Thiền Định và Sức Chuyển Hóa Lòng Người


Cửa Thiền thường nghiêm tịnh
Toàn chúng mãi thuận hòa
Pháp huệ chiếu sáng ngời
Mưa Pháp hằng nhuần gội
Phật tử lòng tin sâu
Ruộng phước càng tăng trưởng
Chúng sanh sống an lạc
Vui hưởng cảnh thái bình
Nơi nơi dứt đao binh
Mỗi mỗi đều thành Phật.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

— Phục nguyện hồi hướng—

Đào Viên

1.      Thiền chuyển hóa lòng người Hoa kỳ

Phật giáo đã được du nhập vào Hoa kỳ cả trên 100 năm. Nếu không kể đến giả thuyết của nhà khào cổ hoc người Pháp, ông M. De Guignes đã cho rằng một nhà sư Trung Hoa tên là Huệ  Sơn (Hui Shan) đã cùng với 5 nhà sư khác tới lục địa Mỹ Châu (Alaska và miền duyên hải Bắc Mỹ) từ thế kỷ thứ 5, thì Phật giáo đã chính thức vào Hoa kỳ ngày 8 tháng 9 năm 1893, khi Ðại Hội Ðồng Tôn Giáo Thế Giới (World Parliament of Religions) được khai mạc tại Chicago, với sự tham dự của các đoàn đại biểu của trên 10 truyền thống tín ngưỡng thế giới.

Ngoài các truyền thống Thiên chúa giáo, và Do thái giáo, các tôn giáo Á châu, như Ấn Ðộ giáo (Bà La Môn, Parsis, Sikhs, Jains), Hồi giáo, và Phật giáo cũng đều có mặt. Khổng giáo và Lão giáo cũng được trình bầy bởi một vị từ sứ quán Trung Hoa tại Hoa Thịnh Ðốn đến. Riêng Phật giáo Á Châu, đại biểu Phật giáo Tiểu Thừa từ Tích Lan, Thái Lan, Phật giáo Ðại Thừa từ Nhật Bản (ngành Thiền Lâm Tế, Tào Ðộng, và Liên Hoa Tông) và Ðại Thừa Trung Hoa đã tích cực đóng góp để Ðại Hội đạt được  “một thành quả cao cả và đáng vinh danh nhất của thế kỷ”.

Khất sĩ Dharmapala

Khất sĩ Dharmapala

Trước Ðại Hội, Phật giáo được chính thức ra mắt người dân Hoa kỳ và ngược lại cũng đã được người dân Hoa Kỳ đón tiếp rất nồng nhiệt. Hai vị đại biểu Phật giáo đã làm các đoàn đại biểu các tôn giáo cũng như hơn hai trăm nhân sĩ tham dự phải chú ý là đại sư Anagarika (Khất Sĩ) Dharmapala từ Tích Lan (Tiểu Thừa) và Thiền sư Soyen Shaku hay Kogaku Soen (Chiếu Nguyên Giác, hay Hồng Nhạc Tông Diễn) từ giòng Lâm Tế Nhật Bản.

Phật Giáo là đạo Giải Thoát, giải thoát khỏi Khổ đau. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hơn hai ngàn năm trăm năm trước, đã ngồi dưới gốc cây Bồ đề nghiền ngẫm trong 49 ngày và đã tìm ra chân lý – Giải thoát Sanh Tử – sau khi đã nhập Thiền định ở tầng cao nhất. Kể từ đó hành Thiền, dưới nhiều hình thức khác nhau, đã trở thành, một phương pháp cần thiết không thể thiếu trong việc tu tập Phật đạo.

Thiền định là gì? Nói một cách ngắn gọn thì Thiền định là trạng thái của Tâm thật tĩnh lặng, sáng suốt, khi thấy các pháp, tức là các sự việc xung quanh, như thật, như đang là, và không có một ý niệm so sánh.

Sự kiện tâm linh này đã đưa đến nhiều kết quả, nhiều khám phá hết sức bất ngờ trong đời sống tinh thần, vào những hoạt động lý trí của con người trong xả hội, từ Đông phương đến Tây phương.

Khoa học Tây phương đã dùng thí nghiệm để khảo sát Thiền định và đã chứng minh được rằng học Thiền quả thật giúp con người sáng tạo hơn, có trí nhớ tốt hơn, giảm thiểu những căng thẳng trong đời sống thường nhật, nhìn đời lạc quan hơn, thậm chí còn cho rằng sẽ được điểm cao trong các kỳ thi.

Tại Hoa kỳ hành Thiền từ nhiều năm nay đã trở nên một công cụ rất thời thượng Nhiều lớp Thiền định đã được mở ra, tỷ như lớp phổ biến hành Thiền tại công ty Google của Chad Meng-Tan, những buổi hội thảo Wisdom 2.0 tại New York cho những doanh gia, chính trị gia, những nhà lãnh đạo trong mọi ngành nghề, hứa hẹn hành giả sẽ có nhiều sáng kiến, nhiều quyết định sáng suốt, nhiều lợi nhuận.

Tuy nhiên mục đích tối hậu của Thiền định, đề xướng bởi đức Phật Thích Ca Mâu Ni và khai triển bởi những Thầy Tổ Thiền sư đắc đạo như Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Khả, Huệ Năng, Trúc Lâm Đại Đầu Đà, Bạch Ẩn Huệ Hạc.., đâu có phải là để cải thiện khả năng tinh thần của con người. Thực ra các ngài trông mong những người học tập Thiền trở nên những con người tốt hơn, biết nhìn thế giới bên ngoài, mọi sinh vật một cách bao dung, bi mẫn. Trong ba chữ Bi, Trí, Dũng, châm ngôn căn bản của Phật giáo, thì chữ Bi, là lòng Thương người, đứng đầu.

Thực tập Thiền định có quả thật làm cho con người biết thương người hơn không? Làm thế nào để chứng minh điều đó?

Ông David Destenp

Ông David DeSteno

Để làm chuyện này  ông  David DeSteno, giáo sư Tâm lý học trường Northeastern University ở Boston, Massachussetts, đã cùng với mấy  người bạn là nhà phân tâm học Paul Condon, bác sĩ thần kinh não bộ Gaelle Desbordes và ông Willar Miller thuộc trường đại học Harvard, cũng là một Thiền sư Tây tạng,  đã thử làm một cuộc thí nghiệm.

Trước hết họ tuyển dụng 39 người thiện nguyện trong vùng Boston là những người bằng lòng tham dự một lớp học tập Thiền định trong 8 tuần lễ. Điều kiện là họ phải là những người chưa bao giờ học Thiền.

Trong số 39 người này, họ chỉ định một cách ngẫu nhiên 20 người được theo học một lớp Thiền 8 tuần,  học kỹ thuật Thiền tọa và một chút giáo lý cơ bản nhà Phật. Những người này còn được khuyến khích tập Thiền ở nhà với những dụng cụ do ban tổ chức cung cấp như tọa cụ, bài giảng …Số 19 người còn lại, được nói là hãy tạm thời chờ đợi đến lớp Thiền học tới.

Sau khi lớp  học Thiền 8 tuần lễ hoàn mãn, ban tổ chức mời tất cả 39 vị tham gia chương trình dến phòng thí nghiệm của trường đại học Northeastern University với lý do bề ngoài là để biết rõ khả năng tinh thần và tri thức từng người. Nhưng thực ra các nhà khoa học muốn tìm hiểu xem những vị đã học tập 8 tuần Thiền định có hành xử tử tế, tỏ ra có lòng thương cảm trước những thảm cảnh không.

Để tìm hiểu việc này họ đã dàn cảnh ra một tình huống để làm cuộc thí nghiệm trước khi những người tham gia được biết đó chỉ là một cuộc thí nghiệm giả tạo.

Mỗi vi tham gia chương trình, lần lượt từng người, đi vào một căn phòng chờ đợi trước khi được gọi vào phòng thí nghiệm của trường đại học.  Trong phòng đợi, chỉ có ba chiếc ghế, hai cái đã có người ngồi, chỉ còn một chiếc bỏ trống. Dĩ nhiên là người mới bước vào sẽ tiến đến cái ghế bỏ trống để ngồi. Ngay lúc  đó có một người thứ tư bước vào phòng: đó là một người đàn bà, chân  gãy bị bó bột, phải dùng nạng để đi vào. Bà ta hơi rên rỉ tỏ ra rất đau đớn và phải đứng dựa vào tường, chờ đợi.

Đại học Northeastern, Boston

Đại học Northeastern, Boston

Hai người đã ngồi sẵn trong phòng – hai người này cũng như người đàn bà có chân bó bột thực ra là những người làm việc bí mật cho các giáo sư trong cuộc thí nghiệm – làm như không để ý đến người đàn bà đau khổ, người thì ngồi chăm chú đọc sách, người thì mải gọi điện thoại di động. Thành thử ra người thứ ba tham gia chương trình đã  phải đối diện với một tình trạng trong đó phải quyết định( mình) có nên nhường chiếc ghế trống cho người đàn bà đó không? Thông thường con người hay tự hỏi: tại sao mình phải nhường chỗ?. Mình đến trước mà? Hai người kia đã ngồi lâu rồi, nhường chỗ cho người đàn bà có chân bó bột mới là phải?

Sau cuộc thí nghiệm, các vị giáo sư trường Northeastern đã có kết quả cuôc thí nghiệm rất khác thường:

Giáo sư Gaelle Desbordes

Giáo sư Gaelle Desbordes

Đối với những vị không tu tập Thiền định, 16% những vị đó đã nhường chỗ cho người đàn bà.  Đối với những vị đã tu tập Thiền định 8 tuần, tỷ số trên lên tới 50%., tức là gấp ba lần.

Các nhà khoa học đã thấy rằng tỷ số gia tăng đáng kể này không những chỉ do đã tu tập 8 tuần thiền định mà thôi, mà hay hơn nữa là trong cuộc thí nghiệm, người tham gia chương trình đã chứng kiến tận mắt lòng dửng dưng của người khác trước kẻ khốn cùng. Thông thường người ta khi trông thấy lòng dửng dưng của người khác – trong Tâm lý học được gọi là “the bystander effect” – có xu hướng cũng dửng dưng theo.

Dầu sao cuộc thí nghiệm chứng tỏ Tu tập Thiền định quả thật đã làm lòng thương người gia tăng thêm mhiều phần.

Cho đến nay, các vị giáo sư đại học NorthEastern chưa biết tại sao Thiền định đem đến kết qủa như vậy. Họ nghĩ một trong hai điều lý giải sau đây có thể giải thích chuyện này.

Lý giải thứ nhất: Thiền định gia tăng khả năng chú tâm vào một chuyện, ở đây là chú ý đến nỗi khổ của người khác (thay vì chỉ chú ý vào bản thân mình)

Lý giải thứ hai là Thiền định giúp hành giả thấy rõ mọi người trong chúng ta đều có  tương quan với nhau

Ông Paul Condon

Ông Paul Condon

Sau cuộc thí nghiệm giáo sư DeSterno cho rằng: “ Tu tập Thiền định – dù chỉ trong một thời gian ngắn – cũng làm cho con người ta cảm thấy và sẵn sàng giúp người khác bớt đau khổ”

Kết luận: Thiền tập quả có sức chuyển hóa lòng người: con người động lòng thương sót khi thầy người đồng loại ở trong nghịch cảnh, bị đau đớn, mở lòng bi mẫn muốn giúp đõ kẻ khốn cùng

***

2. Thiền chuyển hóa lòng người Việt Nam.

Năm 1975 Đảng Cộng sản và chính phủ nước Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa nắm được chính quyền miền Nam Việt Nam. Để có thể đảm bảo an ninh chính trị và xã hội trong lãnh vực tôn giáo, Đảng và chính phủ đã tăng cường Ban Công An Tôn giáo là cơ quan trực thuộc bộ Nội Vụ, hầu có thể theo rõi, kiểm soát mọi hành vi, động tác của các sư sãi tăng nhân.

Thầy Thanh Từ

Thầy Thanh Từ

Trong Nam, thời bấy giờ, có Hòa Thượng Thích Thanh Từ là người tu hành ngộ đạo, đã sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm với nhiều Thiền Viện vùng Núi Lớn Vũng tầu, Long thành Bà rịa mang tên Chiếu: Thường Chiếu, Viên Chiếu, Huệ Chiếu trong đó có hành trăm tăng ni tu học và hàng trăm Phật tử đến nghe Pháp.

Ban Công An Tôn Giáo ở Hà Nội thấy cộng đồng Phật giáo đông đảo như vậy có thể là mầm mống gây rối loạn cho trật tự xã hội, ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị của Đảng và chính quyền. Họ bèn cử một viên cán bộ cao cấp có quân hàm hạng Tá vào Nam để dò xét hành tung và hoạt động của Thầy Thanh Từ và Tăng thân trong các Thiền Viện.

Nhiệm vụ của người Công an Tôn giáo này là tìm hiểu mục tiêu và ảnh hưởng xã hội chính trị của Thầy Thích Thanh Từ và Tăng Thân. Hàng tháng phải gửi báo cáo về Trung Ương để dịnh liệu.

Để tìm hiểu, người cán bộ Công An Tôn Giáo đã bỏ ra 9 tháng, sống hòa nhập với Tăng Thân, cùng ăn, cùng ngủ, cùng chấp tác như mọi người.

Ông ta đã thấy rằng đời sống trong Thiền viện hết sức cơ cực. Một ngày ăn hai bữa, thức ăn phần lớn là rau đậu ngô khoai mà nhà chùa phải trồng lấy mà ăn. Phải thiền tọa mổi ngày ba thời, mỗi thời 2 tiếng. Phải tuân theo một kỷ luật nghiêm khắc: sáng dậy sơm lúc 3:30 am, giờ chỉ tịnh bắt buộc là 10:00  pm không còn tiếng động, ánh đèn nào. Phải chấp tác hàng ngày, bao gồm cả làm vườn, trồng trọt, làm tương, muối dưa muối cà, xây cất nhà cửa, làm đường, lát gạch vân vân… Ông ta cũng ngồi nghe Thầy Thanh Từ giảng Pháp như các Tăng Ni lớn nhỏ, cũng vào tham vấn Phật pháp với Thầy.

Người cán bộ Công An Tôn giáo mới khám phá ra rằng Thiền viện của Thầy Thanh Từ là một tổ chức như Ba Lê Công Xã (la Commune de Paris) ngày trước của những người “Vô Sản thứ thiệt”. Xã hội những người Vô sản, “làm theo tùy sức, hưởng theo nhu cầu”, đề cao tán tụng bởi Các Mác, ông tổ của chủ nghĩa Cộng sản, là đây. Tăng nhân không ai giữ tiền, không ai có chương mục ngân hàng riêng, cần tiền khi ra ngoài làm việc riêng thì xin vị Tăng Tri Khố. Tất cả mọi người tỏ ra rất hạnh phúc, bất chấp mọi thiếu thốn, cực nhọc.

Ông cũng thấy mục đích duy nhất củaThầy và Tăng đoàn là tu hành Chánh Pháp của Như lai, là tìm cầu giải thoát khỏi khổ đau.

Thiền viện Thường Chiếu

Thiền viện Thường Chiếu

Sau cùng, thấy rằng công tác tìm hiểu đã đủ, trước khi trở về Hà Nội, người Công An Tôn Giáo mới bầy tỏ thân phận. Thầy Thanh Từ cười mà nói Thầy đã biết từ lâu. Về Hà Nội vị Công An Tôn Giáo đã xin từ nhiệm, thu xếp với gia đình để rồi trở lại Vũng Tầu, xin thế phát xuất gia với thầy Thanh Từ.

Kết luận: Hành Thiền quả thật đã chuyển hóa được một cán bộ trung kiên của Đảng Cộng Sản, từ một người chỉ biết chủ thuyết Duy Vật Biện Chứng, cho rằng Tôn Giáo là “thuốc độc”, tin tưởng ở Giai Cấp Đấu Tranh, với tư duy Cứu Cánh Biện Minh cho Phương Tiện, sẵn sàng làm bất cứ chuyện gì đẻ phục vụ cho Đảng, trở thành một người hiểu biết: nguồn gốc của mọi đau khổ là Tam độc, hạnh phúc con người là ở Tâm, lời giải cho xã hội mà ông tìm kiếm không phải là chủ nghĩa Các Mác.
 
                                                                    ***

3. Thiền chuyển hóa lòng người Ấn Độ

Gần thủ đô New Dehli có một nhà tù rất lớn: nhà tù Tihar (Tihar Correctional Center) trong đó có khoảng 10,000 nam phạm nhân. Ở trong một môi trường như vậy, việc quản lỳ không đơn giản chút nào. Tù nhân với đủ thành phần, đầu trộm đuôi cướp, cướp của giết người,  ở một chỗ chật hẹp, tất nhiên sinh ra rất nhiều tệ đoan, gây ra nhiều vấn đế khó giải quyết: kết bè kết đảng, nạn đại ca với tiểu yêu, cá lớn nuốt cá bé, tù cũ bắt nạt tù mới, hành hạ để giải trí, chưa kể đến xâm phạm tình dục.

Bởi vậy nhà tù Tihar được xây rất kiên cố, ra vào phải qua nhiều cửa sắt, phòng giam tù được chia ra phòng ngăn cách. Ban quản lý tuyển dụng nhiều cai tù cao lớn khỏe mạnh, hung dữ không kém

Tiến sĩ Kiran Bedi

Tiến sĩ Kiran Bedi

Năm 1993 chính phủ Ấn cử bà Kiran Bedi đến làm Giám đốc nhà tù Tihar. Bà Tiến sĩ Bedi là người nữ Cảnh Sát đầu tiên của Ấn Độ là người nổi tiếng rất giỏi và khôn ngoan. Khi mới mhậm chức, sau khi đi tham quan nhà tù, bà Bedi đã hội họp với ban quản lý để tìm cách cải thiện đời sống phạm nhân, giải quyết những khó khăn gây ra, vừa bởi phạm nhân, vừa bởi ban quản lý. Cuộc thảo luận kéo dài mà không ai tìm được một giải pháp tốt đẹp nào

Sau đó, có một vị phó Giám thi nhà tù là ông Rajundar Kumar nói với bà Bedi là có một người có thể giúp cải thiện được đời sống phạm nhận trong tù. Người đó là thiền sư S. N. Goenka. Ba Bedi liền viết thư mời thiền sư Goenka đến.

Ông S. N. Goenka là một thiền sư dạy Thiền trong truyền thống của cố Thiền sư U Ba Khin bên Miến Điện. Mặc dầu ông là một người Ấn Độ, thiền sư Goenka được sinh ra và lớn lên tại Miến Điện. Tại đây, ông đã có cơ duyên được gặp và học Thiền Minh Sát – còn gọi là Vipassana – với Thiền sư U Ba Khin. Sau khi học 14 năm với U Ba Khin, ông trở về Ấn Độ và bắt đầu truyền bá Thiền Minh Sát bắt đầu từ năm 1969.

Thiền sư S.N. Goenka

Thiền sư S.N. Goenka

Ở trong một nước bị nạn phân chia giai cấp, phân chia tôn giáo, những lớp học Thiền của ông Goenka đã lôi kéo được rất nhiều người Ấn thuộc đủ thành phần trong xã hội. Ngoài ra, còn có thêm cả ngàn người khác từ nhiều nước trên thế giới cũng đến học Thiền Minh Sát với ông .Thiền sư Goenka đã dạy cả chục ngàn học viên trên 400 lớp – mỗi lớp 10 ngày – tại Ấn Độ và nhiều nước khác, Đông phương cũng như Tây phương.

Nhận được thư mời của bà Bedi, ông Goenke đến ngay nhà tù Tihar cùng với một số đệ tử thiện nguyện. Bà Bedi và ông Goenka đã đồng ý mở một lớp Thiền Minh Sát 10 ngày bắt đầu cho 100 tù nhân. Khi những tù nhân này đến trình diện, chân đeo xiềng xích, ông Goenka phản đối và nói rằng ông không thể nào dạy họ Thiền mà chân bị cùm lại. Ban quản lý nhà tù giải thích với ông là họ phải làm vậy để đảm bảo an ninh cho ông vì những tù nhân hung dữ này, rất có thể sẽ hành hung và cưỡng chế ông, điều họ không muốn xẩy ra vì phải chịu trách nhiệm an ninh cho ông.

Sau cùng đôi bên đồng ý: phạm nhân không phải đeo cùm xích, nhưng ban quản lý sẽ điều động nhiều tay súng sẵn sàng bắn chết những tù nhân vong động.

Một khoá Thiền 10 ngày, từ sáng đến tối. Học viên, hay Thiền sinh, được chỉ dạy phải nhắm mắt, chú trong đến hơi thở và phải giữ tuyệt đối im lặng. Sang đến ngày thứ ba Thiền sinh phải học giới, biết giữ giới, không làm những chuyện xấu. Lớp Thiền 10 ngày đã xẩy ra bình yên, đem lại thích thú cho những người tham dự.

Kể từ đó ông Goenka đã tổ chức học Thiền Minh Sát 10 ngày cho hàng trăm tù nhân một lúc, mỗi tháng hai khóa. Nhiều phạm nhân lúc đầu tỏ ra bất thiện cảm với lớp Thiền 10 ngày của ông Goenka. Nhưng sau khi thấy nhiều tù nhân khác rủ nhau đi học – có cả những người đã học Thiền rồi nhưng lại muốn xin học lại – hầu như tất cả tù nhân nhà tù Tihar, trừ những người ốm đau bệnh tật, đều muốn học Thiền Minh Sát với ông Goenka. Ông Goenka còn nói với bà Bedi là ông muốn tất cả những vị quản giáo nhà tù cũng nên học Thiền, có thế họ mới có thể đối đãi với phạm nhân tử tế hơn, tránh cho bà nhiều phiền toái như trong quá khứ.

Thế là những quản giáo nhà tủ, cũng như các cựu thiền sinh đã trở nên những vị hộ thiền hay hộ pháp cho những khóa thiền sau, phục vụ cho các tân thiền sinh.

Tù nhân tu tập Thiền Minh Sát

Tù nhân tu tập Thiền Minh Sát

Vào ngày thứ mười của khóa thiền, là ngày thực hành “Từ Bi quán“, mọi người được xả pháp tịnh khẩu, được nói chuyện bình thường. Một chương trình đặc biệt thỉnh thoảng được tổ chức vào buổi chiều trong khuôn viên nhà tù, để phạm nhân có dịp xả hơi. Các phạm nhân khác (người chưa hoặc không tham gia khóa thiền), viên chức nhà tù, cán bộ công an địa phương và đài truyền thanh, đã hội họp lại để nghe kinh nghiệm của các phạm nhân vừa mới hoàn thành khóa thiền tuệ quán Vipassana. Đây thường là kinh nghiệm xúc cảm và vô cùng cảm động!

Một hôm bà Tổng Thanh Tra hỏi ông Goenka: “Thầy có thể nào mở một khoá Thiền cho một ngàn Thiền sinh không?” ông Goenka trả lời: “Được lắm chứ, miễn là chúng ta có đủ cơ sở và phương tiện”   Thế là bà Bedi đã huy động tất cả mọi người thiện nguyện trong nhà tù, từ pham nhân đến ban quản lý, dựng lên một lều trại khổng lồ, khâu vá đủ 1,000 tọa cụ, giăng đèn, mắc quạt trần, bất chấp mưa bão, sẳn sàng khai mạc khóa Thiền 1,000 người như dự định

Suốt thời gian tổ chức các khóa thiền trong tù, mọi việc cần phải thực hiện chu đáo để bảo vệ quy luật nhà tù và giới luật thiền quán một cách nghiêm túc. Bản “nội quy pháp chế” dành cho các khóa thiền Vipassana trong tù được ấn hành. Giới chức nhà tù phải phân chia ranh giới độc lập cho “thiền đường” trong khu vực tù giam và suốt thời gian khóa thiền tổ chức. Phạm vi này được tách biệt hoàn toàn với phần còn lại trong tù.

Có nhiều phạm nhân, chẳng hạn như A. Sanghavi là một phạm nhân “khét tiếng dữ”, ba mươi tuổi, sau khi tham dự một khóa thiền tuệ quán và ngày được thả ra, anh ta làm cho các công an nhà tù vô cùng ngạc nhiên vì đã đi thẳng đến Trung Tâm Tu Thiền “Dhamma Thali,” tình nguyện phục vụ cho các khóa thiền tại đó.

Một trường hợp gây nhiều xúc động hơn là trong câu chuyện của anh chàng Babu Bhaya, một can phạm với án tù giết 3 người trong vòng 5 phút. Anh đã bị án tử hình nhưng sau được giảm án xuống tù chung thân.Sau khi tham dự khóa thiền trong trại giam, với lòng tràn ngập niềm hối hận, Bhaya đã khẩn cầu các gia đình nạn nhân tha thứ cho anh. Năm 1995, vào ngày lễ Raksha Badhan – theo truyền thống Ấn Độ, đây là ngày lễ ‘thắt chặt tình anh em’ trong gia quyến, thông qua việc thắt dây tình cảm – vợ và em gái của người bị Bhaya giết đã đến nhà tù và đã thắt vào vòng tay Bhaya sợi dây thân ái. Họ đã chấp nhận Bhaya như người anh trong gia đình.

Anh Babu Bhaya tâm sự: “Tôi chỉ biết thù hận con người và luôn luôn cảm thấy giận dữ, sân hận không nguôi. Nhưng sau khi thực hành thiền quán, tôi đã thay đổi. Bây giờ tôi cảm thấy thương yêu và thông cảm với tất cả mọi người.”

 

Ngài U Ba Kin

Ngài U Ba Khin

Còn trường hợp anh Tim David là phạm nhân người Gia Nã Đại trong khám tù Tihar và đã trở thành một thiền sinh.  Anh  đã tuyên bố: “Đây là trang sử ‘tân tạo,’ các bạn biết không … đây là cơ hội vô giá, vì thiền Vipassana đã và đang được ứng dụng trong hệ thống nhà tù để giáo dục cải tạo con người … Sự kiện này có thể canh tân toàn bộ hệ thống ‘ Khám – Tù’ trên toàn hành tinh” …

Bà Tổng thanh tra Kiran Bedi đã nói: “Thiền thật sự đã chuyển hóa con người! Thiền giúp cho phạm nhân biết khóc và khóc chân thành. Họ đã nhận thức sự thật cuộc sống là gì? Họ đã trở về với nội tâm chính mình và từ trong đáy lòng sâu thẳm họ nhìn thấy rõ các thái độ hận thù, sân giận, bất kính và sự tổn thương mà họ đã gây ra đối với cha mẹ và xã hội; họ đã khóc và mong muốn sửa đổi.”

***

Tất cả những chuyện kể trên được ghi trong một cuốn phim của Karuna Films. Cuốn phim dài 53 phút, chia làm 6 phần.

Độc giả có thể xem riêng biệt từng phần tùy ý thích và thời gian dành cho việc này. Tóm tắt mỗi phần được trình bầy như sau:

Phần 1/6 : Giới thiệu nước Ấn Độ, nhà tù Tihar, một địa ngục trần gian. Giới thiệu ba phạm nhận: Mustapha người Somalia, Tim David người Gia Nã Đại và Babu Bhaya người Ấn độ.

Phần 2/6: Giới thiệu bà Kiran Bedi, ông S.N. Goenka và Thiền minh Sát.

Phần 3/6: Góp ý của phạm nhân Babu Bhaya. Tổ chức hành Thiền Minh Sát trong nhà tù. Kinh nghiệm hành Thiền của một thiền sinh.

Phần 4/6: Chi tiết hành Thiền Vipassana; Tổ chức Thiền cho cả ngàn tù nhận tại Tahir; Mười ngày tịnh khẩu cho một ngàn người ngày 4/4/1994.

Phần 5/6: Góp ý của pham nhân Tim David (Gia nã Đại). Quang cảnh bữa ăn trong tù; Góp ý của Mustapha, về đạo Hồi và hành Thiền; Quang cảnh nơi ngủ nghỉ; Quang cảnh ngày thứ mười khóa Thiền.

Phần 6/6: Góp ý của Tim David. Góp ý của bà Bedi. Góp ý của ông Goenka; Quang cảnh rất cảm động ngày kết thúc khóa Thiền.

Kết luận: Hành thiền quả thật đã chuyển hoá được lòng người, từ một kẻ cướp giết người trở thành một người thuần lương, biết ăn năn hối hận, muốn sửa đổi, biết sống tử tế như mọi người.

________________________________________________________

Số lần truy cập

Thiền Định và Sức Chuyển Hóa Lòng Người More stats 45

3 responses to “Thiền Định và Sức Chuyển Hóa Lòng Người

  1. Kinh Anh Đào Viên,

    Rất vui thấy anh vẫn rất sáng suốt với tuổi già….
    Riêng về Thiền , xin thưa thật, hay thì hay thiệt nhưng công phu quá , phảI mất ít nhất 3 a tăng kỳ kiếp kể từ khi đã kiến tánh thì lâu quá. Anh có biết sau các ngài Hư Vân, Lai Quả ,Nguyệt Khê sau này có vị nào đại triệt đại ngộ không? Cũng có ý kiến cho rằng, theo Kinh Đại Tập, mình đang ở thời kỳ Mạt Pháp, Tịnh Độ là kiên cố. Nhưng mà đối với Âu Mỹ NHIỀU NGƯỜI CHO RẰNG đang còn trong thời kỳ Tượng Pháp nên THIỀN ĐỊNH VẪN CÒN KIÊN CỐ . DO ĐÓ ĐỐI VỚI DÂN ÂU MỸ , HỌ THÍCH HOẶC THIỀN HOẶC Mật Tông (vì Thiền hạp với logic, tri thức lề lối và MậtTông thì có vẻ huyền bí) họ không thích Tịnh Độ vì có vẻ láo that niệm Phật , đi nhà thờ vui hơn vì có âm nhạc , nhẩy múa , gái trai nắm tay nhau, không có cảnh ăn uống lu bù như ở các chùa , vả lại không mấy ai nói cho họ cái hay của Tịnh Độ, một là bà già ăn trầu , hai là phải số dách về Lý và Sự , còn lang bang tìm hiểu biết thì khó lắm. Cố gắng của Ngài Tịnh Không thật tuyệt vời mà khó nói vớilớp trẻ.

    Kính thư,
    Tôn Trần
    metta10@cox.net

  2. Cùng môt tư thế Thiền-định, nhưng môi người chuyển-hóa môt cách khác,không có ai giống ai: Vì CĂN,CƠ,NGHIÊP, QUẢ của môi người đều khác nhau ,vì vây sự chuyển-hóa tâm-linh và thành đạt của môi cá-nhân không giông nhau : Trên môt con đường Thiên-định có “Trăm Hoa đua nở” chứ không phải chi co môt loài,hoặc môt giống mà thôi.

    Cá-nhân tôi ,lúc đầu chỉ muôn tâp Thiền để tìm sức-khỏe,nhưng sau môt thời-gian, thì các huyệt đạo mở ra,và “Tâm-linh phát-triển” ngòai sức tưởng-tượng….Đạt được những điều mà khoa-hoc không chứng-minh được…..
    Vài hàng thô-thiển,góp chút ý mọn,
    Hoan-Tâm-Nhân

  3. Cám ơn bạn đọc Batam Hoan-Tâm-Nhân đã vào Vườn Đào và để lại lời phản biện rất quý trên. Bạn đã tập Thiền và thấy “Tâm Linh phát triển ngoài sức tưởng tượng”. Như vậy bạn đã thành tựu một “tiểu ngộ” rất đáng kể. Tôi nghĩ sự giúp đõ các bạn đọc khác trong Vườn Đào hiểu thêm về Thiền định của bạn sẽ là một công đức rất lớn lao.

    Muốn đạt được trình độ Thiền định của bạn thì, theo tôi hiểu, phải phát triển được một định lực khá cao. Bạn đọc Hoan Tâm Nhân có thể nào nói thêm, giải thích thêm bạn đã làm thế nào, làm những gì để phát triển định lực tới trình độ Thiền định bạn có được.

    Xin cám ơn trước sự chia sẻ của bạn.
    ĐV

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s