Vấn Đáp về Đạo Phật (I)


Lời nói đầu – Hồi còn ởViệt Nam, Sài gòn, ông Nguyễn văn Phú đã là một người được rất nhiều người biết tiếng, nhất là ở những gia đình có con cháu đi học Trung học. Ông Phú, một nhà giáo, đã mở những lớp dạy tư về Toán (hiệu trưởng trường tư thục Hưng Đạo) là môn thi rất quan trọng để lấi bằng Tú tài. Không những thế ông Phú cỏn viết ra nhiều sách dạy Toán cho các lớp Trung học. Rất nhiều trường công cũng như tư dùng sách của ông Phú để dạy học trò.
 
 Sau năm 75, gia đình ông Phú đã di cư sang Montréal, Gia nã Đại. Tại đây ông Phú, pháp danh Hoẵng Hữu, đã hoạt động rất nhiều cho Phật giáo. Ông Nguyễn văn Phú đã là chủ biên cho tập san Liên hoa của chùa Liên Hoa (Brossard, Gia nã Đại) và tập San Pháp Âm của Giáo hột Phật Giáo Việt nam trên Thế giới. Ông cũng đã là soạn giả của nhiềy bài viết cũng như sách in về Phật học, được cộng đồng Phật tử Việt nam rất tán thưởng.
 
Ông Nguyễn văn Phú

Ông Nguyễn văn Phú

 Một trong những tác phẩm của ông là tập “Vấn Đáp về Đạo phật”. Thấy rằng tập sách này rất có ích cho tất cả những ai muốn hiểu biết về Phật giáo, từ nông đến sâu ,sơ khảo đến chi tiết, Vườn Đào rất hân hạnh được giới thiệu đến bạn đọc tâập “Vấn Đáp” này. Vì đây là một tài liệu rất dài với 35 đề tài, chúng tôi xin đăng tải làm 3 thời kỳ. xin qúy độc giả lượng thứ.

 
 Ông Nguyễn văn Phú đã mệnh chung tại Montréal tháng 2, 2013, hưởng dương 86 tuổi, để lại nhiều tiếc thương cho cộng đồng Phật giáo tại đây.
 

1. PHẬT

1. Phật nghĩa là gì ?

Chữ Phạn bodhi nghĩa là giác ngộ, tỉnh thức. Buddha là người giác ngộ, người tỉnh thức. Buddha phiên âm thành Phật-đà, nói ngắn là Phật. Vậy Phật là bậc giác ngộ. Trong dân gian, người ta cũng dùng chữ Bụt (“chưa nặn Bụt đã nặn bệ”, “hiền như Bụt”,“Bụt ngồi Bụt khóc” ) nhưng chưa thấy ai nói “A-Di Đà Bụt”!

2. Giác ngộ điều gì ?

Giác ngộ những quy luật của vũ trụ, của nhân sinh. Thấy được cái tướng thực sự chứ không phải cái tướng bên ngoài của sự sự vật vật. Phật học định nghĩa Phật là « tự mình giác ngộ, giúp người khác giác ngộ, cả hai việc đều viên mãn ».

3. Có bao nhiêu vị Phật ?

Phật Thích ca Mâu ni

Phật Thích ca Mâu ni

Trong lịch sử nhân loại, chỉ có một vị Phật thôi : đó là Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Còn những vị Phật khác là do Phật Thích-Ca nói trong các kinh.

4. Xin cho biết rõ về Phật Thích-Ca Mâu-Ni.

Về phía Bắc nước Ấn-Độ xưa, vào năm 623 trước Tây lịch, hoàng hậu Ma-Da của vua Tịnh-Phạn sinh ra một thái tử ở vườn Lâm-Tì-Ni. Bà mất khi thái tử mới được có bảy ngày; thái tử được dì ruột – một vương phi của vua Tịnh-Phạn – nuôi nấng. Nhà vua đặt tên cho con là Tất-Đạt-Đa, họ Cồ-Đàm, thuộc bộ tộc Thích-Ca. Thái tử là một người văn võ toàn tài, thích ngồi suy nghĩ nơi tĩnh mịch. Thái tử kết hôn với công chúa Da-Du-Đà-La năm 16 tuổi, đến năm 29 tuổi thì có một con trai duy nhất đặt tên là La-Hầu-La.

5. Thái tử đi tu trong trường hợp nào ?

Ra chơi các cửa thành của hoàng cung, thái tử thấy cảnh bệnh, già, chết, ngài suy nghĩ nhiều về mọi khổ não của con người. Rồi một hôm, khi thấy một tu sĩ dáng dấp an nhiên tự tại, ngài nảy ra ý định đi tu. Đúng vào lúc sinh con trai, ngài từ bỏ lâu đài, địa vị, gia đình để đi tìm Chân lý, tìm đường giải thoát con người khỏi mọi khổ đau. Lúc ấy, ngài 29 tuổi.

6. Ngài có thành công ngay không ?

Ngài gặp nhà tu khổ hạnh A-La-La, ông này hướng dẫn ngài thiền lên đến mực cao, ngài tiến rất nhanh. Nhưng vì không học được con đường chấm dứt đau khổ nên ngài bỏ đi. Một nhà tu khổ hạnh khác, tên là Uất-Đầu-Lam-Phất, hướng dẫn ngài thiền lên tột đỉnh mà ngài cũng không ở lại được vì vẫn chưa thấy con đường thoát khổ. Ngài bèn tu ép xác cùng với năm tu sĩ khác. Không thành công, ngài bỏ lối tu cực khổ ấy và ăn uống trở lại. Năm người bạn cho rằng ngài đã thoái chí nên bỏ đi. Ngài tu một mình, ngồi thiền dưới một cội cây lớn trong rừng. Cây ấy ngày nay vẫn còn, được gọi là cây bồ-đề. Nơi ngài ngồi tu, nay gọi là Bồ-đề đạo tràng ở Bodh Gaya, Ấn Độ.

7. Ngài thành Phật như thế nào ?

Một đêm, nơi cây bồ-đề, ngài chứng đạt túc mạng thông, có thể nhớ lại các kiếp đã qua. Rồi ngài chứng đạt thiên nhãn thông, có thể thấy được sự sinh tử luân hồi của chúng sinh. Và sau cùng, ngài chứng đạt lậu tận thông (tận diệt được tham ái) , chứng ngộ tứ diệu đế và thành Phật, bậc toàn giác. Lúc ấy ngài 36 tuổi.

8. Phật có phải là một vị thần linh không ?

Không, ngài là một con người. Ngài thành Phật do sự cố gắng tu hành của bản thân. Ngài là bậc đạo sư chỉ cho chúng sinh con đường giải thoát, giải thoát khỏi mọi khổ đau, khỏi vòng sinh tử luân hồi.

9. Phật tịch diệt ở đâu ?

Đức Phật tịch diệt tại rừng cây sala

Đức Phật tịch diệt tại rừng cây sala

Ngài thuyết pháp trong hơn bốn mươi năm, tịch diệt năm 543 trước Tây lịch, lúc ngài 80 tuổi, tại rừng cây sala ở Câu-Thi-Na-La.

2. PHẬT ĐẢN

 1. Lễ Phật đản là lễ gì ?

Là lễ kỷ niệm ngày sinh của đức Phật Thích-Ca. Trước kia, ở nước ta, lấy ngày mồng tám tháng tư âm lịch làm ngày Phật đản. Nay, Phật giáo toàn thế giới, căn cứ vào các điều chính xác, cùng lấy ngày trăng tròn tháng tư âm lịch làm ngày Phật đản. [đản nghĩa là sinh].

2. Phật lịch tính thế nào ?

Năm mà đức Phật nhập Niết-bàn (tịch diệt, chết) được chọn là năm 1 của Phật lịch. Lấy năm Tây lịch cộng với 544 thì được năm Phật lịch. Thí dụ năm 2000 tính ra Phật lịch là 2000 + 544 = 2544.

3. Thích-Ca Mâu-Ni nghĩa là gì?

Thích-Ca là tên bộ tộc, tên này có ý nghĩa là hùng mạnh, nhiều năng lực, anh hùng. Mâu-Ni nghĩa là nhà minh triết. Thích-Ca Mâu-Ni nghĩa là nhà minh triết của bộ tộc Thích- Ca, Tàu dịch là Năng Nhân. Khi ngài còn đang tu thì người ta gọi ngài là tu sĩ Cồ-Đàm. Trong các kinh, khi ngài tự xưng thì ngài dùng danh từ Như Lai.

4. Tại sao nói « khi mới sinh ra, ngài bước đi bảy bước » ?

Khi kể tiểu sử các vĩ nhân, xưa kia, người ta hay thêm một số chi tiết khác thường để đề cao. Ta có thể bỏ qua. Nếu muốn tìm một ý nghĩa tượng trưng thì có thể hiểu là ngài đã qua khỏi sáu cảnh giới có luân hồi (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a tu la, nhân, thiên) mà bước lên các cảnh giới thánh (thanh văn, duyên giác, bồ tát, Phật) tức là các cảnh giới không còn luân hồi.

5. « Chỉ có ta là đáng quý hơn cả », tại sao ngài nói kiêu vậy ?

Thiên thượng Địa hạ Duy ngã độc tôn

Thiên thượng Địa hạ
Duy ngã độc tôn

Có thể giải thích như sau : Tại Ấn-Độ, vào thời đó thì người ta coi Đại ngã (cái Ta lớn) là căn bản, là bản thể của vũ trụ, vì thế đáng quý hơn cả. Theo đức Phật thì bản thể đó là Pháp Tánh, là Chân Như (còn nhiều danh từ khác)

6. Còn có những ngày kỷ niệm nào không ?

Theo Bắc tông, ngày 8 tháng 2 âm lịch kỷ niệm đức Phật xuất gia. Ngày rằm tháng 2 âm lịch kỷ niệm đức Phật nhập Niết-bàn (tịch diệt). Ngày 8 tháng 12 âm lịch kỷ niệm đức Phật thành đạo. Nam tông có lễ Vesak kỷ niệm cùng một lúc ngày khánh đản, ngày thành đạo và ngày nhập diệt của đức Phật, đó gọi là ngày Tam hợp.

3. TỨ DIỆU ĐẾ

 1. Tại sao khi đắc đạo rồi, đức Phật ngần ngại không muốn thuyết pháp ?

Vì ngài nghĩ rằng đạo của ngài là đạo ngược dòng. Người thế gian chỉ thích nghe lời êm dịu, thế mà đạo của ngài bắt đầu bằng « khổ », e rằng người đời không nghe lọt. Sau, nghĩ rằng người ta căn cơ khác nhau, cho nên ngài quyết định cứ thuyết pháp « ai có tai thì người đó nghe ». [Ghi chú : Pháp là lời dạy của đức Phật. Chữ pháp còn một nghĩa rất rộng mà chúng ta cần biết vì được dùng luôn luôn : đó là mọi sự, mọi vật, hữu hình hoặc vô hình, kể cả các ý nghĩ và những thứ mà người ta tưởng tượng ra].

2. Bài pháp đầu tiên là gì ? ở đâu ? những ai nghe ?

Bài Pháp đầu tiên cho 5 người

Bài Pháp đầu tiên cho 5 người

Bài pháp đầu tiên được ghi lại trong Kinh Chuyển pháp luân (Chuyển bánh xe pháp). Đức Phật nói ở Vườn Nai (Lộc Uyển) cho nhóm ông Kiều-Trần-Như (Kondana) gồm 5 người trước đây đã bỏ đức Phật khi cho rằng ngài thoái chí. Không phải chỉ có 5 ông ấy nghe pháp, còn nhiều vị nữa mà mắt trần không thấy được.

3. Nội dung bài pháp đó là gì ?

Kinh Chuyển pháp luân mở đầu bằng lời khuyên tránh hai cực đoan : lợi dưỡng và khổ hạnh vì cả hai đều không giúp cho sự tu hành, nên phải chọn trung đạo. Sau là sự trình bày lý thuyết căn bản của đạo Phật là Tứ diệu đế tức là Bốn sự thật vi diệu (đế là chân lý, sự thật).

4. Tứ diệu đế gồm những gì ?

Khổ đế xác nhận rằng đời là bể khổ. Tập đế cho biết nguyên nhân của đau khổ là tham dục. Diệt đế dạy rằng có thể diệt hết khổ bằng cách diệt tham dục rồi sau đó chứng niết-bàn. Đạo đế chỉ ra con đường tu hành là bát chánh đạo. [Ghi chú : không nên bảo rằng đạo Phật bi quan, đức Phật nói « đời là bể khổ » là do nhận xét thực tế, chứ ngài không chán ngán, ngài dạy cho chúng ta con đường thoát khổ].

5. Bát chánh đạo gồm những gì ?

Chữ chánh dùng ở đây có nghĩa là chân chánh, chân chánh nghĩa là đúng theo lời Phật dạy. Tám con đường chân chánh là :

 1/ thấy biết chân chánh (chánh kiến)
,2/ suy nghĩ chân chánh (chánh tư duy),
3/ nói năng chân chánh (chánh ngữ),
4/ hành động chân chánh (chánh nghiệp),
5/ nghề sống chân chánh (chánh mạng),
6/ cố gắng chân chánh (chánh tinh tấn),
7/ nhớ nghĩ đến đạo một cách chân chánh (chánh niệm),
8/ nhập thiền định chân chánh (chánh định).

Bát chánh đạo còn có tên khác là Bát thánh đạo và Trung đạo.

6. Xin cho một thí dụ.

Thí dụ đức Phật dạy không được sát sinh, như thế mình tránh làm nghề đồ tể (chánh mạng). Đức Phật dạy không được nói dối, như thế mình tránh nói dối (chánh ngữ). Đức Phật dạy thiền định chân chánh, như thế mình đừng học những thứ thiền không phải Phật giáo (chánh định) …[Ghi chú : Đạo là con đường, phải đặt chân lên đó mà đi, mà « hành », lý thuyết xuông không đủ. Chúng ta cần nhớ rằng đức Phật là đạo sư, ngài chỉ đường cho mà tu chứ ngài không tu giúp chúng ta được, ai tu người đó hưởng].

4. TAM TẠNG

 1. Tam tạng là gì ? Do ai làm ra ?

Tam tạng là : Kinh, Luật và Luận. Kinh là những bài thuyết pháp của đức Phật (hay của các đệ tử lớn của ngài). Luật là những điều kỷ luật mà đức Phật chế ra theo từng hoàn cảnh đem dạy cho các đệ tử để tránh điều ác, làm điều thiện. Luận là nhửng hỏi và đáp, những lời bàn bạc sâu rộng về các hình tướng bên ngoài, về bản thể bên trong của vạn pháp (sự sự vật vật). Nói chung, Tam tạng do đức Phật nói ra, có thể có các đệ tử thêm vào.

2. Khế kinh nghĩa là gì ?

Khế là thích hợp. Kinh theo nghĩa đen là sợi chỉ xuyên theo chiều dọc, nghĩa bóng là giữ cho lời Phật dạy không bị mất đi. Khế kinh là kinh ghi lời Phật dạy thích hợp với chân lý, đạo lý và với căn cơ người nghe. Trong thực tế, ta dùng chữ kinh nhiều hơn chữ khế kinh.

3. Kinh viết bằng tiếng gì ?

Đức Phật chỉ nói chứ không viết, ngài dùng tiếng pali là tiếng bình dân thời bấy giờ ở Ấn-Độ, còn sanskrit (Phạn hay Phạm) là tiếng « quý phái » dùng trong văn chương. Sau khi đức Phật nhập diệt, có cuộc kết tập pháp (nói ngắn là kết tập) để ôn lại tất cả các lời dạy của

Ma ha Ca Diếp tôn giả

Ma ha Ca Diếp tôn giả

đức Phật, ngài A-Nan thuyết kinh, ngài Ưu-Bà-Ly tụng Luật và ngài Ca-Diếp đọc Luận. Có tài liệu nói rằng không có ai đọc Luận cả. Kỳ kết tập thứ nhì được triệu tập thật ra là để giải quyết tranh chấp về giới luật, và vì các nhóm không thỏa thuận được nên dẫn đến sự chia rẽ. Kỳ thứ ba có ghi lại nhưng không biết rõ đầy đủ. Kỳ thứ tư, kết quả phải đem khắc lên bản đồng cho rõ rệt vì các bộ phái chia rẽ quá nhiều, có cả ngoại đạo len lỏi vào phá hoại; bản đồng sau cũng thất lạc. Ngày nay có kinh Nam tông bằng chữ pali (đã dịch ra chữ Việt khá nhiều) và kinh Bắc tông bằng chữ sanskrit (được dịch ra chữ Hán tất cả, và ra chữ Việt một phần). Kinh Bắc tông bao gồm tất cả các kinh Nam tông.

4. Nhiều danh từ quá, khó học !

Đúng thế, Phật học có nhiều danh từ lắm. Phật tử Việt Nam lại chịu nhiều khó khăn thêm nữa, do phiên âm và do dịch. Đã thế, phiên âm và dịch lại không thống nhất ngay từ Trung Quốc, người mình dịch từ chữ Hán ra nên gánh đủ thứ mệt ! Thí dụ stùpa (skt) thùpa (pali) dagoba (Tích lan) nghĩa là cái tháp, phiên âm thành phù-đồ, đồ-ba, tốt-đồ-ba. Một chữ chưa nhớ kịp, lại thêm mãi ra cho … khổ ! Thí dụ Thiền tông có hai tên nữa là Tâm tông và Đạt-Ma tông. Ông Sudatta có biệt hiệu là Anathapindika được gọi là Tu-đạt-đa (phiên âm), lại có tên là Cấpcô- độc vì ông hay giúp đỡ người nghèo khó, cô độc, cộng thêm tên Chẩn-tế-bần phạp, Cấp-chư-cô-lão. Chúng ta hãy kiên trì và tinh tấn !

5. Đường Tam Tạng là gì ?

Ngài Huyền Trang sang Ấn-Độ thỉnh kinh vô cùng vất vả, học thông cả Tam tạng (Kinh, Luật, Luận), và sống vào thời nhà Đường (618-907) ở bên Tàu, nên người ta gọi ngài là Đường Tam Tạng. [Ghi chú : bậc cao tăng giảng thông cả ba tạng thì được gọi là Tam tạng pháp sư].

5. TAM BẢO

1. Tam bảo là gì ?

Tam là ba, bảo là quý. Tam bảo là ba ngôi báu. Đó là Phật, Pháp và Tăng. Phật là bậc « tự giác, giác tha, giác hành viên mãn », ngài đáng quý trọng, đáng tôn kính, vì ngài là đạo sư chỉ cho chúng ta con đường giải thoát. Phật cũng có nghĩa là chư Phật. Pháp là toàn thể lời dạy của đức Phật, pháp đáng quý vì nhờ đó ta mới nhìn vạn pháp theo đúng cái tướng thật của chúng, nhờ đó ta mới biết cách thức tu tập. Tăng là do chữ Tăng-già nói ngắn lại. Tăng-già là đoàn thể các vị tu sĩ Phật giáo, ở đây tăng không có nghĩa là một vị sư. Tăng-già đáng quý vì đã can đảm giữ gìn giới luật, kiên nhẫn tu hành và thường xuyên giúp đỡ Phật tử tu học.

2. Quy y Tam bảo là thế nào ?

Là quay về nương tựa nơi Tam bảo. Đã quy y Tam bảo thì phải quay về nương tựa nơi Tam bảo và sống theo lời dạy của Tam bảo suốt cả đời. Trước khi nhập Niết bàn, đức Thế tôn đã nói rằng hãy lấy Pháp của ngài làm Thày. Vậy, dù không có Phật ngay trước mắt, dù không có Tăng thì Phật tử lúc nào cũng có Pháp để làm Thày.

3. Muốn quy Tam bảo thì làm thế nào ?

Lễ Quy Y Tam Bảo

Lễ Quy Y Tam Bảo

Phải đến một ngôi chùa hỏi xem khi nào có tổ chức buổi lễ quy y Tam bảo và hỏi các chi tiết để xin ghi danh. Không khó gì cả và không tốn kém. Ngày quy y, sẽ nguyện giữ năm giới, sẽ được nhận một pháp danh và chính thức trở thành một Phật tử (con Phật).

4. Năm giới gồm những gì ?

Giới còn gọi là giới cấm, giới luật là những điều răn cho Phật tử tại gia và xuất gia. Tại gia chỉ giữ năm giới, mới tu (sa-di và sa-di-ni) giữ mười giới. Tỳ-kheo (nhà sư) giữ 250 giới. Tỳ-kheo-ni (ni cô) giữ 348 giới. Năm giới hay ngũ giới gồm có : không sát sinh, không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm, không uống rượu (nói rộng ra, không sì-ke ma túy..)

5. Bát quan trai là gì ?

Bát là tám. Trai là chay. Quan là đóng lại, không cho tội lỗi lẻn vào ta. Bát quan trai còn gọi là Bát quan trai giới, Bát giới trai, Bát trai giới. Gọi như vậy vì có ý liên kết sự ăn chay với các điều giới cấm. Thỉnh thoảng Phật tử đến chùa để thọ bát, nghĩa là thực hành bát quan trai. Bát quan trai gồm có :

 1/ không sát sinh.
2/không trộm cắp.
3/ không nói dối.
4/ không dâm dục.
5/ không uống rượu.
6/ không trang sức những thứ quý báu, không xoa dầu thơm.
7/ không ca múa hát xướng, không cố đi xem, nghe. Không nằm giường cao, rộng.
8/ không ăn quá giờ ngọ (giữa trưa).

[Ghi chú : thực hành bát quan trai ở nhà riêng cũng được].

6. PHÁP BẢO

1. Pháp bảo là gì ?

Ta đã biết Tam bảo là Phật, Pháp, Tăng. Pháp bảo bao gồm hết thảy lời dạy của đức Phật. Pháp bảo gọi ngắn là Pháp. Phật giáo có rất nhiều kinh sách. Những lời dạy của đức Phật chia ra thành bốn phần là : giáo (lời dạy), (nghĩa lý trong các lời dạy đó), hạnh (các cách thức tu hành), quả (quả vị đạt được khi tu hành).

2. Xin cho thí dụ.

Thí dụ về Giáo lý : tứ diệu đế. Thí dụ về Giáo hạnh : ngũ giới. Thí dụ về Quả : giữ đúng năm giới thì kiếp sau tái sinh vào cảnh người.

3. Nhân đây, xin cho biết có bao nhiêu cảnh giới.

Có mười cảnh giới kể từ thấp lên cao : 6 cảnh giới còn phải sinh tử luân hồi gồm 3 đường ác tức ác đạo hay tam đồ là địa ngục, ngã quỷ (quỷ đói), súc sinh và 3 đường lành tức thiện đạo là a-tu-la, nhân, thiên. 4 cảnh giới hết sinh tử luân hồi gọi là 4 đường thánh tức thánh đạo: thanh văn, duyên giác, bồ-tát, Phật. [ba chữ thanh văn, duyên giác, bồ-tát sẽ học sau].

4. Giáo lý căn bản gồm những gì ?

Trước hết là tứ diệu đế trong đó có bát chánh đạo. Rồi đến các lý nhân quả, lý vôthường, lý duyên khởi, lý vô ngã và lý không. Ta sẽ học dần.

5. Sao không thấy chỗ nào nói về linh hồn?

Đạo Phật không nói đến một linh hồn trường cửu và bất biến của con người. Mỗi người có thân và tâm. Thân là phần vật chất, còn gọi là sắc. Tâm do bốn thứ hợp lại là thọ, tưởng, hành, thức (sẽ học sau), còn gọi là danh. Thân-tâm hay danh-sắc thay đổi hoài hoài từng giây từng phút, chẳng có gì bền vững, kiên cố để cho mình tin được. Thắc mắc : nói rằng có đầu thai, có tái sinh, thế thì phải có một cái hồn mới đi tái sinh được chứ ? Không, cái thứ dự vào sự tái sinh là một cái khác gọi là a-lại-da (sẽ học sau), muốn gọi nó là hồn cũng không sao, tuy nhiên phải nắm chắc rằng nó không trường cửu và bất biến.

7. THẬP THIỆN

 1.Thập thiện là những gì ?

Là mười điều thiện, gồm có : 3 điều thiện về thân, 4 điều thiện về miệng và 3 điều thiện về ý.

2. Xin cho biết ba điều thiện về thân.

Đó là :

1/ không sát sinh, mà hay làm việc trợ sinh.
2/ không trộm cắp, mà hay làm việc bố thí.
3/ không tà dâm, mà luôn luôn giữ hạnh thanh tịnh.

3. Xin cho biết bốn điều thiện về miệng.

Đó là :

1/ không nói dối, mà nói lời chân thật.
2/ không nói lời thêu dệt, mà nói lời đúng nghĩa.
3/ không nói lưỡi đôi chiều, mà nói lời hòa hợp.
4/ không nói lời thô ác, mà nói lời dịu dàng.

 4. Xin cho biết ba điều thiện về ý.

Đó là :

1/ không tham lam, mà thiểu dục tri túc (ít ham, biết đủ).
2/ không sân hận, mà thực hành nhẫn nhục.
3/ không si mê, mà phải phát triển trí tuệ.

 5. Thực hành thập thiện, được quả nào ?

Khi tụng kinh Thập thiện, chúng ta được Phật dạy cho biết tất cả các lợi ích khi làm mười nghiệp lành nói trên đây. Chỉ cần nhớ rằng tu Thập thiện là tu Thiên thừa, nghĩa là sau khi chết, sẽ được tái sinh lên cảnh trời (thiên), và cảnh trời có rất nhiều tầng, tùy theo sự tu hành cao đến đâu. [Ghi chú : Ai giữ năm giới thì gọi là tu Nhân thừa, sau khi chết sẽ được tái sinh vào cảnh người, và cảnh người cũng có nhiều bậc như ta thấy, sướng khổ khác nhau. Ai tu theo Tứ diệu đế thì gọi làtu Thanh văn thừa, đạt quả vị là thanh văn, cũng có nhiều bậc].

 8. VÔ THƯỜNG

1. Lý vô thường như thế nào ?

Vô thường là không thường, không hằng, thay đổi luôn luôn, không giữ nguyên một hình dạng nào, một trạng thái nào. Vạn pháp (sự sự vật vật) thay đổi hoặc nhanh hoặc chậm. Tư tưởng, ý nghĩ, tâm trạng cũng thay đổi luôn. Tâm viên ý mã có nghĩa là : tâm như con vượn chuyền cành, ý đổi như cẳng con ngựa lúc nào cũng nhúc nhích. Vật đổi sao rời, sớm nở tối tàn … dùng để nói vô thường. Thay đổi thật nhanh gọi là sát-na vô thường, thay đổi chậm, chút một, gọi là tương tục vô thường.

2. Thành trụ dị diệt là gì ?

Đó là nói về một quy luật bốn giai đoạn mà mọi thứ phải tuân theo : sinh ra, phát triển, biến đổi, hủy hoại. Đối với con người thì có « sinh, lão, bệnh, tử ». Nói gọn lại là : có sinh thì có tử, có sinh ra là có mất đi, chẳng có gì thường hằng, vĩnh cửu cả.

3. Biết lý vô thường thì có lợi gì ?

Biết lý vô thường để hiểu rõ sự vật, hiểu rõ cuộc đời, để biết có sinh là có tử, để đừng tham đắm vào cái gì cả, bởi vì sớm muộn, lâu mau gì thì cũng hoại, cũng diệt thôi. Biết lẽ sinh tử, biết luân hồi là khổ, thì hãy quyết định tu cho thoát khổ, thoát luân hồi.

4. Cầu thành Phật có phải là một sự tham lam không ?

Ở ngoài đời, tham lam danh vọng, của cải … là không tốt. Một sinh viên gắng học để đậu cao là một sự tinh tiến đáng khuyến khích, nhưng nếu mục đích của sự đậu cao là danh vọng tiền bạc thì lại không hay. Chúng ta cần phân biệt tham dụctinh tiến. Tinh tiến để khá mãi lên về tinh thần, về đạo đức và tâm linh thì tốt. Thành Phật, lên Niết-bàn là mục đích của mọi Phật tử, nhưng về phương diện đạo, không được mong cầu, không được chấp vào đó, bám vào đó, trụ vào đó mà phải tu tự nhiên như thở hít không khí vậy.

9. NHÂN QUẢ

1. Nhân quả là gì ?

Gieo hạt thóc, ta gặt được lúa. Hạt thóc là nhân, lúa là quả. Lấy hột cam đem trồng, được cây cam và trái cam. Hột cam là nhân, trái cam là quả. Đó là nói một cách giản dị, sự thật lý nhân quả có nhiều chi tiết lắm. Nhân quả nói cho đủ là nhân duyên quả báo. Nhân là cái hạt giống; duyên là các điều kiện; quả là kết quả; báo là đền bù lại. Hạt lúa là nhân. Nước, mặt trời, phân bón … là duyên. Lúa là quả báo.

Nhân Quả và Duyên khởi

Nhân Quả và Duyên khởi

2. Xin nói rõ các chi tiết.

a- Nhân nào quả đó. « Trồng dưa thì được dưa, trồng đậu thì được đậu ». Làm lành thì hưởng lành, làm ác sẽ gặp ác.

b- Nhân phải có đủ duyên mới trổ quả được. Duyên tốt gọi là trợ duyên, duyên xấu gọi là nghịch duyên.

c- Trong nhân có sẵn quả, đủ duyên thì thành. Trong quả có sẵn nhân. Vòng nhân-quả, quả-nhân quay tròn mãi. Muốn diệt quả, phải diệt nhân. Muốn hết khổ, phải diệt tham dục.

3. Còn chi tiết khác không ?

a- Ai gieo nhân, người đó hái quả. Mỗi người phải chịu trách nhiệm về nghiệp về thân, miệng và ý của mình.

b- Trong vũ trụ, nhân và duyên chằng chịt với nhau nên khó thấy đâu là nhân, đâu là quả.

4. Từ nhân đến quả, hết bao lâu ?

Có khi mau, có khi chậm. Quả hiện ra ngay trong đời này gọi là hiện báo. Quả hiện ra trong đời sau gọi là sinh báo. Quả hiện ra trong nhiều đời sau nữa gọi là hậu báo. Người ta hay dùng câu « quả báo nhãn tiền » để nói về quả báo xẩy ra ngay trước mắt, rất rõ ràng.

5. Tại sao có người chỉ làm lành mà lại khổ mãi ? Tại sao có kẻ ác mà lại sung sướng ?

Người làm lành mà chịu khổ là vì các quả ác của các kiếp trước nay mới trổ ra. Kẻ ác mà sung sướng là vì các quả lành của các kiếp trước hãy còn sót lại.

6. Ai làm nấy chịu, ai tu nấy hưởng, tại sao lại có câu « đời cha ăn mặn, đời con khát nước » ?

Phải nói dài như thế này cho đúng lý nhân duyên quả báo : cha làm ác, đó là nhân (cha sẽ chịu quả ác, kiếp này hay kiếp sau, theo đúng lý nhân quả). Khung cảnh gia đình không tốt của người cha ác đó là những cái duyên làm cho con trở nên xấu. Vì xấu, nên làm ác, và do đó mà người con đó gánh hậu quả ác. [Đó là nói đơn giản thôi. Theo đạo Phật, người con đó có tự do, có ý chí để chống lại các cái xấu và trở nên tốt. Đó là khía cạnh rất tích cực của Phật giáo]. Câu « ăn ở hiền lành để đức cho con » có thể giải thích giống như vậy.

10. NGHIỆP

1. Nghiệp là gì ?

những hành động cố ý, do thân, miệng và ý. Theo luật nhân quả thì tất cả những hành động ấy không bay đi mất mà sẽ là những nhân để gây ra quả. Đó gọi là nghiệp nhân. Khi gặp đủ duyên thì nghiệp nhân trổ ra quả, đó gọi là nghiệp quả hay nghiệp báo. Ba nghiệp là nghiệp thân, nghiệp miệng, nghiệp ý (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp).

2. Có mấy loại nghiệp ?

Theo tính chất mà nói thì có nghiệp lành, nghiệp dữ và nghiệp không lành không dữ (thiện nghiệp, ác nghiệp, vô ký nghiệp). Theo thời gian mà nói thì có nghiệp từ các kiếp trước tích lũy lại (túc nghiệp) và nghiệp tạo ra ở kiếp này (hiện nghiệp). Theo hình tướng mà nói thì có nghiệp lộ rõ (biểu nghiệp) và nghiệp không lộ rõ (vô biểu nghiệp). Thường nghiệp là nghiệp do thói quen hay công việc hàng ngày. Trọng nghiệp là nghiệp nặng (như giết người). Cận tử nghiệp là nghiệp lúc gần chết.

3. Vậy nghiệp là thứ đáng sợ ?

Theo lời nói thông thường hàng ngày của chúng ta thì nghe đến chữ nghiệp là có ý nói đến những cái xấu. Tuy nhiên, có cả thiện nghiệp. Thường nghiệp (nghiệp của người luôn luôn nói dối, người lúc nào cũng tham tiền chẳng hạn) và trọng nghiệp sẽ ảnh hưởng mạnh đến cận tử nghiệp, và cận tử nghiệp dẫn đến chỗ tái sanh.

4. Thế là cắn răng chịu cái nghiệp hay sao ?

Không, đạo Phật dạy rằng nếu gây thiện nghiệp thì thiện nghiệp ấy có thể làm nhẹ ác nghiệp, hay làm cân bằng ác nghiệp, hay xóa ác nghiệp.

5. Phật giáo có nói số mệnh, thiên mệnh không ?

Không. Tất cả là do nghiệp của các kiếp trước và kiếp này quyết định, nhưng điểm đặc biệt của đạo Phật là người ta có thể tự tạo ra thiện nghiệp để chống lại ác nghiệp. Đó là ý nghĩa câu « đức năng thắng số », câu này không phải của đạo Phật nhưng nói được cái ý của đạo Phật.

6. Nghiệp chướng là gì ?

Chướng nghĩa là ngăn che. Chướng đồng nghiã với phiền não, tức là những thứ làm cho thân, cho tâm bị bất an, đau khổ. Có ba thứ chướng là :

– phiền não chướng như tham, sân, si.
– nghiệp chướng như giết cha, mẹ, Phật…
– báo chướng làm cho chịu khổ cực trong ba đường ác.

Trong khi nói hàng ngày, người ta ít nghĩ đến các chi tiết như trên, mà thường dùng chữ nghiệp chướng với nghĩa : cái nghiệp nó ngăn che những gì tốt lành.

11. LUÂN HỒI

1. Luân hồi là gì ?

Luân là cái bánh xe, là quay tròn. Hồi là trở về. Ý nói sinh ra rồi chết đi, rồi tái sinh. Nói rõ ra, con người sinh ra, già rồi chết nhưng chết không phải là hết vì sau đó lại sinh vào một nẻo khác, một đường khác, một cảnh giới khác trong số sáu cảnh giới (gồm ba đường ác và ba đường lành) mà chúng ta đã học trước đây. Như thế gọi là sinh tử luân hồi hay luân hồi.

2. Có thoát luân hồi được không ?

Có. Nếu tu đến một bậc cao nào đó thì sinh lên một trong bốn cảnh giới của các thánh, không phải luân hồi. Bốn thánh đạo là : thanh văn, duyên giác, bồ-tát, Phật.

3. Cái gì gây ra luân hồi ?

Vòng sinh Tử Luân hồi

Vòng sinh Tử Luân hồi

Ba nghiệp (thân, miệng, ý) gọi chung là nghiệp, nghiệp này chính mình làm ra, tức là do mình gieo nhân, nên do mình hái quả. Nghiệp tuy vô hình nhưng lại rất mạnh, gọi là nghiệp lực. Nghiệp lực này đẩy mình vào kiếp mới.

4. Cái gì đi vào kiếp mới ?

Mỗi người có một thần thức riêng, thần thức vô hình mang cái nghiệp vô hình sang kiếp mới. Khi người mới chết, gia đình làm lễ ở chùa, thấy nhà chùa dùng chữ hương linh, chân linh (hay vong linh), đấy là nói thần thức của người chết. Nhà chùa không dùng chữ linh hồn hay hồn. Nếu chúng ta dùng chữ hồn thì cần nhớ hồn ấy không trường cửu và bất biến. Nếu dùng danh từ Phật giáo thì lấy chữ a-lại-da, a-lại-da chứa các chủng tử (hạt giống) thiện, ác, không thiện không ác của nghiệp, mỗi người có cái nghiệp riêng của mình.

5. 49 ngày là thế nào ?

Thần thức có một thời gian tối đa là 49 ngày để sang kiếp mới, để tái sinh (chữ thường dùng là đầu thai, chữ đó nghĩa hẹp, vì khi sang kiếp khác có trường hợp khỏi phải vào thai). Nếu tội quá nặng, bị đọa địa ngục thì chết là đi ngay. Nếu tu thành bậc thánh thì sau khi tịch sẽ lên niết-bàn ngay. Tại sao biết là 49 ngày ? Do các cao tăng xưa kia do nhập định sâu nên theo rõi được thần thức của người mới chết nên biết. Lễ cầu siêu, hương linh được hưởng một phần bảy công đức tụng kinh và lễ bái.

12. NĂM UẨN

1. Năm uẩn là những gì ?

Năm uẩn là : sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Năm thứ ấy là năm thành phần làm nên con người. Thông thường chúng ta quan niệm rằng con người có hai phần : vật chất và tinh thần, hay thân và tâm. Phật học gọi phần vật chất, tức là thân thể, là sắc, và nói rằng phần tinh thần, tức là tâm, do bốn thứ hợp lại là thọ, tưởng, hành, thức.

2. Xin giải nghĩa rõ.

Thọ : đó là nói về các cảm giác vui, buồn, không vui không buồn. Tưởng : đó là sự nhận biết tức tri giác, thí dụ nhìn bông hoa thì biết là bông hoa. Hành : chữ này nghĩa rộng lắm nhưng ở đây hành nghĩa là những tác ý, tức là ý muốn hành động bằng thân, miệng, ý. Chúng sẽ gây nghiệp (thọ và tưởng không gây nghiệp). Thức : chữ này rất khó, nói gọn thì thức có tám thành phần là thức của mắt, tai, mũi. lưỡi, thân, ý (6 thức), mạt-na (thức thứ 7) và a-lại-da (thức thứ 8).

3. Xin nói thêm về thức.

Sáu căn là : mắt, tai, mũi lưỡi, thân, ý (nhãn căn, nhĩ căn, tỵ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn, nói tắt là nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý). Năm căn trước dễ nhìn thấy, còn căn thứ sáu là ý căn (mà lại gọi tắt là ý ) thì vô hình nên khó hiểu.

Sáu đối tượng của chúng là : sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp [sắc ở đây là màu sắc và hình thể; pháp nghĩa rất rộng, pháp là mọi sự vật hữu hình, hay vô hình], đó gọi là sáu trần hay sáu cảnh.

Khi mắt tiếp xúc với sắc thì đĩ là duyên làm phát sinh cái biết của mắt tức nhãn thức. Khi tai tiếp xúc với thanh thì phát sinh cái biết của tai tức nhĩ thức… Tương tự với tỵ thức, thiệt thức, thân thức.

Khi ý căn tiếp xúc với pháp thì phát sinh ra ý thức. Ý thức quan trọng lắm, con người làm tốt làm xấu là do ở nó, «công cũng ở nó mà tội cũng ở nó».

4. Còn hai thức nữa ?

Chỗ này khó, xin quý vị đọc rất chậm. Nếu không hiểu thì chỉ cần nhớ tên hai thức thứ 7 và thứ 8, sau này học thêm sẽ « vỡ » dần ra. Câu hỏi : Ý căn ở đâu ? Trả lời : Ý căn vô hình, có tên là mạt-na. Mạt-na lại giữ luôn một nhiệm vụ nữa : nó là một thức, nó là thức thứ 7 ! Nó là cái biết chấp ngã, chấp cái ta. Vậy : mạt-na là một căn đồng thời là một thức. Nó chấp ngã. Nói mạt-na là thức thì căn của nó ở đâu ? Căn của nó là a-lại-da, vô hình. A-lại-da đã làm căn cho mạt-na rồi, lại giữ thêm việc : nó là một thức, thức thứ 8 ! Nó làm đối tượng cho mạt-na. Vậy : a-lại-da là căn của mạt-na đồng thời là đối tượng của mạt-na.

5. A-lại-da quan trọng ra sao ?

Rất quan trọng. Xin nói thật ngắn : a-lại-da chứa mọi chủng tử (nhân) của nghiệp thiện, ác, không thiện không ác. Nhân sẽ trổ quả khi đủ trợ duyên, sẽ lụi mất khi gặp nghịch duyên. Tu hành là gắng tích trữ nhiều chủng tử tốt vào a-lại-da và loại trừ chủng tử xấu, mục đích gây nghiệp lành. Khi tái sinh, a-lại-da mang cái nghiệp lành đó vào kiếp mới. Người chuyên tâm niệm Phật đúng cách sẽ ướp các chủng tử lành (tức là các niệm về Phật chứ không phải các niệm ác, niệm tạp) vào a-lại-da, đến lúc chết sẽ vãng sinh lên Tịnh độ của Phật A-Di-Đà, ở đó mà tu lên mãi.

13. MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN.

1. Mười hai nhân duyên là gì ?

Là 12 cái khoen nối tiếp nhau, cái trước làm nhân cho cái ngay sau nó, và cái sau là quả của cái ngay trước nó. 12 nhân duyên là lý thuyết quan trọng của đạo Phật, dùng để giảng nghĩa đời sống con người và sự luân hồi.

2. Xin kể rõ tên 12 nhân duyên đó.

Sau đây, nếu tôi kể A, B, C … thì xin quý vị nhớ : A là nhân của B, B là quả của A và xin quý vị đọc : A duyên B, B duyên C v.v.. Cũng đọc : Nếu A diệt thì B diệt, nếu B diệt thì C diệt v.v… Đây là 12 nhân duyên theo thứ tự : vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử. Vô minh là nhân của Hành hay Vô minh duyên Hành … Hành là quả của Vô minh. Nếu Vô minh diệt thì Hành diệt …

3. Những chữ đó nghĩa là gì ?

Mô hình Thập nhị nhân duyên

Mô hình Thập nhị nhân duyên

1/ Vô minh là mê muội, từ bao nhiêu kiếp trước đã lầm lạc nhận giả làm thực cho nên nghĩ sai, tính sai, nói sai, làm sai.

2/ Hành, nói dễ hiểu là hành động qua thân, miệng, ý ; vì thế cho nên gây nghiệp.
3/ Thức chứa cái nghiệp ấy, nghiệp lực đẩy thức vô bụng mẹ, đầu thai.
4/ Danh-sắc nghĩa là có tâm và thân khi thành cái thai trong bụng mẹ
.5/ Lục nhập là có đủ sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
6/ Xúc, ra khỏi bụng mẹ rồi thì tiếp xúc với ngoại giới, hiểu dần (3-4 tuổi).
7/ Thọ là biết mừng vui, buồn giận, yêu ghét, ham muốn (5-14 tuổi).
8/ Ái là biết yêu thương, mơ tình dục (15-19 tuổi).
9/ Thủ là giữ lấy, nắm lấy.
10/ Hữu, nói dễ hiểu là sinh tồn, đẻ con.
11/ Sinh : sẽ sinh ra đời tiếp theo (để rồi sẽ già, chết).
12/ Lão tử : già, chết.

4. Tại sao nói 12 nhân duyên trải qua ba đời ?

Coi bảng trên đây thì thấy : 1 và 2 là những nhân thuộc về quá khứ .3,4, 5, 6, 7 là những quả thuộc về đời hiện tại. 8, 9, 10 là những nhân hiện tại. 11, 12 là những quả về đời vị lai.

5. Áp dụng tu hành ra sao ?

Muốn thoát khỏi tử (số 12) thì phải diệt vô minh (số 1). Nhưng vì khó, nên người ta diệt ái thủ, tham dục trước.

6. Tu 12 nhân duyên thì đạt đến quả vị nào ?

Đạt đến quả vị duyên giác (nghĩa là giác ngộ lý 12 nhân duyên). Nhắc lại : tu Tứ diệu đế thì đạt đến quả vị thanh văn, cao nhất là a-la-hán, nói gọn là la-hán.

_________________________________________________

(Còn tiếp)  

 

 

4 responses to “Vấn Đáp về Đạo Phật (I)

  1. lê trung hieu

    Có điều chưa hiêu ,thưc a lại da se rời thân xac sau khi tich thọ thân khác (linh hôn). Vây thì bất đông thức (chơn tâm thương tru) sau khi rơi thân xác se vê đâu hay cung se theo thưc a lai da, và nêu chơn tâm không theo thức a lai da thi thọ thân khac lây gi đê tu. Vây khi diệt thưc a lai da chân tâm se là môt dạng nao ,chơn tâm cũng phai có môt dang kêt câu nao đó, không thê nao hoan toan khôg có gi đươc , thât sư tinh không hay văng măt cua các thức là môt giao ly vươt khoi ngôn ngư, ly tri,nhân thưc trừu tượng ,cao siêu ,không thê nào diễn giải được.

    • Thưa ông bạn Lê trung Hiếu,

      Tiếp theo phản hồi của ông, tôi xin mạn phép góp ý về vai trò của A Lại Gia thức trong vấn đề Chết đi Sống lại, Sanh Tử Luân hồi của nhà Phật, cùng là vấn đề Chân Tâm.

      1. Nói đến Sanh Tử Luân Hồi, theo Duy Thức học, là phải nói đến 6 Căn và 8 Thức. Mỗi Thức đều dựa vào mỗi Căn để hoạt động: Nhãn thức dựa vào Mắt, Nhĩ thức dựa vào Tai v.v.. Ý thức dựa vào óc Não, Mạt Na Thức dựa vào 6 Thức trước. A Lại Gia thức thì dựa vào Chủng tử. Chết có nghĩa là sự ngưng hoạt động của các Căn. Do đó 6 thức và Mạt Na thức cũng ngưng hoạt đông. Nhưng A lại Gia vẫn không chết, vì Chủng tử không chết. Chúng có đời sống riêng, chứa sức sống của vô lượng hạt giống mà, khi còn sống, ta đã gieo trồng. Những hạt giống ấy, những chủng tử ấy, tiềm tàng trong A Lại Gia thức, chờ trợ duyên sẽ trỗi dậy hoạt động. lúc ấy hạt giống từ dạng tĩnh của Thức biến thành dạng động của Nghiệp lực. Nghiệp lực chỉ là sức mạnh, muốn thể hiện trên cõi thế gian, nó phải đổi dạng thành Chất sống. Cuối cùng Nhiệp lực đã biến dạng thành một cuộc sống mới, dưới hình thức một thân thể mới. Thân mới cách biệt với Thân cũ, nhưng dòng vận chuyển của Chủng tử thì bất đoạn, liên tu bất tận, từ thân cũ sang thân mới. Mạng sống của chúng ta đứt đoạn, có thủy có chung, nhưng sinh mạng của A Lại Gia thức thì vô thủy vô chung. Vai trò của A Lại gia thức trong Sanh tử Luân hồi của con người được thuyết minh trong môn Tâm Lý Duy Thức học là như vậy.

      2. Còn vế Chân Tâm, theo tôi hiểu. không liên quan đến A lại Lại Gia thức. Thức này chỉ liên quan đến sự sống chết. Hành giả, dùng Thiền định để giúp ta thoát khỏi mọi hạn chế nhỏ hẹp do trí óc đạt định ra. Khi hành giả buông bỏ được những thành kiến, những định đề đặt trên nền móng của bản ngả thì Chân lý sẽ hiển bày. Chân lý ấy là Chân tâm, là Phật tánh có sẵn trong mỗi chúng sanh. Phật đã nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sắp thành” (kinh Pháp Hoa). Đến đây ta có thể nhận ra là Nghiệp lực, một dạng mới của A Lại Gia, chỉ có ảnh hưởng đến công phu Thiền định của hành giả để khai mở Chân Tâm. Chân Tâm là một Pháp, do duyên hợp, không có thật thể, không có tự tánh, không từ đâu đến cũng không biết đi về đâu.
      ĐV

  2. lê trung hieu

    thât tinh cảm ơn đao viên cho tôi mơ rông hiêu biêt rât nhiêu mong bác cho tôi thêm môt sô nhân xet ,chia se …tôi rât mong co ngươi se mơ đươc nhưng gut măc vê phât phap .

  3. Thưa ông Lê Trung Hiếu,
    Cách đây hai bữa, tôi có gửi cho ông một e-mail về đia chỉ ông ghi trên Vườn Đào là trunghieu061986@gmail.com. Đến nay tôi không thấy ông hồi âm. Tôi chắc địa chỉ ông ghi không đúng. Có thể nào ôngcho địa chỉ e-mail đúng, mới nhất của ông không?

    Lý do tôi gửi e-mail cho ông là vì tôi thấy ông muốn học hỏi thêm nhiều về đạo Phật, đây là một điều rất tốt. Tuy nhiên tôi thấy là dùng hình thức phản hồi trao đổi trên diễn đàn Vườn Đào, rất không hợp cho việc này. Những vấn đề trong Phật học ông nêu lên rất rộng lớn. Khuôn khổ Vườn Đào lại giới hạn. Không những thế, độc giả Vườn Đào không mấy người quan tâm đến những khảo cứu chuyên biệt của Phật giáo đâu.

    Tôi nghĩ với hình thức e-mail ông có thể tiếp súc được với nhiều vị thiện tri thức hơn, được xem xét nhiều tài liệu giá trị Phật học hơn, tóm lại ông sẽ học hỏi nhiều hơn về Phật giáo.

    Ông nghĩ sao về việc này?
    ĐV

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s