Vấn Đáp về Đạo Phật (II)


Lời nói đầu – Tiếp theo phần 1 “Vấn Đáp về Đạo Phật (I) của ông Hoằng Hữu Nguyễn Văn Phú, dưới đây là Phần 2.

Đào Viên

14. BA CÕI

1. Ba cõi là gì ?

cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Ở cõi dục, có ăn uống và dâm dục; cõi dục bao gồm 5 cảnh giới (địa ngục, quỷ đói, súc sinh, a-tu-la, người) và 6 cõi trời thấp. Cõi sắc không ăn uống, không dâm dục nhưng có hình thể, bao gồm 4 cõi trời. Cõi vô sắc không có hình tướng bao gồm 4 cõi trời.

Tất cả đều còn luân hồi. Ba cõi còn gọi là tam giới với dục giới, sắc giới và vô sắc giới.

2. Sáu cõi trời thuộc về dục giới là những cõi nào ?

1/ Trời Tứ thiên vương.
2/ Trời Đao-lợi.
3/ Trời Dạ-ma.
4/ Trời Đâu-suất.
5/ Trời Hóa lạc.
6/ Trời Tha hóa tự tại.

3. Bốn cõi trời thuộc về sắc giới là những cõi nào ?

1/ Trời Sơ thiền.
2/ Trời Nhị thiền.
3/ Trời Tam thiền.
4/ Trời Tứ thiền.
(cĩ n?i ke thêm: 5/ Tịnh phạm địa).

4. Bốn cõi trời thuộc về vô sắc giới là những cõi nào ?

1/ Không vô biên xứ.
2/ Thức vô biên xứ.
3/ Vô sở hữu xứ.
4/ Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
 
5. Tam thiên là gì ?

Tam thiên khác hẳn tam giới. Tam thiên hay tam thiên thế giới là do chữ tam thiên đại thiên thế giới nói ngắn. Thái dương hệ (trong có trái đất chúng ta) gọi là một thế giới. 1000 thế giới làm thành một tiểu thiên thế giới. 1000 tiểu thiên thế giới làm thành một trung thiên thế giới.1000 trung thiên thế giới làm thành một đại thiên thế giới. Vậy một đại thiên thế giới gồm có 1000 x 1000 x 1000 thế giới, cho nên gọi là tam thiên đại thiên thế giới, nói tắt là tam thiên (ba số ngàn nhân với nhau, tức là 1 tỉ). Mỗi tam thiên là một quốc độ do một vị Phật cai quản. Tam thiên của đức Phật Thích-Ca là cõi Ta bà.

6. Chín phương trời, mười phương Phật là những gì ?

Nói dễ hiểu : chín phương trời là 4 phương chính Đông Tây Nam Bắc, 4 phương bàng (như Đông Nam, ..) và trung tâm. Mười phương Phật là 4 phương chính, 4 phương bàng, trên và dưới. Nói cho đủ : toàn thể dục giới kể là 1, sắc giới có 4 (tịnh phạm địa ghép vào tứ  thiền) và vô sắc giới có 4, vậy là 9 (9 phương trời còn gọi là cửu hữu, cửu môn …). Thêm vào các bậc Thánh (thanh văn, duyên giác, bồ tát, Phật) thành ra 10, đó là mười phương Phật.

Tam Giới

Vô Sắc Giới.  Tứ Không Thiên        Phi Tưởng phi phi tưởng xứ              30

Vô sở hữu xứ                                         29

Vô biên thức xứ                                     28

Không vô biên thức xứ                       27

Sắc Giới          Tứ Thiền Thiên         Đại Tự tại thiên                                     26

Hòa âm thiên                                       25

Sắc cứu cánh                                       24

Thiện kiến                                           23

Vô nhiệt                                              22

Vô phiền                                             21

Vô tưởng                                            20

Quảng Quả                                          19

Phước Sanh                                         18

Vô vân                                                  17

Tam Thiền Thiên      Biến tịnh                                             16

Vô lượng tịnh                                     15

Thiểu tịnh                                            14

Nhị Thiền thiên        Quang Âm                                          13

Vô lượng quang                                  12

Thiểu quang                                        11

Sơ thiền Thiên          Đại Phạm                                            10

Phạm phụ                                              9

Phạm chúng                                          8

Phạm thân                                             7

Dục Giới         Lục Dục Thiên        Tha hóa tự tại                                        6

Hóa lạc                                                  5

Đâu suất                                                4

Đao lợi                                                  2

Tứ thiên vương                                     1

                                                                        Tổng cộng số tầng trời  30

Dưới là Địa cư và Hư Không cư. Tổng cộng số tầng trời

                                                                 cho Tam Giới                       32                          

15. LỤC ĐỘ

1. Lục độ nghĩa là gì ?

Lục là sáu, độ là qua đò, qua sông, để đến bờ bên kia, ý nói là sang đến bờ giác ngộ, bờ giải thoát; bờ bên này là bờ mê muội. Lục độ nói cho đủ là lục độ ba-lamật-đa (ba-la-mật). Lục độ là sáu hạnh tu của bồ-tát. [Ba-la-mật phiên âm từchữ Phạn paramita, Tàu dịch là đáo-bỉ-ngạn nghĩa là tới bờ bên kia].

2. Lục độ gồm những gì ?

Tất cả 6 chữ sau đây đều có chữ ba-la-mật theo sau :

1/ Bố thí.
2/ Trì giới.
3/Nhẫn nhục.
4/ Tinh tấn.
5/ Thiền định.
6/ Trí huệ.

Chữ ba-la-mật ấy hàm cái nghĩa là thực hành sáu điều trên đây một cách tự nhiên như thở hít không khí, không vì ai bắt buộc, không mong ai khen ngợi, không tranh đua với ai, không mưu cầu phước báo.

3. Bố thí ba-la-mật như thế nào?

Bố thí ba-la-mật là bố thí mà không cần biết người nhận của cho là ai, của đem cho quý giá ngần nào, sẽ được bao nhiêu công đức. Những chữ kia giảng đại khái theo như câu trên đây.

4. Trí huệ là gì ?

Trí huệ hay trí tuệ nói đây là trí tuệ bát-nhã chứ không phải là trí tuệ mà ta vẫn hiểu như thông minh, học giỏi, đậu cao ở ngoài đời. Trí tuệ bát-nhã chỉ nảy sinh khi mà sự trì giới và sự thiền định lên đến một mức cao nào đó, điều ấy tỏ rằng trí huệ do tu tập mà có chứ không phải do học hành mà có. Do tu tập mà dứt được vô minh, trí tuệ hiển lộ. Nhờ trí tuệ này mà thấy được thực tướng của các pháp, các pháp thế nào thì thấy đúng như vậy, không bị vô minh làm sai lạc đi. Trí tuệ là chữ đối nghĩa của vô minh. [Ghi chú : giới, định. huệ gọi chung gọi là tam học].

Tam huệ gồm có : văn huệ (văn nghĩa là nghe, do nghe giảng nhiều mà có huệ), tư huệ (tư là suy nghĩ, do suy nghĩ kỹ mà có huệ) và tu huệ (do tu hành mà phát huệ).

5. Tu lục độ thì quả vị là gì ?

Quả vị là bồ-tát. Bồ-tát do chữ bồ-đề-tát-đóa nói gọn lại, và chữ này do chữ Phạn bodhisattva phiên âm ra. Bodhi là giác, sattva là chúng sinh, hữu tình . Vì thế chữ bồ-tát có chữ tương đương là giác hữu tình. Người ta nói bồ-tát là bậc « trên cầu đạo bồ đề, dưới hóa độ chúng sinh », làm như thế là hành bồ-tát đạo. Bồ-tát còn gọi là đại sĩ, cao sĩ. Đại bồ-tát là bồ tát đã có thể lên quả Phật rồi nhưng nguyện ở lại giúp đời.

6. Bố-tát khác bồ-tát thế nào ?

Khác rất nhiều. Người xuất gia, cứ nửa tháng một lần, tập trung để làm lễ bố-tát, sám hối những tội lỗi đã phạm, như thế để tăng thiện giảm ác.

16 . NĂM THỪA

1. Năm thừa là gì ?

Năm thừa (ngũ thừa) xe nghĩa đen là năm cỗ xe. Nói đến cái xe là có ý bảo rằng Phật pháp như cái xe chở con người từ chỗ khổ đau đến nơi yên vui, từ mê mờ đến sáng suốt, giác ngộ. Năm thừa là : nhân thừa, thiên thừa, thanh văn thừa, duyên giác thừa, và bồ-tát thừa.

2. Xin nói rõ phép tu và quả vị.

1/ Tu nhân thừa thì giữ năm giới, sau khi chết thì tái sinh vào cảnh người
2/ Tu thiên thừa thì thực hành thập thiện, sau khi chết thì tái sinh vào cảnh chư thiên.
3/ Tu thanh văn thừa thì tu theo tứ diệu đế, đạt các quả vị từ thấp đến cao như sau : tu- đà-hoàn, tư-đà-hàm, a-na-hàm, a-la-hán.
4/ Tu duyên giác thừa thì tu theo thập nhị nhân duyên, quả vị là duyên giác.
5/ Tu bồ-tát thừa thì tu theo lục độ, quả vị là bồ-tát.

3. Nhị thừa và tam thừa khác nhau thế nào ?

Nhị thừa là tên chỉ chung thanh văn thừa và duyên giác thừa. Tam thừa là tên chỉ chung thanh văn thừa, duyên giác thừa và bồ-tát thừa. Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật nói : chỉ một Phật thừa thôi. Phật thừa đồng nghĩa với vô thượng thừa và nhất thừa, tu thẳng thành Phật. Còn Kim cang thừa là nói về Phật giáo Tây tạng.

4. Tiểu thừa khác đại thừa ra sao ?

Phật giáo chia làm hai tông : Nam tông và Bắc tông, trước kia gọi là Tiểu thừa và Đại thừa. Nam tông thờ một đức Thích-Ca thôi; trung tâm là tu sĩ; kinh sách gồm bộ A-hàm mà tông đó cho rằng do chính đức Phật thuyết; quả vị cao nhất là a-la-hán. Bắc tông thờ nhiều Phật và Bồ tát; trung tâm là đại chúng; kinh sách rất nhiều, bao gồm luôn kinh của Nam tông; quả vị tu là bồ-tát.

5. Nam tông, Bắc tông ở những nước nào ?

Nam tông ở Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Mên … Bắc tông ở Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Quốc, Cao Ly, Nhật Bản, Việt Nam.

17 . TỨ NIỆM XỨ

1. 37 phẩm trợ đạo là những gì ?

Đó là các phép tu sau đây :

1/ tứ niệm xứ
2/ tứ chánh cần
3/ tứ như ý túc
4/ ngũ căn
5/ ngũ lực
6/ thất bồ đề phận
7/ bát chánh đạo.

Cộng được 37.

2. Tứ niệm xứ gồm những gì ?

Tứ là bốn, niệm là nhớ nghĩ, xứ là nơi chốn. Tứ niệm xứ gồm có :

1/ quán thân bất tịnh
2/ quán tâm vô thường
3/ quán pháp vô ngã
4/ quán thọ thị khổ.

3. Quán thân bất tịnh là thế nào ? để làm gì ?

Là tập trung tư tưởng để xem xét kỹ lưỡng và tường tận về sự nhơ bẩn của thân thể chúng ta, cả trong lẫn ngoài. Lúc xấu xí, khi về già, khi đau ốm, đủ thứ bẩn thỉu. Ấy là chưa nói đến cái xác chết từ ngày đầu đến nhiều ngày sau ! Mục đích của phép quán này là để phá lòng ái dục, ham mê sắc đẹp.

4. Quán tâm vô thường là thế nào ? để làm gì ?

Là tập trung tư tưởng để xem xét kỹ lưỡng và tường tận về sự thay đổi của cái tâm, nó thay đổi từng giây từng phút , lăng xăng như con khỉ chuyền cành. Không thể nhận cái tâm ấy là thật được, là ta được ! Mục đích của phép quán này là để phá chấp ngã. [Ghi chú : không những tâm là vô thường mà thân cũng vô thường].

5. Quán pháp vô ngã là thế nào ? để làm gì ?

Pháp ở đây có nghĩa là mọi sự, mọi vật, hữu hình và vô hình kể cả những thứ mà mình tưởng tượng ra. Quán pháp vô ngã là tập trung tư tưởng để xem xét kỹ lưỡng và tường tận rằng mỗi pháp là do nhiều thành phần hợp lại mà có, cho nên chúng không có tự thể, không có cái thể riêng của nó. Ta nói rằng nó vô ngã, không có cái ngã riêng Nói chung, cái gì do nhiều duyên hợp thành thì vô ngã. Mục đích của phép quán này là để phá sự chấp rằng mỗi pháp có ngã riêng. Vô ngã (nghĩa đen là : không có ta) là một điều quan trọng của đạo Phật. Ý nghĩa thật sự mà ta phải nắm chắc là : Cái gì do những thứ khác duyên hợp với nhau mà ra thì không có tự thể, như thế gọi là vô ngã, gọi là không. [Ghi chú : không những các pháp là vô ngã mà phải nói rõ ra là con người cũng vô ngã, vậy là nhân vô ngã, pháp vô ngã. Nói cách khác, nhân cũng không và pháp cũng không. Đó là một điểm rất cao của Phật pháp].

6. Quán thọ thị khổ là thế nào ? để làm gì ?

Thọ là nhận lãnh, lãnh mọi thứ, về mọi phương diện. Quán thọ thị khổ là tập trung tư tưởng để xem xét kỹ lưỡng và tường tận cái thân ta đây nhận lãnh biết bao nhiêu điều đau khổ, mà nếu có được vui sướng chút nào thì lúc chết, sẽ lại thấy khổ. Mục đích của phép quán này là để diệt lòng tham.

18. TỨ CHÁNH CẦN

 1. Tứ chánh cần là gì ?

Tứ là bốn. Chánh là chân chánh, hợp với lời dạy của đức Phật. Cần là cần mẫn, siêng năng, chăm chỉ. Tứ chánh cần là bốn điều hợp với chánh pháp mà Phật tử phải chăm chỉ tuân theo, thi hành để tiến tới trên đường tu học.

2. Tứ chánh cần gồm những gì ?

1/ Cương quyết ngăn chặn những điều ác khi chúng chưa phát sinh
.2/ Nhất định dứt trừ những điều ác khi chúng phát sinh rồi.
3/ Cố gắng làm những điều lành khi chúng chưa phát sinh.
4/ Tinh tấn làm những điều lành khi chúng phát sinh rồi.

3. Thế nào là lành ? Thế nào là ác ?

Những điều lành là những điều có ích lợi cho mình và cho người khác, nói chung là có ích cho chúng sinh. Làm, nghĩ, nói theo lời Phật dạy là làm lành. Ngay trước mắt, hành thập thiện là làm lành. Những điều ác là những điều làm hại cho mình và cho chúng sinh. Luôn luôn giữ ngũ giới thì tránh được điều ác.

4. Lành ác là kể ở hành động hay sao ?

Nếu hiểu hành động là thân làm thì chưa đủ. Phải kể cả thân, miệng và ý. Thân, miệng và ý đều gây nghiệp (trừ khi do vô tình), các nghiệp nhân đều gây quả khi đủ duyên. Vì thế, chúng ta phải ngăn chặn những điều ác ngay từ khi chúng manh nha ở trong ý. Và cần làm nhiều điều thiện để gieo nhân thiện

19 . TỨ NHƯ Ý TÚC

1. Tứ như ý túc là gì ?

Tứ là bốn, như ý là được như mình mong, túc là chân, ý nói chỗ nương tựa. Như ýtúc là chỗ nương tựa để được như ý. Còn gọi là thần túc, ý nói đến chỗ dựa vững chắc như dựa vào chân của thần nhân hoặc là giống như chân thần nhân đi lại lanh lẹ dễ dàng. Cũng có nơi nói rằng chữ thần ấy nhắc đến các thần thông vì trong lục thông, có thần túc thông. Tứ như ý túc hay tứ thần túc là chữ khó cho người mới học như chúng ta, vì đề cập đến sự thực hành bốn phép thiền định để vào chánh định và nhờ đó đạt đến giác ngộ và giải thoát.

2. Tứ như ý túc gồm có những gì ?

1/ Dục như ý túc (mong muốn mạnh mẽ được giác ngộ và giải thoát )
.2/ Niệm như ý túc (lúc nào cũng chăm chú nhớ nghĩ đến giác ngộ và giải thoát)
.3/ Tinh tấn như ý túc (kiên trì cố gắng nhắm vào việc nhớ nghĩ đến giác ngộ vàgiải thoát)
.4/ Quán như ý túc (quán chiếu, suy nghĩ về giác ngộ và giải thoát).

3. Mục đích là gì ?

Tứ như ý túc nhằm phát triển định lực đến trình độ cao, quán chiếu thật sáng suốt, phá màn vô minh rồi đi đến trí huệ. Bốn phép thiền định vừa kể là chỗ dựa vững chắc để tu tập, từ đó có thần túc ra vào các tầng thiền một cách dễ dàng như ý muốn.

20 . NGŨ CĂN & NGŨ LỰC

1. Căn là gì ? Lực là gì ?

Căn là gốc rễ. Ở bài này, căn không phải là cơ quan như nhãn căn (mắt). Ngũ căn là năm gốc rễ sinh ra các điều lành. Lực là sức mạnh. Ngũ lực là năm sức mạnh phát ra khi năm căn nói trên đây được tu luyện thuần thục.

2. Ngũ căn gồm những gì ?

1/ Tín căn. Tín là lòng tin, tin sau khi đã suy xét cẩn thận chứ không phải tin mù quáng (ngoài đời, thường có mê tín, lòng tin do thói quen, do gia đình, xã hội tạo cho, tin mà thiếu suy xét). Tin vào cái gì ? Vào giáo pháp của đức Phật sau khi học hỏi và nghĩ kỹ .
2/ Tấn căn. Đó là tinh tấn, nghĩa là chăm chỉ, chuyên cần, cố gắng tu học để luôn luôn tiến trên đường đạo.
3/ Niệm căn. Niệm là nhớ nghĩ, ở đây phải hiểu là nhớ nghĩ đến giáo pháp và nhất là giới luật, có như vậy mới vững vàng tâm trí không để cho các điều ác phát sinh, mà trái lại làm phát sinh điều thiện, thí dụ như diệt phiền não.
4/ Định căn. Hành thiền rồi lên tới định, lúc này tâm không còn vướng mắc, hết tán loạn, đắc thần thông.
5/ Tuệ căn. Tuệ là sự sáng suốt, có khả năng nhận biết sự vật thế nào như thế ấy không lầm lẫn và suy nghĩ đúng đắn.
 
3.Ngũ lực gồm những gì ?
1/ Tín lực là sức mạnh phát ra được nhờ tín căn. Tín lực giúp phá mê tín.
2/ Tấn lực là sứ mạnh do tấn căn mang tới, nó giúp vượt qua sự giải đãi, trễ nải ..
3/ Niệm lực là sức mạnh do niệm căn tạo ra, nó giúp diệt các vọng niệm, tà niệm,
ác niệm ..
4/ Định lực là sức mạnh do định căn đem lại, nó giúp tập trung tư tưởng hơn nữa.
5/ Tuệ lực là sức mạnh do tuệ căn phát huy ra, phá vô minh, diệt tham sân si ..
 
 
                                                         21 . THẤT GIÁC CHI
 
1. Thất giác chi nghĩa là gì ?
Thất là bảy. Giác là giác ngộ, bồ-đề (bodhi). Chi là ngành. Đó là bảy yếu tố để
đạt đến giác ngộ. Còn nhiều tên : thất giác phần, thất bồ đề phần, thất giác ý.
 
2. Thất giác chi gồm những gì ?
1/ Trạch pháp.
2/ Niệm.
3/ Tinh tấn.
4/ Hỷ.
5/ Khinh an.
6/ Định.
7/ Xả.
 
3. Ý nghĩa mấy chữ đó ra sao ?
1/ Trạch pháp là lựa chọn một pháp môn hợp với mình, sau khi suy nghĩ kỹ.
2/ Niệm là luôn luôn giữ chánh niệm, mục đích là không để cho tâm tán loạn.
3/ Tinh tấn là thường xuyên cố gắng, bền chí tu tập.
4/ Hỷ là vui mừng khi đạt được một số kết quả; đối với người thì vui vẻ, hòa nhã.
5/ Khinh an là nhẹ nhàng an ổn khi đã thuần thục với pháp môn tu của mình.
6/ Định là chăm chú vào một đối tượng duy nhất cho đến mức được hoàn toàn tĩnhlặng.
7/ Xả là buông bỏ, không yêu ghét, không chấp ngay cả thành quả mà mình thu
được.
 
 
                                                     22 . TỨ VÔ LƯỢNG TÂM
 
1. Bốn tâm vô lượng (tứ vô lượng tâm) là những gì ?
Bốn tâm vô lượng (tứ vô lượng tâm) là : từ, bi, hỷ, xả.
 
2. Xin giải nghĩa bốn chữ đó.
Từ là lòng lành, lúc nào cũng mong mang lại niềm vui cho chúng sinh.
Bi là lòng thương sót, thấy chúng sinh đau khổ thì làm mọi cách để cứu giúp.
Hỷ là lòng vui mừng khi thấy chúng sinh được những gì tốt lành.
Xả là buông bỏ, theo nghĩa hẹp là bỏ qua những lỗi lầm mà người khác làm phạm đến mình; theo nghĩa rộng xả là buông bỏ hết, không chấp nhất vào điều gì cả, như vậy trong lòng thanh thản, trong sạch.
 
3. Tại sao dùng chữ vô lượng ?

Bốn đức ấy hết sức rộng lớn nên gọi là vô lượng. Bốn đức ấy mưu cầu an lạc cho vô lượng chúng sinh. Bốn đức ấy nhằm xóa vô lượng khổ não cho chúng sinh. Bốn đức ấy nhằm vào chúng sinh trong vô lượng thế giới.

4. Thực hành tứ vô lượng tâm sẽ có kết quả gì ?

Do lòng từ mà diệt được tham dục. Do lòng bi mà diệt được sân nhuế.Do lòng hỷ mà chính mình vui, người khác cũng vui.Do lòng xả mà chính mình ung dung tự tại, người khác cũng theo đó mà bắtchước.

23. TỨ NHIẾP PHÁP.

1. Tứ nhiếp pháp nghĩa là gì ?

Tứ là bốn, nhiếp là nắm, giữ, tứ nhiếp pháp là bốn phương thức dùng để dẫn dắt chúng sinh vào Phật đạo, để họ tu học Phật pháp, ngõ hầu được giác ngộ và giải thoát. Không phải rằng mình là Phật tử rồi thì khi gặp ai là người ta theo mình lập tức để học Phật. Phải vận dụng tứ nhiếp pháp để cho người ta vui lòng đến với đạo Phật.

2. Tứ nhiếp pháp gồm những pháp gì ?

Đó là :

1/ bố thí
2/ ái ngữ
3/ lợi hành
4/ đồng sự.

3. Bố thí như thế nào ?

Đem tài vật như tiền bạc, quần áo, thuốc men, cơm nước.. giúp người ta gọi là tài thí. Nói rộng ra, có thể bố thí lời khuyên răn, lời an ủi, lời dạy dỗ, v.v… Bậc bồ tát đem cả thân mạng mà cứu người. Khi đem Phật pháp ra mà đọc, giảng cho người ta nghe gọi là pháp thí. Sống trong sạch, đạo hạnh theo lời Phật dạy làm gương cho người khác là một hình thức pháp thí. In kinh sách đem tặng cho người cũng là pháp thí. Làm cho chúng sinh an tâm, không lo sợ cũng là bố thí, đó gọi là vô úy thí. Người ta bị lụt lội, đói kém, bệnh tật, mà mình nhanh chóng trợ giúp để cho người ta không sợ chết, không sợ đói.. cũng là vô úy thí. Nên nhớ : làm bố thí rồi, không nên nghĩ đến công đức riêng cho mình mà phải hồi hướng công đứcho tất cả chúng sinh.

4. Còn ba thứ kia ?

1/ Ái ngữ là lời nói hiền hòa, dịu dàng, chân thật phát xuất từ lòng yêu thương để :an ủi và khuyên răn hoặc khuyến khích, giảng giải Phật pháp.
2/ Lợi hành là làm những công việc có ích lợi cho người về cả hai phương diện vậtchất và tinh thần, nhat là về phương diện tu hành. Một thí dụ nhỏ : may nệm chocác cụ già ngồi tụng kinh là lợi hành, kể chuyện ngài Mục Liên ngày lễ Vu Lanđể cho các thiếu niên hiểu lòng hiếu thảo là lợi hành.
3/ Đồng sự là cùng làm, làm trong niềm thân ái, quý trọng, mình và người tươngkính.

24. SÁM HỐI

1. Sám hối nghĩa là gì ?

Sám hối gồm hai chữ sám và hối, đồng nghĩa với nhau. Sám gốc ở chữ phạn ksamayati, hối là một chữ hán-việt thường thấy trong chữ hối hận. Sám hối là nhìn nhận những sai lầm, tội lỗi của mình, cảm thấy mắc cỡ, ray rứt và nguyện sẽ không tái phạm nữa.

2. Sám hối có tác dụng gì ?

Thông thường người ta thích phô trương cái hay, cái tốt của mình đồng thời che dấu những cái xấu, cái dở của mình. Khi mình nhận lỗi của mình và nguyện không tái phạm nữa thì đó là một việc làm can đảm, giúp cho mình càng ngày càng thanh tịnh hơn và như thế là có tiến bộ trên đường tu hành. Không chịu sám hối thì khó mà tiến được vì tội lỗi càng ngày càng chồng chất lên, gây chướng ngại lớn cho đường tu.

3. Sám hối bằng cách nào ?

Ở ngoài đời, khi ta làm một điều gì lỗi với ai, ta nói « xin lỗi » và được người ta bỏ qua, như vậy là hết lỗi. Tuy nhiên, chữ « xin lỗi » dùng nhiều quá trở nên nhàm và chỉ còn là một lời xã giao trong đa số các trường hợp. Dù sao nó cũng làm cho đời sống xã hội đẹp hơn, như chữ « cám ơn » vậy. Khi một Phật tử phạm một lỗi, nhất là khi phạm ngũ giới, thì trước hết phải can đảm nhận ra lỗi của mình rồi đến trước bàn thờ Phật, hết sức thành tâm và nghiêm chỉnh sám hối và quan trọng hơn nữa là nguyện không tái phạm. Trên thực tế, có nhiều tái phạm, nên luôn luôn phải thành tâm sám hối. [Ghi chú : Các vị xuất gia có các nghi thức sám hối riêng].

4. Tụng kinh sám hối ra sao ?

Thông thường, trong các khóa lễ đều có bài sám hối : « Từ xưa con gây bao ác nghiệp, Đều do vô thủy thâm sân si, Từ thân miệng ý phátsinh ra, Hết thảy con nay xin sám hối ». Có một bài dài hơn : Đệ tử kính lạy đức Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, Thập phương chư Phật, Vô thượng Phật pháp, Cùng Thánh Hiền Tăng, Đệ tử lâu đời lâu kiếp, Nghiệp chướng nặng nề, Tham giận kiêu căng, Si mê lầm lạc, Ngày nay nhờ Phật, Biết sự lỗi lầm, Thành tâm sám hối, Thề tránh điều dữ, Nguyện làm việclành, v.v…

Sau đó là tụng kinh ngay, cho nên trên thực tế, chúng ta không nói ra tội lỗi cụ thể

của chính mình và nguyện chấm dứt, thành ra mấy câu trên đây có thể trở thành

hình thức. Đã là hình thức thì ít tác dụng.

Có những khóa lễ sám hối, một tháng hai lần, tụng kinh Thủy Sám hay kinh

Lương Hoàng Sám. Việc này đòi hỏi nhiều cố gắng hơn thật, song điểm chính

phải tự xét mình có nói ra được hay nghĩ kỹ đến những lỗi lầm của mình và

nguyện không tái phạm không. Vì thế, tốt nhất là hàng ngày, nên quay lại xét

chính bản thân mình đã, rồi sám hối về lỗi mới phạm, sám hối luôn các ác nghiệp

từ vô thủy. Như thế, nhiều hy vọng xóa dần ác nghiệp.

5. Nói vắn tắt thì sám hối thế nào ?

1/ Hàng ngày, tự xét mình, xem mình đã làm lỗi gì.

2/ Nếu lỗi với một cá nhân nào đó thì can đảm nói thẳng lời xin lỗi với người ta.

3/ Các lỗi khác, thì sám hối trước bàn thờ Phật [nếu không có bàn thờ, thì sám hối

trong tâm], nhớ sám hối cả các ác nghiệp tích lũy từ trước.

4/ Phải thành tâm và nguyện không tái phạm. Nếu tái phạm, lại sám hối nữa.

___________________________________________________

(còn nữa)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s