổi tiếng có các ông Lê Văn Siêu, Cao Bá  Quát, Tùng , Tuy, Hà Tôn Quyền, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Trương Quốc Dụng, Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Thông…Và cuối đời nhà Nguyễn có thể thêm Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Nhiều tác phẩm quan trọng đã hình thành trong thời kỳ này như Khâm Định Việt Sử, Đại Nam Thực Lục, Nhất Thống Địa Dư Chí, Đại Nam Nhất Thống Chí, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí

  1. Văn học chữ  Nôm

Giáo sư Phạm Quân Hồng

Sang phần văn học chữ Nôm ông Phạm Quân Hồng cũng đại để phân chia theo các thời kỳ triều đại như Lý Trần (Hàn Thuyên, Chu văn An, Hồ Quý Ly..), Lê Mạc (Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh khiêm…), Lê Trung Hưng (Đoàn Thị Điểm với Chinh Phụ Ngâm), Ôn Như Hầu (Cung Oán Ngâm Khúc), Đào Duy Từ (Ngoạ Long Cương); nhà Nguyễn (Nguyễn Du với Truyện Kiều, Nguyễn Văn Thành với Văn tế Trận Vong Chiến Sĩ, Nguyễn Đình Chiểu với Lục Vân Tiên, Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ….

Khác với văn học dân gian, nền văn học thành văn Chữ Nôm lời lẽ rất chải chuốt, điển cố rất nhiều, càng về sau sự dùng chữ Việt càng trở nên tinh tế.

  1. Văn học chữ Quốc ngữ

Qua phần văn học chữ Quốc Ngữ, ông Lưu Trung Khảo chia làm ba thời kỳ;

a. Văn chương Ky tô giáo gồm các kinh sách, bài giảng đạo

b. Hình thành nền quốc học mới với Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của (Gia Định báo)

c. Thời kỳ thành lập với Nguyễn Văn Vĩnh (Đông Dương Tạp Chí), Phạm Quỳnh (Nam Phong Tạp Chí)

Nam Phong tạp chí (1917)

Trên đây là các đề tài do ba thuyết trình viên nói trong ba tiếng đồng hồ, một chương trình quá nặng cho một buổi học tập với các thành viên mà trình độ tiếng Việt có thể chưa đủ cao lắm.

Cước chú– Không có Hội thảo ngày Chủ nhật 5 tháng 9, 1993

***

                      Buổi Hội thảo Thứ Tư; ngày Chủ Nhật ngày 12 tháng 9, 1993
             với đề tài Ảnh hưởng của Tiểu thuyết và Thơ Mới từ 1932 đến 1945
                                  vào việc đổi mới tinh thần người việt Nam
              Thuyết trình viên: giáo sư Lưu Trung Khảo và giáo sư Vũ Ngọc Mai.

1. Thơ Mới

Về Thơ mới giáo sư Lư Trung Khảo đưa ra hai tác giả được xem như những người tiên phong. Đó là Nguyễn Văn Vĩnh với bài thơ dịch “Con Ve và con Kiến” (của La Fontaine) năm 1914 và Phan Khôi với bài “Tình Già” (1932). Những bài thơ này có số câu, số chữ trong câu cách gieo vần…hoàn toàn tự do so với “thơ cũ”, tức là loại thơ có niêm luật chặt chẽ đã được dùng lâu đời tại nước ta.

Với sự cai trị của người Pháp, nước ta từ đầu thế kỷ đã dần dần từ bỏ cái học chữ Hán cũ để theo chương trình giáo dục theo lối Tây phương. Ảnh hưởng cái học mới đã phá vỡ dần cái nề nếp suy nghĩ và cảm xúc vốn đã thành quá ước lệ và tù đọng. Nền học vấn và văn hóa Pháp như một luồng gió mới lạ, thôi thúc sự đổi thay nơi người Việt Nam lúc bấy giờ, trong đó có thơ ca. Nói đến thơ dù cũ hay mới đều phải có thi hứng, bắt nguồn từ cảnh vật, sự việc và cái tình nẩy ra trong lòng. Nhưng ngay thi hứng thì cái mới cũng khác xa với cái cũ.

Ví dụ về cảnh, trong thơ cũ ta gặp toàn những ước lệ, mùa nào thức ấy, hoa cỏ bốn mùa ít khi thay đổi. Trái lại trong thơ mới cảnh hiện ra rất phong phú bất ngờ có thể là trời đất, núi non hùng vĩ, có thể là một hạt sương, thậm chí một chốn bùn lầy. Về tình cũng thế. Thơ cũ thường nằm trong cái khung Trung Hiếu Tiết Nghĩa. Trong khi thơ mới nói tới mọi tình huống rung động của tâm hồn con người. Trong cách diễn tả thơ cũ thường theo công thức sẵn có, với một số từ, một số điển cố dùng mãi từ xưa, trong khi thơ mới có nhiều cách nói mới lạ, từ ngữ tân kỳ sáng tạo có khả năng khơi dậy vô vàn cảm xúc nơi người thưởng thức.

Chỉ trong vòng nười mấy năm (1935-45) nền thơ ca mới Việt nam đã đạt được một bước tiến rất dài về lượng cũng như về phẩm, về số thi nhân cũng như về số tác phẩm.

2. Tiểu thuyết mới.

Bà Vũ ngọc Mai, trước kia là giáo sư Việt Văn ở Việt Nam, đã thuyết trình về tiểu thuyết mới trong giai đoạn 1932-1945 và ảnh hưởng của nó đối với tinh thần người Việt Nam.

Lúc giao thời giữa chữ Hán và chữ quốc ngữ vào đầu thế kỷ chỉ mới có các tiểu thuyết dịch, nhất là dịch truyện Tầu như Tuyết Hồng Lệ Sử, là phổ biến. Cuốn Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách xuất bản năm 1925 được coi là cuốn tiểu thuyết đúng nghĩa của người Việt Nam. Đó là sự vận dụng lâu dài của chữ Quốc ngữ, trong đó Nam Phong Tạp ChíĐông Dương Tạp Chí đóng vai trò quan trọng.

Tự Lực Văn Đoàn ra đời năm 1933 do Nhất Linh khởi xướng chủ trương dùng tiếng Việt dản dị tránh  dùng từ ngữ Hán việt, và các tiểu thuyết của văn đoàn này  mang ý tưởng cải tạo xã hội, đả phá các phong tục cổ hủ, cổ võ nếp sống mới, tôn trọng tự do cá nhân.

Tờ Phong Hóa rồi Ngày Nay là khí cụ sắc bén trong việc phổ biến tư tưởng của nhóm. Các tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn và một số các tác giả khác ngoài nhóm đã có ảnh hưởng rất lớn trong việc đổi mới tinh thần người Việt Nam trong giai đoạn này.

Tiểu thuyết trong giai đoạn 1935-45  đã mang lại những thay đổi tích cực. Về tư tưởng người thanh niên cảm thấy tự do cá nhân mình phải được tôn trọng hơn, mình phải có quyền tự do phát biểu, tự do hành động, bình đẳng với mọi người. Trước kia sống dựa vào đại gia đình, nay muốn tự lập, muốn tự do trong hôn nhân, muốn thiết lập đời sống theo khoa học, bỏ mê tín và hủ tục. Tiểu thuyết còn đem lại hình ảnh lý tưởng của người trẻ tuổi tranh đấu cho xã hội như Dũng trong “Đoạn Tuyệt”, đem lại quan niệm vui sống, một đời sống cường tráng, lành mạnh (“Con đường sáng”, “Mười Điều Tâm Niệm” của Hoàng Đạo). Tiểu thuyết cũng đóng góp vào việc đổi mới hình thức con người Việt Nam thời bấy giờ như cắt tóc ngắn, mặc âu phục, cải cách y phục cổ truyền… Nói chung người Việt Nam giã từ cái khuôn khổ phong kiến để đón nhận những đổi mới từ nội dung đến hình thức.

Trong phần thảo luận có ý kiến cho rằng cái cũ chưa hẳn là không có điều hay, nhất là tinh thần đạo đức của Khổng Mạnh. Việc đả phá triệt để cái cũ có thể phá luôn tài sản quý giá có sẵn.

Thiết trình viên cho rằng cần thái độ quyết liệt khi muốn hay đổi từ tình trạng này sang một tình trạng khác, tuy nhiên khi đọc sách người độc giả có quyền và cần phải suy xét chứ không nên hoàn toàn tin vào những gì sách nói

 ***

                             Buổi Hội thảo Thứ Năm; ngày 19 tháng 9, 1993
                                      với đề tài Phải nhìn lich sử như thế nào?
                             Thuyết trình viên: giáo sư Phạm Cao Dương

Bài thuyết trình của giáo sư Phạm Cao Dương xoay quanh những điểm cau:

Sử gia Phạm Cao Dương

1. Thái độ cần có để nhận địch về Lịch sử Việt Nam là:

  1. Nhìn một sự kiện lịch sử trong toàn bối cảnh của nó: xẩy ra trong những thời gian nào, đặc điểm của thời gian đó là gì, xẩy ra trong không gian nào, hoàn cảnh kinh tế chính trị lúc đó ra sao vv.. Không nên nhìn lịch sử như là các sự kiện chính trị chỉ liên quan đến các triều đại vua chúa, các chiến tranh…
  2. Học sử không phải là lặp lại một chuỗi sự kiện và biến cố, mà là tìm hiểu toàn bộ hoàn cảnh mà sự kiện và biến cố ấy đã xẩy ra: đó là sự lý giải quá khứ hơn là chỉ ghi nhận và kể lại quá khứ
  3. Các sự kiện biến cố cần được nhìn qua tất cả những tính cách đa dạng phức tạp của chúng, nhìn trong toàn bộ các khía cạnh.

2. Có hai khuynh hướng nghiên cứu lịch sử:

  1. Tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử trước rồi từ đó mới đi đến kết luận, đúc kết thành lý thuyết. Khuynh hướng này tôn trọng sự thật lịch sử, thái độ người nghiên cứu bao dung cởi mở, chấp nhận sự khác biệt
  2. Đã có lý thuyết sẵn về lịch sử, công việc của nhà sử học là dùng dữ kiện, biến cố để chứng minh cho lý thuyết ấy. Sử học trong chế độ cộng sản theo khuynh hướnh này. Lịch sử của xã hội nào, quốc gia nào cũng bị cưỡng ép để phải tiến triển qua đúng như lý thuyết của Mác. Hoặc có khi dùng lịch sử để thuyết phục cho nhu cầu nhất thời, ví dụ để phục vụ cuộc chiến tranh vừa qua, ngành sử học Hà nội đã làm đủ mọi cách để chứng minh dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Việc có lý thuyết trước rồi cố gắng quy nạp lịch sử vào cho vừa vặn lý thuyết đó có cái nguy hiểm là lịch sử sẽ bị bóp méo, giả mạo
  1. Cần nhìn biến cố của một địa phương hay quốc gia trên một bình diện lớn hơn địa phương hay quốc gia đó. Ví dụ một giai đoạn lịch sử nào đó của Việt nam cần phải đặt trên bối cảnh vùng Đông Nam Á, của Á châu hoặc có thể của cả thế giới mới hiểu hết được. Chẳng hạn cuộc xâm lăng Việt Nam của người Tầu, vào thời nhà Hán thế kỷ thứ III trước Tây lịch, nếu xét trên toàn cảnh lịch sử nước Tầu lúc đó thì sẽ thấy vì lý do nền an ninh của người Tầu hơn là vì kinh tế. Cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng nếu nhìn rộng thì sẽ thấy nguyên do sâu xa là do chính sách của người Tầu chứ không phải là do việc riêng tư là Thi Sách bị giết. Tô Định đã quyết định lấy ruộng đất của giới quý tộc Việt nam để dành cho người Hán di dân sang, đo đó gây bất mãn rất lớn trong các thủ lãnh quyền quý người Việt Nam, nên giới này hưởng ứng ngay cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng trên khắp nước Việt. Việc thù riêng của Trưng Trắc chỉ là ngòi nổ trực tiếp
  1. Đặt các sự kiện và nhân vật vào đúng thời đại của nó. Dùng các tiêu chuẩn của thời đại này để đành giá hay phê bình một thời gian khác sẽ dẫn tới chỗ bất công. Thiếu sự công bằng thì không thể có một sự đánh giá đứng đắn được.
  1. Lịch sử là một khoa học gián tiếp, ta chỉ có thể xem xét một sự kiện qua tài liệu. Một sự việc không thể tin hoàn toàn được một khi không có tài liệu chứng minh. Và tài liệu sử để đạt được đến sự chính xác khách quan, có thể được xem xét lại nhiều lần, được sửa chữa bổ sung thêm, hoặc có khi phải thay thế hẳn bằng một tài liệu khác.
  1. Sử là một môn học rất quan trong vì chứa đựng các bài học của quá khứ con người. Việc học hành ngày xưa chỉ nhằm vào có hai môn kinh và sử (nấu sử sôi kinh). Nhưng đó cũng là một môn học quá rộng lớn, bao gồm nhiều môn học khác có thể có nhiều cách lỳ giải khác nhau cho một sự kiện, cho nên nó cũng mang một nguy cơ là có khả năng “nói láo cũng được” tùy theo chủ quan của sử gia. Có lẽ môn sử học chỉ có thể đạt gần đến lý tưởng chứ không bao giờ đến được chỗ lý tưởng là sự khách quan tuyệt đối.

Trong phần thảo luận để giải thích cho một học viên về vấn đề bằng chứng lịch sử, giáo sư Dương nhấn mạnh: người nghiên cứu sử không bao giờ dừng lại một chỗ, không bao giờ có thái độ xem một bằng chứng là vĩnh viễn đúng, phải có thái độ khiêm tốn và không tự ái để chấp nhận những chứng cứ mới.

Một học viên nêu câu hỏi: Nhận xét lịch sử Việt Nam thì thấy rằng thời kỳ nào một tư tưởng nào đó đóng vai độc tôn thì quốc gia không mạnh. Đời nhà Lý Phật giáo được coi là quốc giáo, như vậy Phật giáo độc tôn, tại sao quốc gia thời đó vẫn cường thịnh?  Giảng viên trả lời: Đời nhà Lý Phật giáo được coi là quốc giáo chỉ về phương diện tinh thần, tín ngưỡng chứ không độc tôn chèn ép các tư tưởng khác nhất là bản thân Phật giáo không đóng vai trò chính trị. Mặc dầu các vị sư là quốc sư nhung bản thân các vị đó cũng am hiểu Nho giáo, và Nho giáo cũng phát tiển, bằng chứng là Văn miếu đầu tiên thờ Khổng tử đã có vào đời nhà Lý.

Một câu hỏi khác khá gai góc: ta phải đánh già công đánh Pháp của cộng sản như thế nào? Giảng viên nhắc lại một nguyên tắc được thuyết trình ở trên, đặt vấn đề trong bối cảnh rộng lớn thời bấy giờ, tức là vai trò lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp vào thời điểm 1945 rồi mới đánh giá.

Cước chú– Không có Hội thảo hai ngày Chủ nhật 26 tháng 9, 1993 v à Chủ nhật 3 tháng 10, 1993

 ***

                          Buổi Hội thảo Thứ Sáu; ngày Chủ Nhật 10 tháng 10, 1993
                                  với đề tài Ý nghĩa lich sử và ý nghĩa dântộc
                                          của hai cuộc Di cư 1954 và 1975
                          Thuyết trình viên: giáo sư Hà Tường Cát và Phạm Cao Dương

Ông Hà Tường Cát mở đầu bài thuyết trình cho rằng hai cuộc di cư 1954 và 1975 có chung một nguyên do thúc đẩy, đó là động lực chính trị, người dân di tản đi nơi khác, vì không muốn sống với chế độ cộng sản.

Nhà báo Hà Tường Cát

Ngoài điểm giống nhau ấy có nhiều điểm khác nhau. Cuộc di cư 1954 thỉ xẩy ra một lần vào thời điểm quy định của Hiệp định Genève, trong khi cuộc di tản năm 1975 bắt đầu vào thời gian mất miền Nam, nhưng còn kéo dài cho mãi đến hiện tại cũng chưa chấm dứt hẳn với các hình thức như vuợt biển, đi đoàn tụ, con lai, theo chương trình HO…

Tâm trạng của người ra đi trong hai cuôc di tản cũng khác nhau; năm 54 ra đi còn dựa vào Hiệp định Genève với chương trình thống nhất đất nước sau hai năm, và đi từ miền Bắc vào miền Nam thì cũng chỉ là di chuyển trong phạm vi nước Viêt, trong khi ra đi năm 75, với tâm trạng của người Việt Nam đã mất hẳn, người di tản ra khỏi nước là để sống nhờ thế giới. Ngoài lời tự hứa của một số người là một ngày nào đó sẽ quay về quang phục Việt Nam thì không có một chứng cớ pháp lý nào, dù hão huyền, để nghĩ là sẽ có ngày về lại quê cha đất tổ.

Về con số một triệu người di cư năm 54 diễn giả cho là quá đáng, con số tròn 1 triệu nói ra cho thuận tiện về mặt tuyên truyền (sau đó một học viên cho biết có đọc một tài liệu chính thức của chính quyền VNCH  là trên 800 ngàn). Năm 1975 con số ra đi ngay tháng Tư đã là 100 ngàn, nhưng sau đó tăng lên mãi cho đến nay vẫn chưa ngưng lại.

Đứng trên quan điểm lịch sử và dân tộc mà nhìn thì hai cuộc di cư ấy đem lại một ý nghĩa gì?

Gần một triệu người Bắc di cư vào Nam, và một số không nhỏ cán bộ, bộ đội cộng sản từ Nam tập kết ra Bắc năm 1954 là một nhân tố rất tốt để các con người từ các địa phương xa nhau, có thể gần gụi nhau, sống với nhau, hiểu biết nhau. Đó là một điều tích cực giúp cho sự thống nhất về tinh thần,về hiểu biết của những con người cùng một dân tộc và cùng một đất nước.

Các cuộc di dân từ Bắc vào Nam và ngược lại đã là một dịp trao đổi văn hoá rất lớn, mà nếu bình thường, một quốc gia phải có một chương trình tốn kém và lâu dài mới thực hiện được.

Sau năm 1975 chính quyền cộng sản đã vội vã thống nhất đất nước về mặt nhà nước và chính trị. Điều này có thể có nhiều điểm không lợi cho cộng sản vì sự giao lưu dễ dàng giữa hai miền Nam Bắc sẽ khiến dân miền Nam thấy rõ thực chất bần cùng của một xã hội cộng sản khi so sánh với đời sống miền Nam. Nhưng về quan điểm dân tộc thì có lợi về lâu về dài. Sau mấy mươi năm sống cách biệt với các hệ thống tuyên truyền thù địch khác nhau, không có gì có thể khiến cho người dân bình thường của cả hai miền thông hiểu nhau hơn là trực tiếp tiếp xúc với nhau, thăm viếng nhau, làm ăn với nhau. Tâm lý dân tộc nhờ đó mà được thống nhất mau chóng.

Cuộc bỏ nước ra đi của một bộ phận dân Việt Nam từ 75 đến nay mang một ý nghĩa gì về lịch sử và dân tộc?

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà có môt đợt di cư lớn đến như thế của dân Viêt Nam ra toàn thế giới. Nếu kể cả số người Việt Nam từ các nước Đông Âu và Liên Xô không hồi hương sau khi chế độ cộng sản sụp đổ – đây cũng giống một hình thức di cư nữa –  thì quả là dân Việt Nam đã ra đi  hầu như đến mọi nước trên thế giới. So với cuộc ra đi từ năm 75 thì cuộc di cư năm 54 chẳng thấm vào đâu về nhiều phương diện. Nó chỉ là một cuộc di cư cục bộ trong phạm vi một nước trong khi chuyến ra đi 75 là cuộc ra đi hành tinh. Chuyện ra đi 54 chỉ xẩy ra một cách trật tự trong vòng hơn một năm.  Chuyến 75 kéo dài hơn 18 năm, diễn ra dưới đủ mọi hình thức và gặp nhiều nỗi đau thương đến độ đánh động đến lương tâm của cả nhân loại.

Ông Phạm Cao Dương

Theo giáo sư Phạm cao Dương lịch sử Việt Nam phải tính theo từng giai đoạn 1000 năm. Từ đầu công nguyên nước ta trải qua 1000 năm Bắc thuộc. Trong 10 thế kỷ tiếp đó (thế kỷ 11 đến 20) là thời đại tự chủ tuy rằng trong đó có những thời gian ngắn lệ thuộc ngoại bang. Trong thời Bắc thuộc đã đành, trong cả thời đại tự chủ nước ta chịu ảnh hưởng sâu đậm của Trung Hoa. Suốt thời đại tự chủ, thế giới đối với Việt Nam chỉ là Trung Hoa. Trung Hoa là mẫu mực. Cho mãi đến năm 1905 , ý thức Việt Nam về thế giới bừng tỉnh, quyết thoát khỏi ảnh hưởng ngàn năm của Tầu để học hỏi thế giới bên ngoqài, với phong trào Duy Tân, Đông Du. Từ đó đến nay dân Việt Nam vẫn chưa ngừng đi tìm nơi thế giới bên ngoài mà cuộc di dân từ năm 1975 là một động tác to lớn nhất, có ý nghĩa nhất. Vấn đề là: làm thế nào để người Việt hải ngoại trở thành một khối?

Song song với chuyến di tản ra thế giới từ 1975 đã c ó một cuộc di cư nhỏ diễn ra trong nước: người Bắc lại vào Nam. Đó là sự xâm nhập chính trị, xâm lấn về kinh tế nhưng bao trùm tất cả có lẽ là sự ra đi vào Nam để tìm đất sống mới của đám dân chúng đã mòn mỏi với một vùng đất đã trở thành quá chật hẹp, về kinh tế cũng như về chính trị.

Phần thảo luận rất phong phú và hào hứng có lẽ vì đây là vấn đề gần gũi, thân thiết đế tất cả mọi người hiện diện. Nếu hai cuộc di cư là lịch sử thì mọi người có mặt trong lớp hội thảo đều đã là những người làm nên lịch sử.

Nói chung thì mọi người đều đồng ý về ý nghĩa tích cực của cuộc ra đi năm 75, và còn có khuynh hướng muốn xem Việt Nam hiện tại là một nước không còn nằm trong biên giới Việt Nam. Nhưng cũng có chung một niềm thao thức người Việt nước ngoài liệu có làm được gì cho nước Việt Nam? Chúng ta có đoàn kết không? Các thế hệ sắp tới có còn thiết tha đến Việt Nam nữa không?

Khuynh hướng của thế giới hiện tại là tôn trọng sắc thái chủng tộc của các nhóm di dân. Các cộng đồng di dân không cần phải cố gắng quá nhiều để tránh bị đồng hóa nhanh chóng. Đó là một thuận lợi để người Việt hải ngoại bảo tồn bản sắc dân tộc của mình, giữ gìn tinh thần yêu mến đất nước và dân tộc Việt Nam. Có làm được gì hay không là tùy thuộc ở tất cả chúng ta.

***

                               Buổi Hội thảo Thứ Bẩy; ngày Chủ Nhật 17 tháng 10, 1993.
                                   với đề tài Đại Cương về Nhạc cổ truyền Việt Nam.
                                        Thuyết trình viên: ông Nguyễn văn Châu
 

Diễn giả Nguyễn văn Châu và một nhóm thành viên  của ban nhạc dân tộc Lạc Hồng đã vừa trình bầy nhạc lý thuyết của nhạc cổ truyền Việt Nam vừa minh họa bằng điệu đàn tiếng hát. Đây là buổi hội thảo hết sức hấp dẫn. Cả lớp được tiếp nhận những lời giảng khúc triết chí tình của một bậc thầy đầy tâm huyết với nền nhạc cổ truyền Việt Nam vừa được thưởng thức đàn ngọt hát hay, càng hay hơn vì được giảng giải tính chất của từng tiếng đàn, đặc điểm của từng điệu hát.

Theo diễn giả Nguyễn văn Châu, khác với các bộ môn khác như văn chương hay hội họa, âm nhạc cổ truyền Việt Nam thiếu thốn các tài liệu một cách trầm trọng. Chỉ có hai cuốn sách xưa nhắc đến âm nhạc một cách qua loa sơ lược là “Vũ Trung Tùy Bút” của Phạm Đình Hổ và “Kiến Văn Tiểu Lục”  của Lê Quý Đôn. Cả một bộ môn quan trọng là âm nhạc của cả một nước mà không có một bộ sách chuyên môn nào để lại cho hậu thế thì quả là một sự lạ.  Luận án tiến sĩ tại Pháp của Trần Văn khê cũng rất khái quát, nặng tính cách mô tả, vì thiếu tài liệu.

Trong quá khứ người Trung Hoa trong những lần xâm lấn nước ta với ý đồ muốn đồng hóa nước ta với Tầu, đã cố gắng vơ vét tất cả tài liệu thuộc về văn hóa Việt Nam đem về Tầu. Ta mất rất nhiều sách vở là vì thế. Nhưng dù mất rất nhiều tài liện văn hoá, Việt Nam vẫn tồn tại, trong đó có âm nhạc Việt Nam, và người đời nay vẫn có thể nghiên cứu, tìm hiểu sâu về âm nhạc dân tộc với những vốn liếng hiện có và với tâm hồn thừa kế những nét nghệ thuật truyền lại từ đời trước.

Vấn đề là phải học hỏi nhiều để có kiến thức, phải tập tành nhiều để thấm nhuần các điệu thức cổ xưa cũng như rành rẽ các nhạc khí cổ truyền. Khi xử dụng các tài liệu do người Tây phương viết về nhạc truyền thống Việt Nam thì phải cẩn thận trọng đắn đo vì các tác giả là người ngoài nhìn vào với con mắt khoa học và phân tích, nhiều khi sẽ không chính xác vào một lãnh vực đầy uyển chuyển tế nhị là âm nhạc Việt Nam.

Khuynh hướng của thế giới ngày nay đối với văn hóa mỗi quốc gia là cần biết rõ các đặc điểm của mỗi nền văn hóa chứ không chấp nhận các tính cách chung chung. Vậy đặc điểm của âm nhạc Việt nam là gì? Do vị trí địa lý và do sự tiến hóa lịch sử của ta, Việt nam đã chịu ảnh hưởng của nhiều loại làn điệu cũng như nhạc khí. Phía  Bắc, ảnh hưởng Trung hoa. Trên đường Nam tiến, gặp gỡ một nền văn minh không phải không rực rỡ mang mầu sắc Nam Á của Chiêm Thành, Chân Lạp. Người Việt Nam đã tiếp thu các làn điệu mới, các kỹ thuật cũng như các nhạc cụ mới để làm phong phú cho vốn liếng âm nhạc của mình.

Các yêu tố Bắc Nam ấy qua môi trường trung gian Việt Nam đã pha hòa với nhau như nước với sữa để làm thành: phường bát âm, sân khấu chèo, hát bội, cải lương, nhạc đám ma, nhạc chầu văn, hát ả đào, nhạc thính phòng, nhạc tài tử…Tất cả là một gia tài đồ sộ và phong phú, nếu đem so sánh với thế giới ta không hề e ngại có mặc cảm thua sút.

Có thể nói thiên hạ có cái gì chúng ta cũng có một hình thức tương ứng với tất cả chiều sâu tinh tế của nghệ thuật. Tây phương có sân khấu kịch Opéra, Việt nam có sân khấu hát bội với các động tác tượng trưng giầu có tính cách nghệ thuật. Bát âm là dàn giao hưởng của chúng ta. Musique de chambre với nhạc thính phòng kiểu Huế hầu như có cùng tính cách và tên gọi. Trong các nghi thức tín ngưỡng, người Việt Nam có nhạc tế lễ và nhạc lên đồng là một hình thức kích động đặc biệt để đưa con người từ trạnh thái tinh thần này sang một trạng thái khác. Ngày nay ta thấy rất nhiều người hát đơn ca phải có nhạc đệm theo thì trong âm nhạc cổ truyền Việt nam cũng thế, chẳng hạn như nhạc đệm cho ca trù là một lối đánh nhạc rất khó.

Về nhạc khí, so với thế giới ta cũng có đầy đủ. Bộ hơi có kèn, sáo, tiêu. Bộ dây có tranh, bầu, nguyệt, nhị. Bộ gõ có trống, phách đủ loạTrước khi ban Lạc Hồng trình tấu minh họa bài “Kim Tiền”, giáo sư Châu đã giới thiệu từng nhạc khí được sử đụng gồm đàn bầu, đàn tranh, đàn tỳ bà và đàn nhị, đặc biệt đàn bầu lả đàn một dây. Đây không phải là cây độc huyền cầm độc nhất trên thế giới, nhưng khả năng của nó thì không nơi nào có thể so sánh được, vì đã sử dụng sáu nút hồi âm, khiến cho chỉ trên một đoạn giây ngắn không đầy một mét, đàn có thể làm phát triển 48 nốt khác nhau với các âm sắc vô cùng tinh tế uyển chuyểnâi đyâi đBài “Kim Tiền” thì chắc hầu hết mọi người trong lớp học đã được nghe qua rồi, nhưng trong buổi hội thảo này, sau khi được giáo sư Châư giải thích cặn kẽ các nhạc khí cũng như khả năng độc đáo của âm nhạc dân tộc, mọi người đều nghe một cách thấm thía hơn, thấu hiểu hơn, cảm thấy bản nhạc mang một giá trị khác hẳn các lần nghe trước và nhất là cảm thấy mình gần vời hồn dân tộc hơn.

Dưới đây là bài “Kim Tiền Lưu Thủy”  do một ban nhạc dân tộc trình bầy.

 

Tổng hợp từ nhiều nguồn ảnh hưởng khác nhau, vậy đâu là đặc điểm của nhạc Việt nam? Đặc điểm của nhạc Việt nam bắt đầu từ năm dấu giọng cũa tiếng nói Việt Nam. Vì nhạc khởi thủy là hát, mà người việt Nam hát thì phải theo năm dấu giọng của mình, nên làn điệu phải phong phú và  âm nhạc Việt nam do đó phong phú theo. Nhạc cụ do người Việt nam sử dụng phải thực hiện được sự nhấn nhá, sự luyến láy. Đàn bầu, đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn nguyệt, đàn nhị đều có khả năng ấy. Một vài nhạc khí tây phương dùng trong các bản vọng cổ cũng phải phần nào có khả năng ấy, như cây vĩ cầm (violon), cây lục huyền cầm (ghi ta) biến chế để có phím lõm. Ít dùng hòa âm cũng là một đặc điểm của nhạc Việt nam, vì nhiều luyến láy thì khó hoà âm.

Thúy Anh, một thành viên của ban lạc Hồng đã ngâm sa mạc bài “Bà Rằng Bà Rí” và tiếp theo là “Hò Mái nhì” và “Mười Thương”, dân ca miền Trung. Đây là hai khúc hát Bắc và Trung để chứng minh lời giảng của Giáo sư Châu: cùng là những khúc ca buồn, nhưng cái buồn của dân ca Bắc nhẹ nhàng và trong sáng khác với cái buồn sâu lắng ray rứt của làn điệu miền Trung có lẽ đã nhiễm ảnh hưởng và tâm cảnh Chiêm Thành.

Thúy Anh hát tiếp bài “Lý Lu Là” là dân ca miền Đồng Tháp làm sáng tỏ một luận điểm khác: dân ca Trung và Nam phần nhiều giống nhau về bài bản nhưng cách nhấn nhá, luyến lắy của dân miền Trung vào đến miền Nam đã biến chất theo với giọng nói mộc mạc đầy tính cách đồng nội của dân Nam.

Âm nhạc Việt Nam có một vị trí nào trên thế giới không? Khi mới nghe nhạc Việt Nam, người Tây phương cảm thấy có một cái gì đó không ổn. Một cái gì nó faux. Vẫn theo lời giáo sư Châu, có cảm tưởng đó là do tính cách của nhạc việt nam, các âm thanh không dứt khoát, các âm “lơ lớ” đối với đôi tai đã quen với các âm tiết rõ rệt “đâu ra đó”. Và còn do cách trình tấu, nhạc Việt Nam thiên về tâm linh, người tấu nhạc thoải mái với tâm hồn chủ quan của mình, trong khi nhạc Tây phương chặt chẽ không cho phép người trình tấu sáng tạo trong lúc trình bầy.

Mỗi dân tiộc, mỗi nền văn hóa có cách biểu hiện riêng của mình, không thể nói là cái nào hay cái nào dở. Điều then chốt là nói lên được các đặc điểm của mình. Nhiều nhạc sĩ nổi tiếng trên thế giới đã phát triển các nét độc đáo của nền âm nhạc dân tộc họ như Chopin với các Mazurka của Ba Lan, Tchaikostky với các điệu dân ca Nga. Người Việt Nam có một vốn liếng cổ phong phú, cần biết bảo tồn, phát triển và giới thiệu ra thế giới.

Ngọc Quỳnh đã dùng đàn tranh trình bầy bài “Tình Ca Đất Bắc” của Phạm Thúy Hoan, một bài phối hợp lối đánh cổ với các sáng tạo mới như búng dây bằng cả hai tay và có hòa âm. Bài này chứng minh khả năng “hiện đại hóa” âm nhạc cũng như nhạc khí cổ truyền việtNam.

Ngược lại một số bài tân nhạc mang âm hưởng thích hợp cũng có thể được trình tấu một cách chân phương với nhạc khí cổ truyền. Giáo sư Châu đàn bầu, Ngọc Quỳnh đàn tranh, đã song tấu bài “Làng tôi’ của Chung Quân để chứnh minh cho điều này, và đã chứng minh hùng hồn vì trình diễn rất hay.

Giáo sư Châu kết luận rằng nhiệm vụ của cộng đồng người Việt hải ngoại là phát huy các đặc điểm văn hoá của mình cho người bản xứ, để có sự kính trọng lẫn nhau, cùng nhau xây dựng một nếp văn hóa đa dạng. Âm nhạc Việt nam là một kho tàng hoàn toàn xứng đáng để được nghiên cứu, tập tành và giới thiệu.

Trong phần thảo luận, có câu hỏi: phải chăng trong nhạc Việt Nam không có cung TrưởngThứ  một cách rõ rệt như nhạc Tây phương. Giáo sư Châu trả lời: Nhạc Viêt Nam căn bản dựa trên ngũ cung, tình cảm vui buồn là theo cách cách trình diễn, cách nhấn nhá chứ không theo thứ tự các nốt. Nhấn một cách nào đó bản nhạc là Trưởng, nhấn một cách khác là Thứ. Nhạc cổ Tây phương cũng có tính cách như vậy.

Một câu hỏi khác: Trong một bản nhạc Việt Nam, nốt cuối cùng có nhất thiết phải là nốt chủ âm không? Câu trả lời là không.

***

                             Buổi Hội thảo Thứ Tám; ngày Chủ nhật ngày 24 tháng 10, 1993
                                             với đề tài Lịch sử Mỹ Thuật Vuệt nam
                               Thuyết trình viên: Họa sĩ Nguyễn Đồng Nguyễn Thị Hợp

Họa sĩ Nguyễn Đồng và Nguyễn Thị Hợp

Sau đây là tóm tắt những chủ điểm của bài nói ấy.

1. Những thời kỳ lịch sử mỹ thuật:

1.1 Thời tiền sử

Đồ đá cũ: Di tích Núi Sọ, Hòa Bình Bắc Sơn (300,000 năm)
Đồ đá mới: Hòa bình, Bắc Sơn I II, Bàu Tró, Hạ long (10,000 đến 5000 năm)
Đồ Đồng : Đông sơn (khoảng 4,000 năm)

1.2 Thời Đại La (thời Bắc thuộc, thế kỷ thứ II trước Tây lịch đế thế kỷ thứ X)

Phật tích (Bắc Ninh): Tượng đá, Tháp Cao biền, thành Đại la

1.3 Thời lý

Chùa Phật tích, chùa Một Cột, đồ gốm bát Tràng.

1.4 Đời Trần

Chùa Phổ Minh, chùa Bút Tháp, thành nhà Hồ Lăng mộ.

1.5 Thời Lê

Tháp Rùa, chùa Tây Phương, , Chùa Keo, Văn Miếu, đình làng Đình Bảng.

1.6 Thời Nguyễn

Thành Huế, Cung điện, chùa Tân Phước, chùa Thiên Mụ.

1.7 Thời hiện đại

Thế hệ đầu tiên khoảng 1930, với Trường cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương

Những họa sĩ đầu tiên của mỹ thuật thời hiện đại:

Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Lê văn Đệ, Tô Ngọc Vân, Mai Trung Thứ, Lê Phổ, Vũ Cao Đàm.

2. Danh từ trong Kiến trúc

Chùa
Đình
Văn miếu, Đàn Nam Giao, miếu, Đền, Am.

 3.Các kỹ thuật căn bản

                Điêu khắc, Tượng, Chạm nổi, Khảm, Cẩn
               Sơn Mài, Lụa
                Trang khắc gổ dân gian, Tranh Tết

***

                              Buổi Hội thảo thứ Chín: ngày Chủ Nhật 31 tháng 10, 1993
                                với đề tài: Vài đặc điểm của nền Văn học Hiện Đại
                   Thuyết trình viên: ông Phạm Xuân Đài và ông Hoàng Khởi Phong

Ông Phạm Xuân Đài

Mở đầu phần thuyết trình của mình,  ông Phạm Xuân Đài minh xác văn học quốc nội hiện đại là văn học của một nước cộng sản. Ông sẽ nói về một số đặc trung của nền văn học ấy.

Ôngh Phạm Xuân Đài nói rằng Việt nam có một nền văn học truyền thống, thành văn và bất thành văn. Riêng văn học thành văn đã trải qua văn học chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ như ngày nay. Cho đến năm 1945  văn học Việt nam, dù dưới hình thức chữ viết nào,  dù dưới ảnh hưởng Phật, Khổng, Lão, hay tư tưởng Tây phương cũng là một dòng liên tục, cái sau thừa kế cái trước và vun bồi thêm cái mới.

Nhưng khi cộng sản đã nắm chính quyền thì họ đã phủ nhận tất cả thành tựu của quá khứ về văn học để thiết lập hẳn một nền văn học mới gọi và văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Có thể chia tạm nền văn học ấy thành những thời kỳ như sau:

–          Từ 1945 đến 1954: nền văn học còn phôi thai trong cuộc Kháng chiến Chống pháp. Nó còn chịu ảnh hưởng của văn học truyền thống từ trước 1945, đồng thời mang những nét hào sảng mới mẻ của một dân tộc đang đứng lên chống ngoại xâm. Đặc biệt thơ khá phong phú và có giá trị với các tác giả Hoàng Cầm, Quang Dũng, Hữu Loan… Một ngành có bà con gần với văn học là ngành nhạc cũng có những tác phẩm hay với Văn Cao (“Trường ca sông Lô”), Đỗ Nhuận (“Tiếng hát Sông Thao”) , Phạm Duy với dòng nhạc cảm hứng từ dân ca v.v… Về cuối thời kỳ này khi đảng Cộng sản bắt đầu phát động  đấu tranh giai cấp (đấu tố) và kiểm soát tư tưởng chặt chẽ thì không thấy có tác phẩm hay nữa.

–          Từ 1954 đến 1986. Sau Hiệp định Genève 1954, Cộng sản chiếm nửa nước thì nền văn học xã hội chủ nghĩa  đã được hình thành rõ rệt ở miền Bắc. Một số đông văn nghệ sĩ ưu tú của miền Bắc, trước nguy cơ bị tước đoạt hết tự do để khép chặt vào một khuôn khổ của một nền văn nghệ chỉ huy, đã vùng vẫy tranh đấu tạo thành phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Sau khi phong trào này bị đàn áp khốc liệt, đảng Cộng Sản tạo ra một nền văn học thuần túy xã hội chủ nghĩa mà các đặc điểm là:

a) Văn học hoàn toàn được điều khiển bởi chánh trị. Văn học là công cụ của chế độ. Hội Nhà Văn được thành lập. Giới cầm bút đều lệ thuộc vào đó về viết lách và xuất bản.

b) Văn học hiên thực xã hội chủ nghĩa phải đoạn tuyrệt với văn học truyền thống để định lại các quan niệm căn bản của sáng tác. Dựa trên chủ nghĩa Duy vật, nền văn nghệ này quan niệm mọi thứ đều từ vất chất mà ra, kể cả tư tưởng, tình cảm. Văn chương đó phải có tính hiện thực, cái Thật, cái Tốt, cái Đẹp đều bắt nguồn từ sự vật cụ thể rõ ràng, không có quyền gây mơ hồ khó hiểu.

c) Văn học cũng như mọi tư tưởng của xã hội phải tuyệt đối đứng trên lập trường của giai cấp vô sản. Các tiêu chuẩn Chân, Thiện, Mỹ phải định lại cho vừa tầm của một con người lao động bình thường. Giai cấp vô sản đang đấu tranh dành quyền lợi vào tay mình để tiến lên chủ nghĩa xã hội, văn học phải là công cụ cho cuộc đấu tranh ấy.

Kết quả của nền văn học được điều khiển bởi Đảng này là suốt giai đoạn 1954-1986 không có lấy một tác phẩm hay, dù là một quyển tiểu thuyết, một bài thơ hay một bài hát. Rõ ràng là không thể có sáng tạo đích thực khi con người bị kềm kẹp.

–          Thời kỳ (tạm gọi là) Mở cửa, Cởi trói từ 1986 đến nay. Đảng cộng sản Việt nam theo chân Liên Xô trong phong trào Petroiska và Glasnot và cũng để tự cứu mình, đã chủ trương “đổi mới” sau Đại hội 6 của Đảng. Tổng bí thư Đảng Nguyễn Văn Linh trong một lần gặp gỡ giới văn nghệ năm 1987 đã tuyên bố “cởi trói”.

Gần như ngay lập tức có sự khởi sắc trong văn học. Các ký sự nói lên nỗi thảm khốc trong xã hội cộng sản, vừa mang tính tố cáo vừa có tính nghệ thuật đã làm rúng động người đọc. Văn học vừa bước chân ra khỏi các trói buộc về thể tài và kỹ thuật đã có ngay các tác giả các tác phẩm đáng chú ý như Nguyễn Huy Thiệp (“Tướng về hưu”), Dương Thu Hương (“Những Thiên đường Mù”, “Bên kia bờ ảo vọng”..) Phạm Thị Hoài (“Mê lộ”..), Bảo Ninh (“Nỗi buồn chiến tranh”), Lưu Quang Vũ (với các kịch bản).

Nếu chỉ xét một cách thuần tuý văn học mà bỏ ra ngoài quan điểm chính trị rằng đây có phải là văn học phản kháng hay không, ta có thể nói thời kỳ này đã có tác phẩm hay, khác hẳn với nền văn học khẩu hiệu 30 năm trước đó.

Tiếp theo phần trình bầy của ông Phạm Xuân Đài, nhà văn Hoàng Khởi Phong đi vào một vài tác giả và tác phẩm cụ thể đã gây nhiều dư luận trong và ngoài nước trong thời khoảng mấy năm gần đây.

Ông Hoàng Khởi Phong

Trước tiên những tác phẩm của những nhà văn này đã gây nên những cuộc bút chiến ở mọi nơi tác phẩm được phổ biến. Nhà văn Hoàng Khởi Phong đề cập đến “Ly Thân” của Trần Mạnh Hảo, “Những thiên đường mù” cũa Dương Thu Hương, “Đi về nơi hoang dã” của Nhật Tuấn, “Nỗi buốn chiến tranh” của Bảo Ninh những chuyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Ông cũng có đề cập đến kịch của Lưu quang Vũ và phim của Trần Văn Thủy.

Với một thời lượng là một tiếng đồng hồ, thật không thể nào đủ để đi qua một loạt những tác phẩm đó. Ông đề nghị các tham dự viên nên tìm đọc các quyển sách kể trên để có thể có được những nét nhìn tổng quát của dòng văn học trong nước. Cần phải đọc để thấy họ có phản kháng hay không? Phản kháng ở cấp độ nào? Họ là văn nô hay họ là nhà văn? Nhưng điều quan trọng là tính chất văn chương của những tác phẩm này có được bao nhiêu? Khi những quyển sách này lọt ra ngoài đã có thời những người cầm bút ở hải ngoại tranh cãi, đôi khi đến độ mất hoà khí. Có điều những cuộc tranh cãi chỉ xoáy mạnh vào khía cạnh chính trị của tác phẩm mà quên đi khía cạnh văn chương.

Để trả lời một thắc mắc của tham dự viên hỏi: tại sao không nhắc đến Doãn Quốc Sĩ. Phan Nhật Nam, Dương Hùng Cường cùng hàng trăm ngàn cây bút của miền Nam mà chỉ nói đến những tác phẩm và tác giả của miền Bắc, của Cộng sản. Ông Hoàng Khởi phong đã nói rằng sở dĩ ông chỉ đề cập đến những tác phẩm và tác giả kể trên chỉ vì suốt trong giai đoạn 75 cho đến nay những cây bút miền Nam phần bị giam giữ , tù đầy, phần tự động không viết nữa. Chẳng những guồng máy cai trị đã không cho phép họ viết mà cho dù họ có viết thì cũng chẳng có cơ hội xuất hiện.

Nói như thế không có nghĩa là những cây bút miền Nam đã hoàn toàn không viết nữa. Họ vẫn giữ trong đầu để có dịp thuận tiện. Những Tô Thùy Yên, Phan Nhật Nam, Hoàng Hải Thủy vẫn còn viết, nhưng có điều vì lý do kể trên, chúng ta không có được tác phẩm của những nhà văn miền Nam. Vả lại đề tài thảo luận mà ông phụ trách là điểm qua những tác phẩm xuất hiện trong những năm gần đây. Ông không thể điểm sách của nhà văn Phan Nhật Nam khi tác phẩm của ông Nam vẫn còn giữ trong đầu.

***

                             Buổi Hội thảo Thứ Mười; ngày Chủ nhật 7 tháng 11 1993
               với đề tài Tổng quát về Văn học Hải ngoại từ 1975 cho đén nay
         Thuyết trình viên: nhà văn Nguyễn Mộng Giác và nhà báo Lê Đình Điểu 

Trong buổi hội thảo vào ngày Chủ nhật 7 tháng 11, 1993, nhà văn Nguyễn Mộng Giác và nhà báo Lê Đình Điểu  đã đưa ra một cái nhìn tổng quát về văn học hải ngoại từ 1975 cho đến nay. Đây là buổi cuối cùng trong chương trình kéo dài 14 tuần (từ 8 tháng 8 đến 7 tháng 11, 1993). Ngoài số tham dự viên trẻ tuổi thường lệ còn có mặt các vị giảng viên các buổi hội thảo trước như các giáo sư Lưu Trung khảo, Phạm Cao Dương, Vũ ngọc Mai, Phạm Quân Hồng, Phạm Xuân Đài.

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác

Mở đầu nhà văn Nguyễn Mộng Giác nói về 18 năm văn học hải ngoại với sự phân chia các giai đoạn thành hình và các phân tích các đặc tính của nền văn học ấy như sau:

  1. Các gia đoạn hình thành của văn xuôi hải ngoại – Sự ra đi đột ngột và đông đảo sau ngày 30 tháng 4, 1975 đưa nguyên cả một khối lớn những văn nghệ sĩ và quần chúng thưởng ngoạn ra nước ngoài nên trên các vùng đất mới đã hình thành nhanh chóng một nếp sinh hoạt văn nghệ tiếp nối theo nếp sinh hoạt văn nghệ thời VNCH trước 1975. Tuy nhiên do sự di cư nhiều đợt ở những hoàn cảnh chính trị khác nhau, người Việt di cư hải ngoại có những kinh nghiệm tâm tư khác nhau. Điều đó ảnh hưởng đến văn chương hải ngoại, rõ ràng nhất trong văn xuôi.

1.1 Ở giai đọn đầu tạm giới hạn từ 75 đến 80 văn chương hải ngoại còn ở tình trạng chập chững, bàng hoàng rã rời. Tuy một số nhà văn nhà báo di tản đợt đầu có cố gắng viết lách, làm báo, văn chương để tiếp nối sinh hoạt cũ ở Sài gòn trước 1975, nhưng, như nhà văn Võ Phiến nhận định: “Sự cố gắng ấy cũng chẳng lớn lao mấy. Sau cuộc đổi đời, một số người não nề thấy rõ. Văn nghiệp sau 75 không có gì đáng kể, phần chính vẫn thuộc về thời kỳ trước.” (Ngày Nay, Houston số 42 15-8-1987)

1.2   Phải chờ đến năm 1979 khi bắt đầu có những cuộc vượt biển đông đảo và bi thảm làm xúc động lương tâm cả thế giới, mới có những biến chuyển lớn về phía người viết, người đọc và sinh hoạt văn chương hải ngoại. Những cây bút mới sang trong đợt vượt biển gặp nhiều thuận lợi hơn lớp nhà văn di tản. Họ ra nước ngoài lúc các cộng đồng người Việt thành hình, đã có những tòa báo, nhà xuất bản, đã có những người đọc chờ đón tìm hiểu kinh nghiệm nóng hổi của họ qua mấy năm sống dưới chế độ cộng sản. Có thể xem giai đoạn từ 1979 đến 1982 là giai đọan chuyển tiếp chuẩn bi để văn học hải ngoại nhất là văn xuôi, bắt đầu phát triển nhanh từ 1982  đến nay.

1.3   Giao đoạn phát triển và định hình. Những cố gắng vất vả của những nhà văn sang trước đã đặt nền móng cho văn học định hình và phát triển trong giai đoạn sau, đặc biệt đáng ghi là vai trò các tạp chí văn chương như “Đất Mới” (do Thanh Nam chủ trương), “Văn Học Nghệ Thuật” (do Võ Phiến và Lê Tất Điều chủ trương), “Việt Chiến” ( do Giang Hữu Tuyên, Hoàng Xuân Sơn, Ngô Vương Toại chủ trương), “Nhân Chứng”(do Du Tử Lê chủ trương), “Thời Tập” (do Viên Linh chủ trương).

1.4   Số lượng tác giả mới, ngày càng đông, số sách xuất bản hằng năm gia tăng, nhà xuất bản thêm nhiều , tạo thành một sinh hoạt văn chương phong phú và đa dạng

  1. Các dòng văn học hải ngoại.

Có thể nói gọn: Các nhà văn hải ngoại thường xuyên bị phân thân giữa quá khứ và hiện đại, một quá khứ thân yêu ngày một phai mờ mất dấu và một hiện đại lạ lẫm khó lòng thích nghi. Hai chữ thường xuyên được nhắc tới trong văn chương hải ngoại là “hoài niệm và hội nhập”. Hai đề tài này quyết định cách phân công của văn xuôi hải ngoại 18 năm qua. Văn xuôi hải ngoại có những dòng chính sau đây:

2.1 Dòng hoài niệm – Ở giai đoạn đầu (1975-1970) văn chương hoài niệm mang nặng chất bi thương, cô đơn vô vọng và thuở ban đầu lơ láo, tâm trạng hoài niệm thể hiện dễ dàng và phong phú qua Thơ hơn là qua Văn. Đánh dấu giai đoạn này là hai tập thơ tiêu biểu của Cao Tần, Thanh Nam, và bàng bạc trong các truyện ngắn tùy bút của Võ Phiến (“Thư Gửi Bạn” “Nguyên Vẹn”) Túy Hồng, Trùng Dương, Thanh Nam, như dường để gói trọn đau buồn, dưới một thể loại gọn, nhẹ dễ phổ biến và ít tốn công phu.

Qua các giai đoạn sau, khi các phong trào vượt biển ồ ạt mang đến cho các cộng đồng tỵ nạn, một sinh khí mới thì dòng văn chương hoài niệm cũng thay đổi. Họ đã tìm được lẽ sống, nên bây giờ nhìn lại quá khứ, họ nhìn lại một cách bình tĩnh thanh thản hơn. Nhờ tâm cảnh ấy văn chương hải ngoai phát sinh hai khuynh hướng sáng tác đặc biệt phong phú tuy vẫn nằm trong dòng hoài niệm:

a)      Khuynh hướng văn chương phong tục của các cây bút miền Nam . Chưa bao giờ số lượng các tác giả miền Nam và các tác phẫm viết về đời sống đồng bằng sông Cửu Long lên cao như hiện nay trong văn xuôi hải ngoại. Tại hải ngoại các nhà văn miền Nam chiếm đa số. Những tác phẩm của họ có một xu hướng và văn phong đặc biệt khác hẳn với những nhà văn miền Trung và miền Bắc. Đề tài họ khai thác là đời sống bình dị hồn nhiên của đa số dân nghèo hoặc trung lưu cấp thấp của miền Nam, trở về thời xa xưa Pháp thuộc (như trong truyện của Hồ trường An, Xuân Vũ, Ngô Nguyên Dũng, Nguyễn Văn Ba) hoặc thời VNCH trước 1975  (trong truyện Kiệt Tấn, Hồ trường An, Nguyễn tấn Hưng) hay sau 75 dưới chế độ cộng sản (trong truyện Nguyễn Đức Lập, Võ Kỳ Điền, Nguyễn Văn Sâm). Ngôn ngữ họ dùng là ngôn ngữ nói đầy chất sống hồn nhiên của người miền Nam

b)      Khuynh hướng Hồi ký – Nhờ bình tĩnh hơn các cây bút hải ngoại bắt đầu viết lại những kinh nghiệm trong quá khứ. Đây là kho tài liệu quý giá cho những người viết sử sau này. Gác ra ngoài những hồi ký của các lãnh tụ chính trị như Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu, Nguyễn Chánh Thi, Trần Văn Đôn, Huỳnh Văn Cao, các chính khách như Bùi Diễm, Nguyễn Tiến Hưng, Trần Huỳnh Châu, giới văn nghệ có hồi ký của Phạm Duy, Duyên Anh, Nhã Ca (Hồi ký), Hoàng Liên (“Ánh sáng và Bóng tối”) Cao Xuân Huy (“Tháng Ba Gãy súng”) Hoàng Khởi Phong (“Ngày N+”), Phạm Quốc Bảo (“Cùm Đỏ”), Hà Thúc Sinh (“Đại Học Máu”), Tạ Tỵ (“Đáy Địa Ngục”) Đào Văn Bình, Đào Khanh (“Cá Lớn”).

2.2  Dòng văn chương đấu tranh chính trị.

Tập thể tỵ nạn là những người tỵ nạn vì lý do chính trị cho nên văn chương chúng ta làm ra một nền văn chương lưu vong. Yếu tính của nền văn chương đó là sự đối kháng chính trị đối với chính quyền cộng sản độc tài trong nước. Thành thử hầu hết các văn xuôi hải ngoại , dù dưới hình thức nào, nhiều hoặc ít, trực tiếp hay gián tiếp, đều có khuynh hướng chống cộng. Giữa tác giả này với tác giả kia chỉ khác nhau về phương thức chống cộng còn không khác về mục tiêu. Những tranh luận gay gắt trên báo chí  đều do dị biệt về phương thức mà thôi. Chủ trương đem văn chương làm phương tiện đấu tranh chính trị có tạo được khí thế sinh hoạt văn chương nhưng lại bị lệ thuộc vào tính cách giai đoạn của nhu cầu và thăng trầm của các phong trào chính trị. Bây giờ còn quá sớm để phân biệt đâu là những bài viết có tính cách tuyên truyền giai đoạn và đâu là những tác phẩm văn chương có giá trị lâu dài, nhưng theo kinh nghiệm lâu nay, những tác phẩm đấu tranh chính trị chỉ sống được khi vượt qua được những giới hạn giai đoạn đề cập đến những vấn đề muôn thuở của nhân sinh. Những nhà văn sáng tác theo cảm hứng của mình ở hải ngoại đã viết được những tác phẩm chống cộng sâu sắc. Dường như cây bút nào cũng có một số truyện ngắn chống cộng đạt được trình độ nghệ thuật cao. Nhiều nhất trong khuynh hướng này có Nguyễn Ngọc Ngạn, Thế Giang, Tưởng Năng Tiến, Xuân Vũ, Nguyễn Văn Sâm, Võ Hoàng, Hà Thúc Sinh.

2.3      Dòng văn chương phê phán lịch sử – Cho đến nay thức ăn của văn xuôi hải ngoại vẫn là quá khứ, những kỷ niệm thân yêu của một thời. Nhờ khoảng cách không gian và thời gian, nhờ có nhiều điều kiện tiếp cận với các nguồn tài liệu phong phú và nhân chứng sống, nhà văn hải ngoại dễ dàng có cái mhìn bao quát để nhận định về lịch sử nhất là lịch sử khu vực miền Nam Việt Nam hơn người trong nước. Thể hồi ký phát triển cũng do ưu thế này. Về sáng tác văn chưong hải ngoại chắc chắn sẽ có những công trình lớn ôn lại những thăng trầm của dân tộc chúng ta trong nửa thế kỷ qua. Rất nhiều nhà văn đã hoặc đang viết những bộ trường thiên lịch sử như Nguyễn Mộng Giác ( “Mùa Biển Động”, “Sông Côn Mủa Lũ”), Nguyễn Xuân Hoàng (bộ trường thiên tiểu thuyết 3 tập mới in được hai cuốn  “Người Đi Trên Mây”, “Bụi và Rác”), Mai Kim Ngọc (“Muôn Kiếp Cô Liêu” mới ra cuốn 1). Nguyên Sa (bộ “Giấc Mơ”), Hoàng Khởi Phong ( “Người Trăm Năm Cũ”)…

2.4  Dòng văn chương hội nhập. – Nếu trong dòng văn chương hoài niệm những cây bút miền Nam chiếm đa số thì trong dòng văn chương hội nhập ở hải ngoại, các nhà văn nữ và lớp trẻ giữ vai trò chính. Những tác phẩm văn xuôi xuất sắc viết về kinh nghiệm hội nhập của người Việt hầu hết đều do những cây bút nữ: Trần Diệu Hằng, Lê Thị Huệ, Phạm thị Trọng Tuyền, Vũ Quỳnh Hương, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Nguyễn thị Hoàng Bắc, Vi Khuê, Trần thị Kim Lan, Cao Bình Minh, Phạm Thị Ngọc… Bên nam giới viết nhiều về hội nhập gồm có Võ Phiến (“Thư Gửi Bạn”), Nguyễn bá Trạc (“Ngọn cỏ Bồng”, “Chuyện Một Người Di Cư Nhức Đầu Vừa Phải”), Võ Đình (“Xứ Sấm Sét, Sao Có Tiếng Sóng”), Hồ Trường An (“Hợp Lưu”), Nguyễn Ngọc Ngạn (“Nước Đục”, “Sau Lần Cửa Khép”), Nguyễn Xuân Hoàng (“Sa Mạc”), Mai Kim Ngọc (“Một Chút Riêng Tư” và các tác phẩm khác)

Đề tài thông thường của các tác phẩm dòng này là những đổ vỡ khó khăn của lớp di dân thế hệ thứ nhất, do cách biệt ngôn ngữ văn hóa: nỗi cô đơn của người già, sự hư hỏng đua đòi của lớp trẻ, những đổ vỡ gia đình do quan hệ vợ chồng bị thử thách, cái dởm của những người giầu nổi. Kinh nghiệm hội nhập trong văn xuôi hải ngoại phần lớn là đau thương. Chỉ trừ ba ngoại lệ: Hồ Trường An viết trong “Hợp Lưu” viết về đời sống mới một cách lạc quan rộn rã. Trần thị Kim Lan trong “Gió Đêm” đề cao tình thương thân giữa các chủng tộc trên đất mới. Mai Kim Ngọc nhờ sống lâu năm ở nước ngoài nên lối ghi nhận đời sống và bút pháp gần như hòa nhập tự nhiên vào dòng chung của văn chương thế giới.

Những cây bút trẻ tuổi, hiện nay trên dưới ba mươi, hội nhập dễ dàng hơn vào dòng chính của cuộc sống mới nên viết về kinh nghiệm hội nhập khác hẳn. Tác phẩm của họ không có dấu vết của quá khứ quê nhà. Họ viết về chính cuộc sống hiện tại của họ, của tầng lớp “yuppie” da mầu, đầy tự tin và phóng khoáng trong lối cảm nhận, lối phán xét sự việc. Họ là những cây bút như Phạm thị Ngọc, Nguyễn Hoàng Nam, Trần Vũ , Vũ Ngọc Khôi,  Hoàng Mai Đạt, Dương Như Nguyện, Nguyễn Vũ Quỳnh NH, Đỗ Khiêm , Bùi Diễm Âu.

Nhà báo Lê Đình Điểu

Sau phần trình bầy của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, nhà báo Lê Đình Điểu nói về báo chí, ấn loát  trong vai trò phát huy và quảng bá văn hóa hải ngoại.

Diễn giả cho biết một đặc điểm của báo chí Việt Nam dù là báo thông tin, chính trị hay thương mại đều có phần văn học. Ví dụ nhật báo Người Việt chuyên về thông tin vẫn có hai chuyện dài hàng ngày, thỉnh thoảng có truyện ngắn và thơ. Tạp chí thế Kỷ 21 chủ yếu là một tờ báo chính trị nhưng phần văn học văn nghệ vẫn chiếm một số trang đáng kể. Trong khi đó các báo và tạp chí chuyên về văn học vẫn làm công việc của mình, là phổ biến các tác phẩm văn học.

Một kết quả tự nhiên của đặc điểm này là hầu hết các tập văn, thơ được xuất bản là tập hợp những bài đã đăng trên báo. Do đó người ta có thể thấy rõ ràng vai trò của báo chí (báo in hoặc báo phát thanh) trong công việc giới thiệu tác giả và tác phẩm tới người đọc trước khi các tác phẩn đích thực xuất hiện.

Các tiến bộ kỹ thuât của báo chí hỗ trợ và thúc đẩy việc viết lách, in sách và bán sách. Những chương trình điện toán với chữ Việt có dấu đã giúp người viết tiến hành viết tác phẩm của mình một cách thuận tiện nhanh chóng gọn ghẽ. Những phần mềm của máy điện toán giúp thay đội cỡ chữ, kiểu chữ, dàn trang, vẽ hình nhanh chóng. Nhờ đó các công đoạn để ra đời một cuốn sách trở nên đơn giản. Một người có thể vừa viết vừa trình bầy, dàn trang một cuốn sách. Cách in tân tiến một cuốn sách cũng giúp việc chào đời một cuốn sách thêm dễ dàng, nhanh chóng, hình thức lại đẹp, đáp ứng nhu cầu và sở thích của tác giả.

Riêng việc bán sách ở hải ngoại bây giờ không nhất thiết phải nhờ vào hệ thống phát hành và các quán bán báo. Mỗi tác giả có thể tự tạo một mạng lưới phát hành riêng của mình song song với các công ty phát hành chuyên nghiệp, đó là cách bán trực tiếp bằng đường bưu điện. Kinh nghiệm của nhiều người cho thấy cách bán sách này rất hữu hiệu, nếu biệt thực hiện đúng bài bản.

Phần thảo luận rất sôi nổi phong phú. Trả lời một câu hỏi chung về tình hình xuất bản của văn chưong hải ngoại hiện nay, nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho biết trong thời “thịnh vượng” của ngành xuất bản từ 1984 đến 1988, một tác giả có tiếng thường in 2000 bản cho mỗi đầu sách, tác giả mới, khoảng 1000. Hiện tại số in là 500. Tiểu thuyết bán được rất ít, thơ thì hầu như không bán được. Loại tương đối bán chạy nhất là sách về tôn giáo có pha huyền bí tâm linh, hồi ký hoặc các sách của một đề tài tranh luận.

Trả lời câu hỏi văn học hải ngoại có gây được một ảnh hưởng nào trong nước không? nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho biết, qua sự thăm dò của những người về nước, hoặc từ Việt nam ra nước ngoài, sách báo hải ngoại hầu như không có một ảnh hưởng nào trong nước. Phim, võ hiệp Hồng Kông, Đài Loan có thể lan tràn, tiểu thuyết “best seller” của Pháp, Mỹ có thể được dịch bầy bán khắp nơi, nhưng bóng dáng của nền văn học Việt nam hải ngoại thì tuyệt nhiên không có. Đó là thứ quốc cấm. Một học viên đã sống lâu năm với chế độ cộng sản, cho biết chỉ có một cách hữu hiệu để truyền đạt các tác phẩm hải ngoại vào Việt nam; đó là dùng làn sóng điện của các đài phát thanh. Qua các đài VOA, BBC, RFI người dân trong nước thỉnh thoảng nghe được những truyện ngắn của các cây bút hải ngoại và có thể biết qua tình hình văn học nghệ thuật của người Việt di tản.

Trước câu hỏi: Có tình trạng đầu nậu trong việc phát hành các sách tại hải ngoại không? Câu trả lời là không. Phần hiều các nhà xuất bản tự phát hành lấy. Vả lại  hiện nay thị trường sách vở đang xuống, không có gì hấp dẫn để nẩy sinh ra một tầng lớp trung gian độc quyền.

Một nhận xét khác: Nền văn học hải ngoại phải chăng đang có một sự bế tắc, đang “khựng” lại không? và nguyên do của tình trạng này. Ông Nguyễn Mộng Giác nhìn nhận đang có tình trạng đó. Các người cầm bút dần dần viết ít đi. Theo ông Giác có thể có một sự hoang mang trong tâm tình các nhà văn. Sau khi Cộng Sản thế giới xụp đổ, người ta chờ đợi việc đó xẩy ra ở Việt Nam, chờ đợi một tình trạng mới tích cực ở nước nhà. Người ta cũng chưa hình dung được nếu việc đó xẩy ra thì hình ảnh xã hội Việt nam hậu cộng sản sẽ là cái gì. Tâm tình người viết đang ở một trạng thái không có phương hưóng rõ rệt, một triết lý cho đời sống mơ ước về Việt Nam chưa có, do vậy ngòi bút chưa bắt được một hứng khởi tích cực.

Góp ý kiền về vấn đề này ông Lê Đình Điểu nhìn từ một góc độ khác: văn học “khựng’ lại là do thực tế đời sống ở đây. Đọc tiểu thuyết là một hành vi giải trí. Mà giải trí thì càng ngày cái máy truyền hình càng chiếm hết thì giờ của mọi người. Nền văn minh thính thị đang đẩy sách vở xuống hàng thứ yếu và chính vì sự tiếp nhận sách vở yếu kém của quần chúng đã làm nản lòng người viết. Làm sao có hứng khởi khi viết ra không có người đọc?

Một vấn đề khác: hầu hết tất cả người cầm bút hải ngoại  phải sống bằng nghề khác, với công việc làm căng thẳng mỗi ngày. Vậy lấy đâu ra thì giờ và chất liệu để viết? Ông Nguyễn Mộng Giác cho rằng viết được hay không không tùy thuộc vào hoàn cảnh sống cho bằng sự thôi thúc nợi tâm. Tuy nhiên ông cũng công nhận rằng viết và xuất bàn là một sự hy sinh, nếu không do một lòng đam mê thì không làm nổi.

Về vấn đề phê bình sách ông Giác đồng ý với một tham dự viên  rằng còn yếu kém, chưa đóng đúng chức năng. Trong cộng đồng người Việt hải ngoai phê bình có nghĩa là những lời lẽ giao tế, khen ngợi nhau cho vừa lòng nhau. Trong tình trạng làm văn học là một sự hy sinh thì ít ai dám mạnh tay trong sự phê bình.

Một tham dự viên hỏi tương lai của sách báo Việt ngữ sẽ như thế nào, sẽ có một ngày nó tàn lụi đi không khi số người Việt đọc tiếng Việt ngày càng ít đi? Nhà báo Lê Đình Điểu nhận xét rằng với số người Việt tiếp tục nhập cư vào My khoảng 100 ngàn người nữa trong một hai năm tới, thì đời sống sách báo tiếng Việt phải còn ít nhất hai mươi năm nữa.

Về vấn đề này, một học viên trẻ có một cái nhìn lạc quan hơn, theo anh hiện nay đang có nhu cầu học tiếng Việt, quay lại với văn hoá Việt trong giới trẻ ở đây. Tiếng Việt sẽ tồn tại với thế hệ mới. Điều đáng quan tâm hơn là phải tạo đối thoại giữa thế hệ thứ nhất với thế hệ thứ hai, thứ ba để tránh sự đứt đoạn về văn hóa. Phải có sách viết về, viết cho thế hệ mới, thay vì viết về các hoài niệm.

Một nữ tham dự viên nhấn mạnh đến sự khủng hoảng hiện tại của giới cầm bút hải ngoại và phải có phương cách cứu chữa ngay để qua khỏi khủng hoảng đó. Có dịp tiếp súc với giới cầm bút Mỹ bà thấy rằng họ có quá nhiều thuận lợi, về tâm lý, hoàn cảnh điều kiện để làm việc trong khi nhìn lại người Việt nam thì thấy “nhà văn A Nam” vẫn còn khổ tứ bề. Ông Lê đình Điểu góp ý rằng sư thuận lợi của giới viết văn Mỹ là do truyền thống và sự tổ chức xã hội Mỹ dành cho họ. Tất cả tùy thuộc ở chúng ta. Vấn đề chính là người cầm bút phải biết vượt qua những vấn đề nhất thời, khắc phục các khó khăn trước mắt để tạo đựợc các tác phẩm có giá trị thực sự vượt không gian và thờì gian. Quá chút tâm vào những cái nhất thời thì có thể nhìn ra toàn là bế tắc, nhưng nếu đầu tư các tác phẩm của mình  cho những tầm vóc lâu dài và rộng lớn thì văn học sẽ tự tìm lấy lối thoá

***

                                                Thay klời kết.

Ý kiến của giảng viên về khoá hội thảo:

1. Về chương trình

Ý kiến chung là chương trình đầy đủ nhưng quá nặng, quá nhiều cho một thời gian hội học tương đối ngắn (một tuần hai giờ trong ba tháng). Do đó tham dự viên có đạt được chiều rộng nhưng thiếu bề sâu. Một số đề tài có thể hơi khó đối với những người mới lần đầu làm quen với lịch sử và văn hóa Việt Nam

2 Về cách giảng bài

– Thiếu các học cụ và một số phương tiện để giảng viên khỏi phải nói ra những gì không cần thiết, không cần nói ra trong lớp học.

– Chưa có thống nhất về nội dung cũng như hình thức vì các giảng viện chưa có hội họp chung hoặc gặp nhau trước khi khai giảng.

– Nặng về thuyết trình thay vì gợi ý, đặt vấn đề để các học viên trả lời.

– Giảng viên không biết đích xác trình độ của các học viên nên không thể nào chọn một cách giảng bài cho phù hợp

3. Về việc tổ chức

Trước khóa cần có quảng bá hơn để có thể thu mhận một số học viên đông đảo hơn. Nên có danh sách các sách và tài liệu cần được đọc trước cũng như dàn ý của bài giảng.

– Cần nhiều thời gian hơn để chuẩn bi.

– Việc quảng bá trên phương tiện truyền thông còn rất hạn hẹp.

– Phòng ốc và các phương tiện khác cho lớp học khá đầy đủ.

4 Về tinh thần

Điều làm cho các giảng viên hài lòng là nhiều học viện tỏ ra có khả năng nhận định và có kiến thức rất đáng chú ý. Sự tận tâm của giảng viên, tinh thần học hỏi của học viên là những ưu điểm. Mọi người khi được tiếp sức cho khóa hội thảo đều vui vẻ nhận lời và còn giúp cho khóa hội thảo nhiều mặt. Tuy nhiên cũng có một vài điều gây khó chịu như trục trặc về phòng ốc vài tuần lễ đầu, và một vài tờ báo vô cớ chỉ trích sai lầm mục tiêu của khóa hội thảo (báo này cho rằng hội thảo về văn sử là tiếp tay cho cộng sản!)

Cuối khóa giảng viên tỏ ra lạc quan vì thấy các bạn trẻ tha thiết trở về nguồn. Chỉ tiếc công sức của nhiều người bỏ ra mà số người tham dự quá ít.

5.Các đề nghị,

–          Trước mỗi khóa như khóa hội thảo vừa qua, cần tổ chức họp giảng viên để thống nhất đường lối, phương pháp, tài liệu giảng dạy.

–          Nên tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề hơn là tổ chức những khóa học dài ngày và thường xuyên khi chưa có đủ một số học viên thường trực với trình độ tương đối đồng đều.

–          Nên xác định trình độ đối tượng học viên trước khi mở khoá. Đối với các bạn trẻ hải ngoại nên hạ thấp trình độ về đề tài và cách giảng dạy cho họ dễ tiếp thung

–          Cuối khóa nên có buổi tổng kết toàn khoá do học viên thuyết trình. Mỗi giảng viên sẽ giải đáp những gì học viên còn thắc mắc, hay nếu cần phối hợp với các bộ môn của các giảng viên khác để cùng giải đáp. Đây cũng là dịp tất cả mọi người nhận diện các vấn đề cần tiếp tục tìm hiểu và thảo luận trong tươnglai.

______________________________________________________________

(1) Ông Nguyễn Mộng Giác sinh ngày 4 tháng 1 năm 1940 tại thôn Xuân Hòa, xã Bình Phú, quận Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn), tỉnh Bình Định, miền Trung Việt Nam. Thời kháng chiến chống Pháp 1946 đến 1954, ông học tiểu học và trung học tại vùng kháng chiến. Sau Hiệp định Genève 1954, ông tiếp tục học tại trường Cường Để (Quy Nhơn), trường Võ Tánh (Nha Trang), rồi học năm chót của bậc trung học tại trường Chu Văn An (Sài Gòn).

 Sau khi học một năm ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, ông ra Huế học Đại học Sư phạm ban Việt-Hán. Năm 1963, ông tốt nghiệp thủ khoa, khóa Nguyễn Du. Ngay năm ấy, ông được điều đến giảng dạy tại trường Đồng Khánh ở Huế. Năm 1965, đổi ông vào Quy Nhơn làm Hiệu trưởng trường Cường Để. Năm 1973, ông làm Chánh sở Học chánh tỉnh Bình Định. Năm 1974, ông được chuyển vào Sài Gòn làm chuyên viên nghiên cứu giáo dục Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng hòa cho đến 1975.

 Về sự nghiệp văn chương, ông bắt đầu viết văn từ năm 1971, đã cộng tác với các tạp chí: Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ý Thức. Năm 1974, truyện dài Đường một chiều của ông được giải thưởng Văn Bút Việt Nam dưới thời Việt Nam Cộng hò .

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, việc sáng tác của ông tạm gián đoạn. Đến năm 1977, ông cầm bút trở lại, và bắt đầu viết bộ trường thiên tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ, và hoàn thành vào năm 1981.

 Tháng 11 năm đó (tức sau khi vừa viết xong bộ truyện trên), ông cùng con trai vượt biển. Chuyến vượt biển thành công, ông đã đến được đảo Kuku của Indonesia. Trong mấy tháng ở đây, ông đã viết được một số truyện ngắn mà sau này xuất bản thành cuốn Ngựa nản chân bon, và tập I của bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa biển động.

 Tháng 11 năm 1982, ông đến Hoa Kỳ, định cư tại Nam California, rồi cộng tác với các báo: Đồng Nai, Việt Nam Tự Do, Người Việt, Văn, Văn Học Nghệ Thuật ở nước ngoài. Từ năm 1986, ông làm Chủ bút tạp chí Văn Học ở California, Hoa Kỳ. Đến tháng 8 năm 2004, ông phải ngưng công việc làm báo vì phát giác mình bị ung thư gan.

Sau nhiều năm dài chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo, ông đã qua đời lúc 22 giờ 15 phút ngày 2 tháng 7 năm 2012 (ngày giờ địa phương ở California, tức sáng ngày 3 tháng 7 năm 2012 giờ Việt Nam) tại tư gia ở thành phố Westminster (Orange County, California, Hoa Kỳ), thọ 72 tuổi .

(2) Ông Lê Đình Điểu sinh năm 1939 tại Ngọc Hà, ngoại thành Hà Nội, nguyên quán ở làng Thanh Lâm, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông. Ông mồ côi mẹ từ năm lên 6 tuổi. Ông Lê Đình Điểu đã học tiểu học tại Hà Đông, học trường Trung Học Ái Mộ, Gia Lâm và trường Nguyễn Trãi ở Hà Nội, trường Chu Văn An, Sài Gòn.

Ông là Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn. Mùa hè năm 1964, ông tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm, ban Anh Văn, và được dạy tại các trường trung học ở Sóc Trăng, Ba Xuyên. Năm 1965, ông Lê Đình Điểu tham gia chương trình Công Tác Hè của Thanh Niên, Sinh Viên, Học Sinh cả miền Nam, với tư cách một Phó Tổng Thư Ký. Năm 1966, ông là một sáng lập viên của chương trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên học đường, mà chính ông đề nghị tên viết tắt là CPS, một chương trình kéo dài nhiều năm của Bộ Giáo Dục VNCH. Ông cũng là một huynh trưởng Phong Trào Học Đường Phục Vụ Xã Hội, đồng thời ông cũng sáng lập Hội Tương Trợ Học Sinh nạn nhân chiến tranh hoạt động ở nhiều tỉnh. Từ năm 1965 ông dạy tại trường Trung học Chu Văn An, cho đến khi đổi qua Việt Nam Thông Tấn Xã. (Wikipedia tiếng Việt)

Ông Lê Đình Điểu đã làm thơ, viết văn từ thời niên thiếu với bút hiệu Y Dịch. Năm 1967, ông tốt nghiệp khóa Báo Chí học tại Viện Báo Chí Quốc Tế ở Kuala Lumpur, Mã Lai. Sau đó, ông làm đặc phái viên Việt Tấn Xã, và là Phụ Tá Học Vụ Ban Báo Chí học giúp ông Nguyễn Ngọc Linh ở Đại Học Chính Trị Kinh Doanh, Đà Lạt. Năm 1972, ông Lê Đình Điểu đứng đầu ngành Thông Tin Quốc Nội trong phủ Tổng Ủy Dân Vận, sau đổi thành Bộ Dân Vận-Chiêu Hồi, khi ông Hoàng Đức Nhã là Bộ Trưởng. Đến năm 1974 ông làm Phòng Báo Chí của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo.

Từ 1975 đến 1981 ông Lê Đình Điểu là tù nhân cải tạo, qua các trại Trảng Lớn, Xuân Lộc, Bù Gia Mập, Bù Loi và Hàm Tân.
Sau khi phụ thân qua đời, gia đình ông đã qua Pháp từ năm 1983. Ông làm Tổng Thư Ký báo Chiến Hữu và chủ bút báo Diễn Đàn Người Việt ở Paris. Từ năm 1985 gia đình ông qua Mỹ, và ông làm chủ bút nhật báo Người Việt, đến năm 1988 thì ông được bầu làm Tổng Giám Đốc Công Ty Người Việt, giữ chức vụ này trong 2 năm. Từ năm 1991 ông là chủ nhiệm tạp chí Thế Kỷ 21. Trong thời gian này ông cũng là một sáng lập viên Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) mà ông giữ chức chủ tịch nhiều năm cho đến khi lâm trọng bệnh.

Năm 1995, ông làm chủ tịch đài phát thanh VNCR mà ông là một sáng lập viên và phụ trách điều khiển chương trình. Mùa xuân năm 1998 khi biết mình gặp những chứng bệnh nan y và bình thản chờ ngày từ giã cõi đời, Lê Đình Điểu đã viết thư tâm sự với các thân hữu. Tấm lòng thanh thản và thái độ bình tĩnh của ông đã mang lại niềm an ủi sâu xa trong lòng mọi người. Đêm 24 tháng 5, 1999 ông đã ra đi, trong nỗi tiếc thương và quí mến của mọi người ở lại. (Việt Báo Daily News)

­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­___________________________________________________________

Tháng 11, 2012

One response to “Tuổi Trẻ Tìm Về Nguồn Cội

  1. Bài viết này của bác Đào Viên rất hay. Tuổi trẻ Việt Nam nghĩ được như vậy thì cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại phải rất hãnh diện.

    Cái video của nhóm Xuân Phong Long Hổ trình tấu bài nhạc Kim Tiền Lưu Thủy thật tuyệt diệu. Chỉ nghe bài này là đủ thấy hay cho bài viết rồi.

    Cám ơn bác Đào Viên

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s