Theo Dấu Chân Mowgli


Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu

                                  Này bầy em Sói vành tai mà nghe:
                           Lòng mình luôn nhớ luật chung Thú rừng
                       Khuyên anh em ta  đây nhớ vâng lời anh Sói già
                         Khuyên anh em ta đây chớ bao giờ quá tin mình

                                                                                                                                            

Đào Viên

Sau khi dọn đến nhà mới ở phố Harmand (bây giờ là Trần Xuân Soạn) gần phố Lò Đúc, khi đó tôi độ 10 tuổi, một khúc quanh đã đến với đời tôi và để lại nhiều kỷ niệm khó quên. Tôi không biết ý kiến cho tôi gia nhập đoàn Sói con của Tổ chức Hướng Đạo Sinh Đông Dương, là từ đâu đến, ai đã đưa ra, mà tại sao hồi đó chỉ một mình tôi, trong số bốn anh em, được cho gia nhập. Tôi chắc rằng đã có người nói với Thầy Mẹ tôi là nên cho tôi đi Sói con để tôi đỡ nghịch ngợm, bởi vì tôi là đứa trẻ nghịch ngợm nhất nhà, nên đã có quyết định trên.

Ý kiến này, nếu quả thật đã có, thì đã là một ý kiến rất hay, vì những năm trong đoàn Hướng Đạo Sinh đã cảm hoá tôi rất nhiều. Từ một đứa bé vô trách nhiệm, chỉ thích chơi bời nghịch ngợm, không nghe lời dậy bảo của bất cứ ai, tôi đã trở nên một đứa trẻ dễ bảo hơn nhiều, có tinh thần trách nhiệm, có tinh thần đoàn thể, biết vâng lời cha mẹ.

Ngày hôm ấy, tôi đã được Mẹ tôi dẫn xuống trường tiểu học Đông Dương ở phố Lò Đúc, không xa nhà tôi lắm để gặp ông Hiệu trưởng trường này, đồng thời cũng là đoàn trưởng đoàn Sói con Hồng Bàng.

Đoàn Sói con Hồng bàng là một trong nhiều đoàn thể Sói con (tiếng Pháp là Louveteau) của Hội Hướng Đạo Sinh Đông Dương  (Scouts de l’Indochine), quy tụ lối hơn 20 em trai nhỏ từ 6 đến 12 tuổi. Con gái thì được vào một đoàn thể riêng gọi là đoàn Chim Non. Trên 12 và dưới 16 tuổi  thì gia nhập đoàn Hướng Đạo Sinh (Scouts). Trên 16 thì gia nhập đoàn Tráng Sinh (Rover). Bây giờ trong Hướng Đạo, Sói con được đổi thành Ấu, Hướng Đạo sinh thành Thiếu.

Đoàn Hồng Bàng được cai quản bởi hai vị Tráng Sinh là anh Thê, một người đã đứng tuổi cũng có con trai trong đoàn Sói con Hồng Bàng và cũng là hiệu trưởng trường Đông Dương, và anh Thái, trẻ hơn, còn là sinh viên trường Đại học Hà Nội.

Một buổi sinh hoạt của Sói con

Một buổi sinh hoạt của Sói con

Hôm đầu tiên gia nhập đoàn Hồng Bàng, tôi cảm thấy bỡ ngỡ lạc lõng. Này nhé, hôm ấy tôi mặc quần tây dài, áo sơ mi trắng, để đầu trần trong khi lũ trẻ con trong đoàn, đứa nào cũng mặc đồng phục, quần cộc mầu xanh nước biển, áo sơ mi mầu xanh nhạt, đầu đội một cái mũ vải cùng mầu với quần, có vành rộng và cứng. Một số lại đeo khăn quang mầu vàng viền xanh lá mạ trông rất đẹp mắt. Thỉnh thoảng cả đoàn lại la lớn lên những khẩu hiệu gì mà tôi không hiểu, mỗi khi có hiệu lệnh của anh Thê hay anh Thái đưa ra. Đoàn chỉ tập hợp tại trường Đông Dương, nhưng sau đó kéo nhau ra cái sân lớn trước đền thờ Hai Bà Trưng, không xa đấy lắm. Cảm thấy sự lúng túng của tôi, anh Thê đã bảo tôi hãy chỉ đứng chơi bên ngoài quan sát thôi, chưa cần tham dự vào những hoạt động của đoàn. Ngoài ra, anh còn cắt đặt một Sói con – có lẽ là một đội trưởng – để dẫn dắt và chỉ bảo cho tôi một số điều lệ của đoàn mà mọi người phải theo.

***

Nam tước Baden Powell

Hướng Đạo Sinh là một phong trào quốc tế, do một người Anh tên là Baden Powel(1) sáng lập và cổ võ. Phong trào này đã lan sang nhiều nước, kể cả Việt nam, với một tổ chức cho toàn quốc gọi là Đoàn Hướng Đạo Sinh Đông Dương (Scouts de l’Indochine). Tất nhiên, cũng như mọi đoàn thể thời ấy, nước ta đang dưới sự đô hộ của người Pháp, về hình thức, đó là một tổ chức của người Pháp : tên đoàn, nội quy đều viết bằng tiếng Pháp, nhưng về nội dung, những đoàn viên, người lãnh đạo đều là người Việt Nam, sự sinh hoạt cũng hoàn toàn riêng cho người Việt Nam.

Lớp tuổi nhỏ nhất (từ 6 đến 12) cũa đoàn này được tổ chức với nguồn cảm hứng từ một cuốn tiểu thuyết của Rudyard Kippling(2) cũng là một người Anh, là cuốn “Chuyện Đường Rừng” – Le Livre de la Jungle hay là The Jungle Book – kể chuyện một bầy sói, sói bố là Akéla, đã

Ông Rudyard Kippling

Ông Rudyard Kippling

mang một đứa bé bị bỏ quên trong rừng, vào hang để nuôi, chống lại ý muốn của một con thú dữ là con Hổ thọt chân, đòi ăn thịt đứa bé. Đứa bé này được đặt tên là Mowgli, đã được một con gấu tên là Baloo và một con báo đen tên là Bagherra trông nom dạy dỗ. Sau khi đã học các luật rừng, các mánh khóe để có thể sống sót được trong rừng, Mowgli khi lớn lên đã đánh bại được Hổ Thọt để rồi trở về yên ổn với loài người.

Truyện Đường Rừng

Truyện Đường Rừng

Đoàn Sói con của chúng tôi, với anh Thê là Akéla, anh Thái là Baloo hay Bagherra trông nom, được tổ chức theo mô hình đó. Chúng tôi được dạy dỗ để trở nên một Sói con tốt trong đoàn, từ đó, trong gia đình, trong học đường. Chúng tôi được học hỏi những điều hiểu biết thông thường để có thể làm lấy được nhiều việc mà khỏi phải nhờ đến người khác, hầu phát triển tinh thần trách nhiệm. Chúng tôi được chơi những trò chơi vui có tính cách cộng đồng để phát huy tinh thần đoàn thể.

Châm ngôn của Sói son chúng tôi là “Gắng Sức”, luôn luôn cố gắng. Luật căn bản là: “Phải biết vâng lời Anh Sói Già”, tức là nghe lời người lớn, không bao giờ chỉ làm theo ý mình. Khi được chính thức gia nhập đoàn, tức là khi được trao để đeo một cái khăn quàng  của đoàn, Sói con phải long trong hứa trước đoàn là “Mỗi ngày phải làm một việc thiện”, tức là một việc hữu ích cho mọi người xung quanh mình.

Mowgli với Baloo và Bagherra

Mowgli với Baloo và Bagherra

Để có thể chính thức được nhận vào đoàn Sói con Hồng Bàng, tôi phải học một số điều và qua được một số thử thách:

–          tôi phải thuộc “Truyện Đường Rừng” (truyện Mowgli), thuộc “truyện về triều đại Hồng Bàng” (là tên của đoàn),

–          thuộc các “Luật Rừng”, tức là: luôn luôn gắng sức, biết vâng lời người trên, phải làm việc thiện mỗi ngày,

–          phải biết làm một số việc căn bản như vệ sinh cá nhân, thắt giây giầy, thuộc cách thắt một số nút (giây thừng) thông thường,

–          thuộc một số bài hát chính thức của đoàn,

–          thuộc một số tín hiệu Morse và Sémaphore.

–          Ngoài ra tôi phải tham dự một số tối thiểu những buổi họp hàng tuần của đoàn, thường kéo dài khoảng 2 tiếng đồng hồ.

–          Thêm vào đó tôi phải tham gia một số kỳ cắm trại xa nhà, kéo dài từ sáng đến chiều, hoặc đôi khi từ chiều hôm trước đến chiều hôm sau, với một cuộc đốt lửa trại tối hôm trước.

Tín hiệu quốc tế Morse

Tín hiệu quốc tế Morse

Ngoại trừ một thời gian đầu bỡ ngỡ khó chịu giữa một bầy trẻ con quá khác mình về mọi mặt, tôi dần dà đã hòa mình vào được vào một đoàn thể để trở nên một đứa trẻ khác trước. Thời gian dự bị của tôi trong đoàn không kéo dài lâu vì những điều cần biết và thuộc nằm lòng để được phát khăn quàng, đối với tôi không khó khăn gì. Chuyện Mowgli chiến thắng Hổ Thọt, chuyện vua Hùng Vương nhà

Tín hiệu Sémaphore cho hàng hải

Tín hiệu Sémaphore cho hàng hải

Hồng Bàng làm tôi say mê, những bài hát vui tươi cho Sói con, cho thiếu nhi, tôi thuộc rất nhanh. Còn làm một số công việc thủ công như thắt nút giây giầy, giây thừng, nhận tín hiệu Morse hay Sémaphore đối với tôi không có gì là khó.

Mowgli chiến thắng Hổ Thọt

Mowgli chiến thắng Hổ Thọt

Thế là trong một buổi đi cắm trại ở chùa Láng (thuộc địa phận tỉnh Hà Đông) tôi đã được trao một cái khăn quàng mầu vàng có viền xanh lá mạ, do anh đoàn trưởng Thê tận tay đeo vào cho tôi, trước sự hiện diện của cả đoàn. Đồng thời với cái khăn quàng cổ, tôi còn được phát thêm cái huy hiệu đầu chó sói mầu đỏ để đeo trên mũ, một huy hiệu có chữ Hồng Bàng để đeo trước ngực, và một tua rua mầu xám – vì tôi ở đội Xám – để đeo vào cầu vai. Tôi đã rất hãnh diện về điều này và sau đó tôi đã cố gắng thực hiện những điều tôi đã hứa trước đoàn là: a) luôn luôn gắng sức; b)  biết vâng lời anh Sói già (người lớn) và c) mỗi ngày làm một việc Thiện.

Những việc Thiện tôi được khuyến khích làm rất đơn giản như: giúp mẹ tôi làm bếp,  bưng thức ăn, nồi cơm lên nhà là một việc thiện. So đũa chia bát cho mọi người trước khi ăn cũng là một việc thiện. Lau bàn ghế, gấp chăn màn xếp gọn ghẽ lại một chỗ cũng được coi là một việc thiện. Hoặc giả ra đường giúp một người già đi qua đường hay cho một người hành khất một ít cơm nguội vân vân. Tất cả những điều đó đều được các anh Akéla (Thê), Baloo hay Bagherra (Thái) tán thưởng và khuyến khích trong các buổi họp của đoàn.

Bởi vậy, tôi đã biết vâng lời cha mẹ tôi hơn, cuối tuần không còn thích đánh đinh đánh đáo ngoài đường nữa. ngược lại, tôi chỉ loanh quanh ở nhà đề giúp mẹ tôi những việc lặt vặt trong nhà để có dịp báo cáo là đã làm được nhiều việc Thiện.

Chẳng bao lâu tôi lại được các anh đoàn trưởng cho làm Đội Phó rồi Đội trưởng trong một cuộc đi cắm trại tại núi Tiêu Sơn.

Bia trên đỉnh núi Tiêu Sơn

Bia trên đỉnh núi Tiêu Sơn

Tiêu sơn là một ngọi núi nhỏ thuộc phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh. Tiêu Sơn cũng là một địa danh đã từng được một văn sĩ có tiếng thời đó – ông Khái Hưng, tên thật là Trần Khánh Giư – làm trở nên bất hủ với cuốn tiểu thuyết dã sử nhan đề là “Tiêu Sơn tráng Sĩ”.

Một buổi chiều thứ Bẩy, đoàn chúng tôi đã lấy xe lửa đi từ Hà Nội về ga Yên Viên, cách đấy 15 cây số. Xuống ga Yên viên chúng tôi đi bộ vào núi Tiêu Sơn và cắm trại ở đó qua đêm đến chiều hôm sau mới về. Đỉnh núi Tiêu Sơn là một bãi đất bằng phẳng rất thuận tiện cho việc dựng trại cắm lều và nhất là đốt lửa trại vào ban đêm. Đêm hôm đó lại là một đên trăng tròn, trăng sáng ngời trên một bầu trời trong vắt, nên lửa trại của chúng tôi lại thêm nhiều phần thú vị. Sau phần chính thức, anh Thê đã đeo vào ống tay áo cho tôi hai băng tay mầu vàng, biểu hiệu của người đội trưởng, chúng tôi đã sinh hoạt, ca hát, diễn kịch, chơi các trò chơi, mãi đến khuya mới dập tắt lữa, vào lều đi ngủ.

***

Đối với các Sói con mà tuổi từ 6 đến 12, thì những dịp đi cắm trại ở xa và qua đêm như trên rất hãn hữu. Lâu lắm chúng tôi mới được đi cắm trại ở chủa Láng thuộc tỉnh Hà Đông và một lần tại thành Cổ Loa thuộc phủ Từ Sơn cách Hà nội 10km. Nhưng có một lần, năm 1940,  tôi đã may mắn được dự cuôc “Họp Bạn của toàn thể các Hướng Đạo Sinh Bắc kỳ”, gọi là “Jamboree des Scouts du Tonkin”. Có lẽ đây là cuộc Họp Bạn lớn nhất của Hướng Đạo Sinh Đông Dương, vì sau đó không còn kỳ Họp Bạn nào quan trọng nữa, vì thời cuộc đã thay đổi .

Tất cả các đoàn thể của phong trào Hướng Đạo của tất cả các tỉnh, từ Sói con đến Tráng Sinh, Pháp cũng như Việt Nam, tất cả độ hai ba trăm người, đã kéo nhau về Rừng Sặt, một khu rừng thưa thuộc tỉnh Bắc Ninh để họp mặt trong hai ngày.

Nhà ga Hàng cỏ Hà Nội

Nhà ga Hàng cỏ Hà Nội

Nhà ga Hàng Cỏ, tức là nhà ga Hà nôi, nơi tập trung hầu hết các đoàn thể, để lấy xe lửa đi Rừng Sặt đã đông đặc những người. Sói con Việt Nam mặc đồng phục mầu xanh. Hướng Đạo sinh và Tráng sinh Việt Nam mặc quần cộc, áo nâu, mầu của dân quê Việt Nam, trong khi Hướng Đạo sinh Pháp thì mặc đồng phục mầu kaki vàng đất, và mọi người đều đứng xếp hàng chỉnh tề dưới bóng cờ của đoàn mình.

Trong khi chờ đợi để được lên xe lửa, các đoàn thể thi nhau hát để đỡ sốt ruột và biểu dương tinh thần hăng hái của đồng đội. Chính qua những cuộc thi đua hát này mà tôi, một cậu Sói con mới chỉ 10, 11 tuổi đã cảm thấy một cách mơ hồ là Hướng Đạo Việt Nam đã không phải là một phần của tổ chức Hướng Đạo sinh Đông Dương của người Pháp, một đoàn thể chính thức duy nhất quy tụ tất cả các đoàn viên ở Đông Dương.

Người Việt Nam, kể cả những người trí thức, tiểu tư sản thành thị, rất gần với nền văn minh của Pháp, đã không chịu đồng hóa với Pháp. Tinh thần dân tộc đã được biểu lộ trong cách phục sức. Hướng Đạo sinh Việt Nam đã chọn mầu nâu là mầu của dân tộc cho quần áo của đoàn viên, không bắt chước cách phục sức của Hướng Đạo sinh Pháp. Mỗi lần Hướng Đạo sinh Pháp hát một bài – tất nhiên là họ hát bằng tiếng Pháp – thì Hướng Đạo sinh Việt Nam lại đáp lại bằng một bài hát tiếng Việt, cùng điệu nhạc nhưng khác lời.

Hồi đó vì phong trào Hướng Đạo sinh là do người Pháp phát động, nên các bài hát trong đoàn dùng tiếng Pháp đã có rất nhiều. Ngay trong khi sinh hoạt, đoàn Sói con chúng tôi thỉnh thoảng cũng hát những bài hát đó. Nhưng nhiều bài lời Việt, nhạc Pháp đã được đặt ra để lần lần thay thế bài hát bằng tiếng Pháp.

Thí dụ những bài hát sau đây:

–          Bài hát chính thức của đoàn Sói Con (phải hát khi bắt đầu sinh hoạt)

Lời Pháp                                                         Lời Việt:

   Nous sommes des petits loups              Vòng quanh đây anh em  chúng ta bầy   Sói
   du beau pays des verts bamboos             Nhà Nam vừa khéo vừa ngoan.
   Nous faisons de notre mieux toujours     Cầm tay nhau anh em cố sao năng siêng
   travailleux, toujours joyeux                      năng chăm hay làm.
   Nous achevons avec grace                       Cùng nhau anh em gắng lên theo Anh
   la tâche.                                                       Sói già.
   Oh! Akéla, nous sommes là.                    Ồ Akéla, chúng em đây mà.

 –          bài hát chính thức của Hướng Đạo sinh Đông Dương:

Lời Pháp                                                    Lời Việt:

    Si nous voulons être fort,                  Muốn nên người cường tráng thời nay
   Si nous voulons marcher droit          Muốn cho đường đời tiến lên hoài.
    Jusqu’au bout, jusqu’au fond           Phải hiệp lực, phải đồng lòng
    De notre effort                                   Bền chí, dày công..
 

 Bài hát chánh thức của Hướng Đạo Sinh như trên sau thời Pháp thuộc không còn được dùng nữa mà được thay thế bằng một bài hát Hướng Đạo Hành Khúc của Lưu Hữu Phước. Bài hát chánh thức của Sói con vẫn được dùng.

Sự ganh đua  giữa đoàn Hướng Đạo Sinh Pháp và Hướng Đạo Sinh Việt, mà kết quả là phần thắng đã nghiêng về phía Việt Nam, bởi lẽ số đoàn viên Việt quá đông đảo, đã làm tôi rất thích thú và hãnh diện. Khi lên toa xe lửa cũng như là trên đường đi bộ từ ga Yên Viên vào cửa vào Rừng Sặt, chúng tôi tiết tục hát vang cho quên nỗi nhọc nhằn. Cảnh tượng  hàng trăm Sói con, Hướng Đạo Sinh, mặc đồng phục đi hai bên đường cái quan dẫn vào Rừng Sặt, mỗi bên, cánh phải rồi đến cánh trái, thay phiên nhau hát:

C’est babord qui gagne, qui gagne. C’est babord qui gagne tribord!”            “C’est tribord qui gagne, qui gagne. C’est tribord qui gagne babord!”

Có nghĩa là Cánh thuyền bên phải đã thắng cánh thuyền bên trái. Cánh thuyền bên trái đã thắng cánh thuyền bên phải.

Lều vải trong Rừng Sặt họp bạn Jamboree

Lều vải trong Rừng Sặt họp bạn Jamboree

Vào đến rừng, tôi đã thấy nhiều lểu vải, cổng chào, dựng lên san sát, cờ quạt, đoàn kỳ mọc lên mọi chỗ. Nhiều Hướng Đạo sinh đi lại, thăm hỏi bạn cũ tay bắt mặt mừng. Buổi tối hôm ấy chúng tôi có một cuộc đốt lửa tại rất lớn, với sự tham dự cũa tất cả các đoàn. Mọi người đồng thanh ca hát, diển kịch, hết đoàn này đến đoàn khác.

Sáng hôm sau Hướng Đạo sinh Pháp họp riêng vì có một ông mục sư Công giáo đến làm lễ cho con chiên. Trong khi ấy các đoàn Hướng Đạo sinh Việt mà các đoàn viên phần lớn không theo đạo Công Giáo, đã tập hợp để nghe anh Hoàng Đạo Thúy(3) – Tổng Đoàn trưởng của Hướng Đạo sinh Việt Nam – nói chuyện.

Huynh trưởng Hoàng Đạo Thúy

Huynh trưởng Hoàng Đạo Thúy

Trong kỳ Họp Bạn Bắc Kỳ này tôi mới trực tiếp gặp mặt hai vị lãnh đạo phong trào Hướng Đạo sinh Việt Nam: đó là các anh Hoàng Đạo Thúy(3), Tổng Đoàn trưởng và Tạ Quang Bửu(4), Tổng Đoàn phó. Sau này cả hai vị đã đóng một vai trò đáng kể trong chính phủ Hồ Chí Minh trong thời kỳ Kháng Chiến chống Pháp.

Sau cuộc nói chuyện buổi sáng, hai đoàn Hướng Đạo sinh  Pháp và Việt lại tập hợp lại để sinh hoạt chung. Một cuộc thi nhận tín hiệu Morse đã được tổ chức cho tất cả đoàn sinh tham dự. Mỗi đoàn, từ Sói đến Tráng cử ra hai người, ngồi thành một hàng, sẳng sàng nghe và bắt tín hiệu do một anh Tráng sinh dùng còi thổi lên. Tín hiệu được phát ra rất nhanh. Tôi, mặc dầu đã là một tay bắt tín hiệu Morse giỏi của đoàn Hồng Bàng, đã bỏ sót khá nhiều. Nhận song đoàn sinh phải chạy thật nhanh lên chỗ ban giám khảo để đưa bài nhận để được chấm điểm.

GS Tạ Quang Bửu

GS Tạ Quang Bửu

Sau cuộc thi này còn có nhiều cuộc thi khác như thi Cổng chào nào đẹp nhất, thi cái cầu (làm bằng gậy và dây thừng) nào dài và đẹp nhất. Đoàn Sói con chúng tôi chỉ chi xem mà không tham dự các cuộc thi này.

***

 Chính trong thời gian sống trong đoàn Hướng Đạo Sinh(5) Đông Duơng này, tôi đã ý thức được rằng tôi là một người Việt Nam, một dân tộc có một lịch sử oai hùng, một truyền thống bất khuất, chứ không phải là một con dân một xứ thuộc địa vô danh của nước Pháp. Trong những buổi sinh hoạt của đoàn Sói con hay Hướng Đạo Sinh, chúng tôi luôn luôn được nhắc nhở đến điều này, một cách gián tiếp thôi vì  thời đó những khát vọng dân tộc chưa có thể được biểu lộ một cách công khai rõ rệt được. Chính điều này cộng thêm những kinh nghiệm sống sau này đã ảnh hưởng rất nhiềy đến quan niệm về chính trị, xã hội và nhân sinh của tôi sau này khi trưởng thành thêm.

Đoàn Sói con chúng tôi được học những bài hát lịch sử như:

      Ta cùng nhau đi thăm nơi hùng xưa 
      Oai linh đứng muôn đời giữa nơi sông cù núi,
    Và tường đá cùng rên giãi gan phơi cùng mưa.
      Ngàn bông lau reo đưa theo chiều gió phất phới
      Theo bóng cờ năm xua còn đâu đây…                       (“Hoa Lư” của Hoàng Quý)
     
       Nào đoàn sinh tiến ta dắt nhau ta cùng đi
      Tìm về thăm chố nơi biết bao trang hùng ghi.
      Cố bước bước bước bước trên đường thơm gió ngát
      Ta đi đi đi đi thăm gò xưa chất thây
      Đống Đa còn chốn đây;
      Xác phơi đầy máu dây         (“Gò Đống Đa” của Văn Cao)
 
      Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng
      Trong khói sương chiều ám trên giòng sông:
      Nhị Hà còn kia, Nhị Hà còn đó
     Xác quân chàng Tô xập cầu trôi đầy sông         (“Thăng Long thành” của VănCao)
 
      Bốn ngàn năm văn hiến nước Nam khang cường
      Là nhờ công đức ngàn xưa.
      Văn hóa như sông rừng cùng chung với nhau
      Bao ngày hồng tươi vẻ vang.
      Đời đời nhà Hùng Vươn Đã vì quốc dân lập non nước này…  
                                                                   (“Hùng Vương” của Thẩm Oánh).

Một hôm, trong mội buổi sinh hoạt của đoàn Sói con Hồng Bàng tại đền Hai Bà Trưng, anh Thái có dẫn đến một người bạn để dạy chúng tôi một bài hát mới là bài “Nước Non Lam Sơn”. Anh này mang theo một nhạc cụ là một cây vĩ cầm (violon). Anh ấy hát rồi kéo đàn cho chúng tôi hát theo. Tôi rất khoái chí vì thấy anh ấy kéo đàn rất hay, vả lại thời đó những người chơi âm nhạc rất ít. Hồi đó, tôi cũng rất thích âm nhạc nhưng chỉ biết chơi khẩu cầm (harmonica) hay thổi sáo thôi. Nay thấy một người biết kéo vĩ cầm mà lại chơi rất hay, tôi đã bị kích thích rất nhiều. Anh này sau đó đã sang Pháp học thêm về âm nhạc tại Nhạc Viện Ba Lê (Conservatoire de Paris).

Về nước anh đã trở thành một nhạc sĩ vĩ cầm nổi tiếng sau này. Tên anh ấy là Đỗ Thế Phiệt. Người phối ngẫu của anh Phiệt cũng tốt nghiệp từ Nhạc Viện Ba Lê nhưng chuyên về dương cầm. Về nước bà Đỗ Thế Phiệt đã mở những lớp dạy dương cầm, đào tạo ra nhiều cầm thủ danh tiếng trong nước.

Dưới đây là bài Hướng Đạo Hành Khúc của Lưu Hữu Phước

Tôi chỉ ở đoàn Hồng Bàng độ hai năm thì đã quá tuổi làm Sói con nên được chuyển lên đoàn Hướng Đạo sinh Hồng Bàng. Tôi cũng không ở đoàn này lâu vì thời cuộc đã bắt đầu thay đổi. Quân đội Đế quốc Nhật từ vùng Hoa Nam đã bắt đầu tiến vào Đông Dương, nối liền lực lượng  quân đội Phù Tang phiá Nam Trung Hoa với quân đội của họ ở Mã Lai Á, Singapore và ở mặt trận Miến Điện và Ấn Độ. Phi cơ Pháo đài bay B-17 của Hoa kỳ đã từng đoàn bay trên bầu trời Bắc Việt, oanh tạc những cơ sở doanh trại của quân đội Nhật tại Hà Nội.

Pháo Đài bay B-17

Sau đó, các trường trung tiểu học được tản cư về vùng quê ngoại thành Hà nội. Trong thời kỳ này lũ trẻ như chúng tôi đã trưởng thành lên rất nhanh, không còn chơi đùa thoải mái vô tư lự quanh quẩn bên tình thương gia đình nữa. Chúng tôi đã nghe thấy tiếng vọng của bom đạn, nhìn thấy trên báo chí, trên màn bạc những hình ảnh ghê rợn của chết chóc  của chiến tranh

 _______________________________________________________

(1) Baden Powell (1857-1941), viết tắt là B-P hay Nam tước Baden Powell (Lord Baron Baden Powell) là Thiếu tướng trong Quân đội Anh. Năm 1907 ông đã s áng lập ra Tổ chức The Boy Scouts Association (hay Hội Hướng Đạo) Cuối đời ông sống tại Kenya, Phi châu và mất tại đó.
 
 (2) Joseph Rudyard Kipling (1865-1936) người Anh, sinh tại Bombay, Ấn độ, lúc đó là thuộc địa của Anh. Khi được 5 tuổi, ông trở về Anh. Lớn lên ông được biết như là một thi sĩ, văn sĩ viết những chuyện về quân đội Anh tại Ấn độ và chuyện cho trẻ em. Cuốn The Jungle Book, hay Chuyện Đường Rừng là cuốn sách nổi tiếng nhất.
 
 (3) Hoàng Đạo Thúy sinh năm 1900 tại số nhà 7 phố Hàng Đào, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tổ tiên ông vốn gốc họ Cung ở làng Kim Lũ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc quận Hoàng Mai, Hà Nội). Thuở nhỏ, Hoàng Đạo Thúy theo học tại Trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An, Hà Nội). Sau khi học xong, ông làm giáo viên Tiểu học tại Trường Sinh Từ từ những năm 1920, nhiều năm cư trú tại làng Đại Yên (nay thuộc phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội).
 
Trong thời gian dậy học, ông bắt đầu nghiên cứu và tìm hiểu về xã hội, lịch sử dân tộc. Ông cũng hay tìm hiểu về các tài liệu về Hướng đạo của Liên đoàn Hướng đạo Pháp, và cho rằng đây có thể là một cách để chấn hưng và truyền bá phong hóa của người Việt Nam thời hiện đại
 
Trong những năm 1927-1930, các đoàn Hướng đạo Việt Nam đầu tiên xuất hiện ở miền Bắc, hầu hết đều trực thuộc Hội Hướng đạo Pháp. Năm 1929, , ông cùng một số bạn đồng chí thành lập “Hội Hướng đạo Việt Nam”.Năm 1931, ông thành lập Ấu đoàn Việt Nam đầu tiên tên là đoàn Lê Lợi, với tên rừng là Hổ Sứt (sau đổi tên thành Hổ Mài Nanh). Cùng với việc thành lập đoàn Lê Lợi, một bạn đồng chí của ông là bác sĩ Trần Duy Hưng đã thành lập Thiếu đoàn Hùng Vương. Lúc đó, các tổ chức hướng đạo Việt Nam này dùng danh xưng là Ðồng tử quân.
 
 Năm 1933, ông đổi lại danh xưng là Hướng Đạo Sinh và chọn áo sơ mi màu củ nâu với quần cụt màu xanh nước biển làm đồng phục. Tổ chức và sinh hoạt theo mẫu Hướng đạo Pháp.
 
 Phong trào phát triển rất nhanh, đã tổ chức được 3 ngành: Ấu, Thiếu và Tráng. Đáng kể nhất là Tráng đoàn Lam Sơn, một trong những tráng đoàn đầu tiên cột trụ của phong trào Hướng đạo Việt Nam tại miền Bắc do chính Hoàng Đạo Thúy hướng dẫn; ông là một trong những Ủy viên phụ trách ngành Tráng sinh và là Thủ lĩnh của phong trào hướng đạo Bắc Kỳ được người Pháp hết sức nể trọng.
 
 Ông mất vào ngày 14 tháng 2 năm 1994 (tức mồng 5 tháng Giêng năm Giáp Tuất) tại Hà Nội, hưởng thọ 95 tuổi.
 
 (4) Ông Tạ Quang Bửu sinh ngày 23 tháng 7 năm 1910, trong một gia đình nhà giáo tại thôn Hoành Sơn, xã Nam Hoành, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Năm 1922, ông thi vào trường Quốc học Huế và đỗ thứ 11. Sau đó ông ra Hà Nội học trường Bưởi. Năm 1929, sau khi đỗ đầu tú tài Việt và đỗ đầu tú tài Tây ban Toán, ông nhận được học bổng của Hội Như Tây Du học của Nguyễn Hữu Bài và sang Pháp học. Tại Pháp, năm 1929, ông đăng ký học lớp toán đặc biệt của trường Louis le Grand về toán học và vật lý lý thuyết, đăng ký học cử nhân toán ở Viện Henri Poincaré.
 
Ông thi đỗ vào trường École Centrale Paris năm 1930, theo học chương trình cử nhân khoa học ở Đại học Sorbonne, học toán ở các Đại học Paris, Đại học Bordeaux (Pháp) từ 1930 đến 1933. Trở về nước năm 1934, ông dạy toán và tiếng Anh tại trường tư, ban đầu là trường Phú Xuân, sau là trường dòng Providence (Thiên Hựu) ở Huế. Ngoài tiếng Anh và toán, lí, hóa ông còn dạy các môn khoa học tự nhiên khác theo yêu cầu của nhà trường.
 
Ông là một trong những người tiên phong của Việt Nam dự trại Tráng sĩ của tổ chức Hướng đạo Việt Nam.. Ông được bầu làm Huynh trưởng Hướng đạo sinh Trung Kỳ. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội. Từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 1 năm 1946, ông đã đảm nhận chức vụ Tham nghị trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
 
Đêm 14 tháng 8 năm 1986, ông đột ngột ngưng làm việc do tai biến máu não. Ông mất vào ngày 21 tháng 8 năm 1986, hưởng thọ 76 tuổi. Vợ ông là bà Hoàng Kim Oanh, con gái ông Hoàng Đạo Thúy.
 
 (5) Hướng đạo Việt Nam là một tổ chức thanh thiếu niên được thành lập vào năm 1930 bởi Trưởng Trần Văn Khắc tại Hà Nội. Hướng đạo Việt Nam trước đây từng là một thành viên của Tổ chức Phong trào Hướng đạo Thế giới (World Organization of the Scout Movement). Từ lúc thành lập vào năm 1930, Hướng đạo Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn, thu hút rất đông những nhân vật sau này giữ những vai trò trọng yếu trên chính trường miền Bắc cũng như miền Nam như Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Lưu Hữu Phước, Tôn Thất Tùng, Võ Thành Minh, Phạm Ngọc Thạch, Trần Văn Tuyên, Phạm Biểu Tâm, Trần Điền, Cung Giũ Nguyên,…
 
Tuy nhiên vì thời cuộc chính trị và chiến tranh, Hướng đạo Việt Nam bị đình chỉ hoạt động tại miền Bắc Việt Nam vào năm 1954 và rồi toàn cõi Việt Nam vào năm 1975. Sau tháng 4 năm 1975, Hội Hướng đạo Việt Nam bị giải tán và trụ sở ở số 18 Bùi Chu tại Sài Gòn bị “tiếp thu”. Cơ cấu của tổ chức Hướng đạo trong nước hoàn toàn tan rã.
 
Nhiều năm sau những huynh trưởng lớn của Hội Hướng Đạo như Hoàng Đạo Thúy rồi Đặng Văn Việt cố gắng xin với chính quyền cho tái lập lại Hội Hướng Đạo, nhưng bị khước từ.
 
 Ở hải ngoại, Hướng đạo Việt Nam vẫn tiếp tục hoạt động từ khi theo đoàn người di tản đến các trại tạm cư như Vịnh Subic (Philippines), Đảo Guam, Đảo Wake, Trại Pendleton (California), Trại Chaffee (Arkansas),… trước ngày 30 tháng 4 cho đến ngày nay tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp và Đức. Đặc biệt là trong thập niên 1980 Hướng đạo Việt Nam đều có mặt tại các trại tị nạn khắp vùng Đông Nam Á và Hồng Kông trước khi các trại tị nạn này đóng cửa vào đầu thập niên 1990.
______________________________________________________________________________________________

 

 

 
 

3 responses to “Theo Dấu Chân Mowgli

  1. How do you get these very old photos? I was in boy scouts in Nam Đinh when I was in middle school. Thank you for this nice article.

    Ta.

  2. Thân gui anh Đào Viên:
    Anh làm toi lai trở về quá khứ, hồi nhỏ tôi cũng o đường Harmand mấy thang,ở trọ. tren gac cua mot tiệm bán nước mắm va tap hoa, hình như là số 6 thi’ phải ngay ngã tư phố Huế,sau mie^’u hai Cô va nhin qua bên hông chợ Hôm.
    Năm 1941 tôi ở phủ Từ Sơn ,là SóI Con trong doan Huong Dao TIÊU SƠN,năm ấy được di cắm trai 3 ngay,2 dêm tai rừng Sặt vui lắm và đã được gặp anh Hoàng Đạo Thúy.
    ndq

  3. Kính Bác,
    Bài này làm tôi nhớ những ngày thơ-ấu theo ngành Sói, rồi từ Ấu lên Thiếu và Tráng.
    Tên Đạo Hùng Vương, Châu Gia Định. Đời sống trong Hướng Đạo đã dạy tôi làm người.
    Tôi rất thích bài này Bác đăng.
    Thân kính,
    Nguyễn Đức Diễm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s