Vấn Đáp về Đạo Phật (III)


Lời nói đầu – Tiếp theo phần 2 “Vấn Đáp về Đạo Phật (II) của ông Hoằng Hữu Nguyễn Văn Phú, dưới đây là Phần 3 và cũng là phần chót. Trước khi chấm dứt trình bầy “Vấn Đáp về Đạo Phật” chúng tôi xin nhắc lại vài dòng về tiểu sử và những đóng góp cũa ông Nguyễn Văn Phú.
 
Hồi còn ở Việt Nam, ông Phú là một nhà giáo chuyên dạy Toán Trung Học. Sau 1975, ông Hoằng Hữu Nguyễn Văn Phú đã di cư sang Montréal, Gia nã Đại. Tại đây ông Phú đã hoạt động rất nhiều cho Phật giáo. Ông Nguyễn văn Phú đã là chủ biên cho tập san Liên hoa của chùa Liên Hoa (Brossard, Gia nã Đại) và tập san Pháp Âm của Giáo hột Phật Giáo Việt Nam trên Thế giới. Ông cũng đã là soạn giả của nhiều bài viết cũng như sách in về Phật học, được cộng đồng Phật tử Việt nam rất tán thưởng.
 
Ông Nguyễn văn Phú đã mệnh chung tại Montréal tháng 2, 2013, hưởng dương 86 tuổi, để lại nhiều tiếc thương cho cộng đồng Phật giáo tại đây.

Đào Viên

25. NIỆM PHẬT

1. Niệm Phật nghĩa là gì ?

Niệm là nhớ nghĩ. Niệm Phật là nhớ nghĩ đến Phật. Nhớ nghĩ đến Phật vì lời Phậtdạy là những lời chân chánh giúp chúng ta giác ngộ và giải thoát, vì cuộc đời của đức Phật là một tấm gương cao cả về đại từ, đại lực, đại từ bi, vì bản thân chúngta cũng mong được thành Phật, « ai cũng có thể thành Phật ».Nhiều người hiểu một cách hạn hẹp rằng niệm Phật là miệng niệm « Nam mô A Di-Đà Phật ». Đó là cách mà ai cũng biết, tuy nhiên đó chỉ là một trong nhiềucách mà thôi. Cần nhớ rõ rằng niệm Phật nghĩa là nhớ nghĩ đến Phật.

2. Niệm Phật như thế nào

Dùng một hay nhiều cách sau đây : Thứ nhất là tụng kinh và tán thán công đứccủa chư Phật. Thứ nhì là tụng danh hiệu các vị Phật và Bồ-tát. Thứ ba nhớ nghĩ đến các tướng đẹp của chư Phật, các hạnh lành của chư Phật. Thứ tư là sám hối tội lỗi trước bàn thờ Phật.

Thông thường thì người ta thực hành như sau :

1/ Tụng niệm : tụng kinh và niệm Phật, có chuông mõ.
2/ Niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, cầu vãng sinh Tịnh độ.
3/ Niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm, cầu bình an.
4/ Niệm danh hiệu đức Phật Dược sư (và chú Dược Sư), cầu khỏi bệnh.

Khi niệm danh hiệu chư Phật, có thể niệm lớn tiếng hay niệm thầm (mật niệm).

3. Xin nói rõ thế nào là Pháp môn niệm Phật.

Pháp môn niệm Phật là một pháp môn dễ tu, thích hợp với thời buổi hiện nay. Đó là pháp môn tu của Tịnh độ tông, chỉ chuyên về một việc là : Niệm hồng danh đức Phật A Di Đà, cầu vãng sinh cõi Tịnh độ của Ngài. Hoặc miệng niệm Phật, hoặc tâm niệm Phật. Có 4 phương pháp niệm Phật :

1/  Quán tưởng niệm Phật
2/  Quán tượng niệm Phật
3/  Thật tướng niệm Phật
4/  Trì danh niệm Phật.

Không kể 3 phương pháp đầu (khó thực hành), ở đây chúng ta chỉ nói về Trì danh niệm Phật tức là phương pháp niệm ra tiếng hay niệm thầm 4 chữ « A-Di-Đà Phật » hay 6 chữ « Nam mô A-Di-Đà Phật ». Sách vở kể ra 10 cách trì danh, nhưng chúng ta thấy hai cách thông dụng nhất là :

1/ Niệm ra tiếng sáu chữ «Nam mô A-Di-Đà Phật », có xâu chuỗi, có chuông mõ, trước bàn thờ Phật. Càng nhiều càng tốt.
2/ Luôn luôn niệm ra tiếng hay mật niệm danh hiệu đức A-Di-Đà dù đi đứng nằm ngồi.

[Quý đạo hữu nên tìm xem cuốn Niệm Phật thập yếu của HT Thiền Tâm].

4. Ý nghĩa của việc Trì danh niệm Phật ra sao ?

Căn cứ vào kinh A-Đi-Dà, niệm hồng danh đức Phật A-Di-Đà cho đến lúc « nhất tâm bất loạn » thì khi chết, sẽ được Phật A-Di-Đà cùng các thánh chúng tới đón về cõi Cực lạc phương Tây của Ngài (Ngài có nguyện như vậy trong số 48 lời nguyện). Tới đó, sẽ hóa sinh bằng hoa sen (hoa nở, thấy Phật và chư Bồ-tát), không phải luân hồi nữa, được gần gũi các bậc thượng thiện nhân để mà tu. Đó là nói về sự. Nếu nói về lý thì hiểu như sau : Khi niệm Phật thì người ta gieo các chủng tử lành (tức là các niệm về Phật) vào a-lại-da, gieo càng ngày càng nhiều, nhiều đến mức át các chủng tử xấu, gây được một « thói quen » chỉ nghĩ đến Phật thôi ; lúc gần chết, cận tử nghiệp chứa toàn là niệm về Phật cho nên nghiệp lực đẩy a-lại-da về Tịnh độ. Vãng sinh Tịnh độ, được một điều mừng nhất là khỏi luân hồi tuy chưa lên bậc thánh. Tới đó, được xếp vào một trong chín bậc tùy theo sự thanh tịnh của mình, rồi tu học mà tiến dần lên.

26. ĂN CHAY

1.Ăn chay là gì ?

Là không ăn hết thảy các thứ thịt, các thứ cá, các thứ chim, sò hến cua tôm, các thứ mắm v.v.., nói chung là loài động vật, mà chỉ ăn các thứ rau, quả, ngũ cốc, các thứ hạt v.v.., nói chung là những thứ thuộc về thực vật. Ăn chay là giữ giới thứ nhất : không sát sinh. Khi mua thịt để ăn, tuy mình không tự tay giết con bò, con heo… nhưng mình gián tiếp giúp người đồ tể bằng cách mua thịt mà họ bán ra.

2.Trứng, sữa, hành tỏi thì sao ?

Sữa, uống được. Trứng thì không ăn vì có mầm con ở trong, tuy nhiên có nơi cho phép ăn trứng. Năm thứ hành, tỏi, hẹ, kiệu, nén (gọi là ngũ tân, năm món cay) tuy là thực vật nhưng có tác dụng kích thích cho nên không dùng. Đó là năm thứ kể trong sách. Tôi nghe nói có nơi kiêng cả riềng nữa, nhưng đó là nghe nói thôi.[Ghi chú : Tự điển Phật học Hán Việt (Hà Nội, 1992) nói rằng nén không có ở Việt Nam và Trung Quốc. Tự điển Việt-Pháp-Hán của Eugène Gouin (Saigon, 1957) dịch củ nén là échalotte ; kiệu, củ kiệu là poireau ; hẹ (củ hẹ) là poireau ; hẹ (lá hẹ, rau hẹ) là échalotte. Tự điển Annamite-Français của Génibrel (Saigon, 1898) dịch cả hai chữ hẹ và kiệu là poireau].

4. Ăn chay có lợi gì?

1/ Giữ được giới thứ nhất (không sát sinh).
2/ Tăng trưởng lòng từ bi đối với muôn loài.
3/ Dễ tiêu hóa, ít bệnh. Thức ăn chay cũng đủ bổ dưỡng. Thịt cá có khi nhiễm độc nên có thể hại cho sức khỏe. Gần đây, báo chí nói đến bò điên (mad cow) !
4/ Thân thể dễ chịu, tâm thần thư thái, trí óc nhẹ nhàng, đời sống giản dị và đỡ tốn kém.
5/ Góp phần bảo vệ môi sinh.

5. Ăn chay theo cách nào ?

Nếu ăn chay trường (trường trai) thì ăn chay suốt đời. Nếu ăn chay kỳ thì tùy theo nguyện của mình :

1/ ăn chay vài ba tháng trong một năm, thí dụ tháng giêng, tháng năm, tháng chín.
2/ ăn chay một số ngày trong một tháng [2 ngày : mùng (mồng) một và rằm. 4 ngày : mùng một, 14, rằm, 30 hay 29 nếu gặp tháng thiếu. 6 ngày : 8, 14, rằm, 23, 29, 30 hay 28, 29. 10 ngày : mùng một, 8, 14, rằm, 23, 24, 28, 29, 30 hay 27, 28, 29].

6. Ăn chay thế nào ?

1/ Tối thiểu, ăn chay 2 ngày một tháng, mồng (mùng) một và rằm.
2/ Ăn đơn giản, ăn cơm chay chứ không phải cỗ chay !
3/ Ăn chay một cách bình thường, tránh khoe mình và chê người khác.
4/ Gặp trường hợp bất khả kháng, không ăn chay được thì sám hối và ăn chay « bù » sau. Có vị không tán thành cách « bù » như vậy, dễ làm giảm sự cương quyết trong ý nguyện.

27 . LỄ BÁI

1. Xếp đặt bàn thờ Phật ra sao ?

Chọn nơi sáng sủa nhất ở trong nhà, quay ra cửa chính để đặt bàn thờ rồi bày tượng hay ảnh Phật ở chính giữa. Đằng trước tượng (hay ảnh) là bát nhang, hai bên bát nhang là hai cây nến, nay người ta thường dùng nhang điện và nến điện vì ở xứ lạnh, cửa đóng kín, khói nhang dễ làm ngộp, ấy là chưa kể ngọn lửa của cây nến (đèn cầy) có thể gây ra cháy nhà. Một bên đặt bình hoa, một bên bày đĩa trái cây. Ngày nay, có để cây đèn dầu thì cũng là tượng trưng thôi, không ai thắp đèn dầu vì nguy hiểm. Ngày lập bàn thờ phải thỉnh chư tăng hay chư ni tới nhà làm lễ an vị Phật. Ngày đó, nên mời một số đạo hữu tới cùng tụng kinh cho được long trọng. Nên nhớ : tất cả dựa vào lòng thành và sự thanh tịnh. Tâm của gia chủ phải xa lìa mọi ác niệm, tạp niệm, chỉ có một niệm là niệm Phật thôi (niệm là nhớ nghĩ). Mỗi khi đến trước bàn thờ là phải giữ tâm thanh tịnh như vậy.

2. Chọn tượng hay ảnh nào ?

Thông thường người ta thờ Di-Đà tam tôn tức là ảnh đức Di-Đà ở giữa, bên trái của ngài là ảnh đức Quan Âm, bên phải của ngài là ảnh đức Thế Chí. Đó là gia chủ theo Tịnh độ tông, theo pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh Tây Phương cực lạc của đức Di-Đà. Có gia đình chỉ thờ một ảnh duy nhất là ảnh đức Thích-Ca, đó là gia chủ theo Nam tông. Vấn đề chính là ảnh hay tượng phải đem lên chùa xin chư tăng hay chư ni chú nguyện trước rồi mới mang về nhà. Phải thành kính lau chùi (bao xái) bàn thờ luôn.

3. Cúng những gì ?

Hàng ngày chỉ cần cúng nước trong, tượng trưng cho sự thanh tịnh. Ngày rằm, mùng một hay các ngày lễ, ngày vía, thì bày trái cây tươi. Có nơi cúng xôi chè. Cần nhất là đơn giản và thanh tịnh. Tránh bày vẽ nấu nướng món nọ món kia.

4. Phật đâu có dùng đồ cúng ?

Đúng vậy. Đây là tỏ lòng thành kính và nhớ lại thời đức Phật cầm bình bát đi khất thực, các thí chủ cúng dàng thức ăn.

5. Lễ thế nào ?

Nếu có áo tràng thì mặc áo tràng. Thắp ba nén nhang, hai tay cầm nhang, vái, rồi cắm vào bát nhang, cắm nhang cho thẳng. Nay, người ta chỉ dùng một nén nhang thay vì ba, lý do là e khói nhiều. Số ba nói ở đây là nhắc đến Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Lạy ba lạy, từ tốn, nghiêm trang, tâm nghĩ đến Phật. Quỳ, hai tay úp xuống đất. Khi lạy thì trán chạm đất. Hai chân, hai tay, trán chạm đất gọi là « ngũ thể đầu địa » (năm vóc chạm đất). Có nơi, thay vì úp xấp, người ta lại ngửa hai bàn tay lên, trán để vào trong hai bàn tay đó. Ý nghĩa là : nhớ lại thời xưa, người ta quỳ xuống, hai tay nâng bàn chân Phật và để sát trán vào chân Phật. Chắp tay : hai bàn tay áp chặt vào nhau. Có người để hai bàn tay khum khum, lý do : giống cái búp sen !

6. Lễ lúc nào ?

Thường thường lễ buổi sáng. Người có thời giờ thì lễ thêm buổi trưa và buổi tối. Người đi làm và trẻ còn đi học thì vái Phật trước khi đi làm hay đi học.

7. Lễ bái có phải là mê tín dị đoan không ?

Lễ bái để tưởng nhớ đến Phật, tưởng nhớ đến vị đại hùng, đại lực, đại từ bi đã hy sinh tất cả để đi tìm đường giải thoát chúng sinh khỏi mọi khổ đau, nhớ ơn Phật đã chỉ cho chúng ta con đường thoát khổ, để giữ vững lời nguyện tu tập của mình, để sám hối tội lỗi của mình và nguyện không tái phạm. Như vậy, không phải là mê tín dị đoan.

28 . KINH A-DI -ĐÀ

1.Thế nào là Tịnh độ tông ?

Đạo Phật có nhiều tông. Ở nước ta, hiện có ba tông là Tịnh độ tông, Mật tông và Thiền tông. Tịnh độ tông áp dụng pháp môn niệm Phật để cầu vãng sinh về Tịnh độ của đức Phật A-Di-Đà sau khi chết.

2. Tịnh độ tông dùng những kinh sách nào ?

Có ba kinh chính : Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh A-Di-Đà, Kinh Quán Vô Lượng Thọ. Trên thực tế, tại các chùa ngày nay, ta chỉ tụng kinh A-Di-Đà mà thôi.

3. Nội dung kinh đó ra sao ?

Kinh này do đức Phật nói mà không có ai thưa thỉnh. Có ba điểm chính mà người ta vẫn nhấn mạnh : theo kinh này thì muốn được vãng sinh về cõi cực lạc của đức Phật A-Di-Đà thì phải đủ ba điều. Thứ nhất là lòng tin, đức Phật đã nói rằng kinh này khó tin, cho nên hành giả phải vững tâm tin tưởng vào pháp môn niệm Phật. Thứ nhì là lời nguyện, nguyện mãnh liệt xin về Tây phương Cực lạc quốc (tức Tịnh độ) của đức Phật A-Di-Đà. Thứ ba là phải thi hành việc niệm hồng danh đức Phật A Di Đà rất chăm chỉ. Đó gọi là ba tư lương gồm tín, nguyện, hạnh.

4. Tại sao nói kinh này dành cho mấy người già sắp chết ?

Đó là người ta muốn chế nhạo Tịnh độ tông, cho rằng tông này chỉ lo việc sắp chết và lười biếng, chỉ dựa vào 48 lời nguyện của đức Phật A-Di-Đà rồi ỷ vào sự trợ giúp của tha lực, còn tự lực thì không có. Nói như vậy chưa đúng. Niệm Phật chăm chỉ là tự lực đấy chứ ! Kinh nói : thiếu thiện căn, phúc đức nhân duyên thì khó mà lên Tịnh độ. Hơn nữa, niệm Phật là thanh tịnh hóa thân khẩu ý, đồng thời huân chủng tử lành vào a-lại-da càng nhiều càng hay để át các chủng tử ác. Trong các sự, có các lý mà ta cần hiểu.

5. Xin đọc thần chú vãng sinh Tịnh độ.

“Nam-mô A di đa bà dạ, Đa tha dà đa dạ, Đa địa dạ tha, A di lỵ đô bà tì, A di lỵ đa tất đam bà tì, A di lỵ đa tì ca lan đếù, A di lỵ đa tỳ ca lan đá, Dà di nị dà dà na, chỉ đá ca lệ sa bà ha”.

29 . KINH PHỔ MÔN

1. Phổ Môn nghĩa là gì ?

Môn là cửa, Phổ là rộng khắp. Phổ Môn là phương pháp độ hết thảy mọi chúng sinh, là cái cửa mở rộng đón mọi chúng sinh vào Phật đạo. Phổ môn còn nghĩa là một phương pháp mà gồm luôn mọi phương pháp khác.

2. Kinh Phổ Môn ở đâu ra ?

Kinh Phổ Môn là một phẩm của kinh Pháp Hoa (kinh Diệu Pháp Liên Hoa), phẩm ấy tên là phẩm Phổ Môn, nói riêng về đức Quán Thế Âm. Người ta thường gọi kinh Phổ Môn là kinh Cầu an (cũng như thường gọi kinh A-Di-Đà là kinh Cầu siêu).

3. Nội dung kinh Phổ Môn ra sao ?

Kinh Phổ Môn nói về công hạnh của Bồ-tát Quán Thế Âm, nói rõ ra là ngài qua cõi Sa-bà này để cứu độ chúng sinh. Nơi nào có tiếng kêu than đau khổ là ngài tới cứu. Người ta hay nhắc tới bảy nạn, hai lời cầu và 32 cách hiện thân. Ngài cứu những người gặp nạn, ngài nghe lời thỉnh cầu của những ai cầu xin con trai hay con gái, ngài hiện ra 32 thứ thân để cứu độ chúng sinh. Ngài ban cho sự vô úy, tức là không sợ hãi.

4. Nhảy vào lửa mà không bị cháy, nghe khó tin quá !

Phải hiểu theo nghiã ẩn. Lửa này là lửa tham dục thiêu đốt trong lòng con người. Nếu biết niệm danh hiệu ngài Quán Thế Âm, nghĩa là tu tỉnh, thì bớt hay hết tham dục. Như vậy là nhảy vào lửa mà không bị cháy.

5.Cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái, sao dễ quá vậy ?

Cũng là nghĩa ẩn. Có thể hiểu là cầu phước đức và trí huệ.

6.« Thí vô úy », vô úy (không sợ) là ở mình chứ sao lại cầu xin để được thí ?

Chính mình phải tu chứ. Tu hành rồi, đến mức thấy mọi sự là không cả thì còn sợ cái gì nữa!

30. KINH THẬP THIỆN

1. Kinh Thập Thiện nói về những điều gì ?

Tu bằng cách giữ năm giới thì sẽ tái sinh vào kiếp người. Tu bằng cách thực hành Mười điều thiện thì sẽ tái sinh vào cảnh chư Thiên. Kinh Thập thiện nói về Mười điều đó.

2. Đó là những điều gì ?

Ba điều thiện về thân :
1/ không giết hại chúng sinh, không tán thành sự chém giết, không làm nghề giết súc vật mà ngược lại, tìm cách bảo vệ mạng sống.
2/ không trộm cướp, không tìm cách lấy của của người khác, mà ngược lại phải tôn trọng tài sản của người khác.
3/ không tà hạnh, không phá hoại hạnh phúc của đình người khác mà ngược lại phải bảo vệ hạnh phúc gia đình của mình cũng như của người.
Bốn điều thiện về miệng :
1/ không nói dối, phải nói sự thật.
2/ không nói ly gián người, phải nói sao cho gây được sự hòa hợp.
3/ không nói lời ác độc, phải nói lời ôn hòa, nhã nhặn.
4/ không nói lời thô tục, dâm đãng, phải nói lời đứng đắn.
 
Ba điều thiện về ý :
1/ không tham lam, phải biết bố thí.
2/ không sân hận, oán thù, phải vui vẻ.
3/ không si mê, tin càn tin bậy, phải trau giồi trí tuệ để nhìn sự vật theo đúng sự thực của chúng.

3. Kinh còn nói gì nữa ?

Kinh đi xa hơn Mười điều thiện rất nhiều cho nên trở thành khó hiểu và khó hành. Thí dụ, ngay hai trang đầu, kinh đã đề cập đến hai đề mục vô cùng khó khăn là Tâm và Ngã. Phần cuối, kinh liệt kê hầu như toàn thể giáo hạnh : 37 phẩm trợ đạo, tứ vô lượng tâm, lục độ. Chúng ta nên tập trung vào Mười điều thiện trước.

31 . KINH THỦY SÁM

 

1. Kinh Thủy Sám dùng làm gì ?

Thủy là nước, sám là sám hối. Kinh này dùng để ăn năn tội lỗi và nguyện không tái phạm và phạm các lỗi khác. Muốn hiểu chữ thủy (nước) thì phải biết lai lịch câu chuyện của nhà sư Ngộ Đạt dùng nước mà rửa lành vết thương nặng của mình. Gọi ngắn là kinh Thủy Sám, tên đày đủ là Từ bi Thủy Sám pháp.

2. Câu chuyện của sư Ngộ Đạt ra sao ?

Khoảng thế kỷ thứ IX ở bên Tàu, đời nhà Đường, có nhà sư tên là Tri Huyền thường đến săn sóc cho một nhà sư khác mắc bệnh cùi. Ông này dặn Tri Huyền rằng sau này nếu gặp nạn thì tìm đến một nơi mà ông dặn trước. Tri Huyền trở thành Quốc sư Ngộ Đạt. Sau khi được nhà vua ban cho đồ quý, sư Ngộ Đạt bị một cái nhọt rất đau ở đầu gối, chữa sao cũng không khỏi. Nhớ lời dặn cũ, sư Ngộ Đạt tìm đến nơi hẹn thì đã thấy nhà sư cùi đứng đợi và mách cho sư Ngộ Đạt xuống suối lấy nước mà rửa nhọt.Từ trong nhọt có tiếng nói ra : “Xưa kia, ông giết oan tôi, tôi rình bào thù, nhưng mười đời ông làm cao tăng nên tôi chưa trả thù nổi. Nay ông làm quốc sư, được vua cho đồ quý, ông khởi tâm danh lợi nên tôi được dịp hiện ra cái nhọt này mà hại ông. Nhưng Ca-nặc-ca tôn giả (tức nhà sư cùi) dùng nước pháp mà rửa oán cho tôi nên thôi, từ nay trở đi tôi không báo oán nữa”.

Sư Ngộ Đạt lấy nước suối rửa nhọt, một lúc sau thì lành bệnh. Quay lên tìm ngàiCa-nặc-ca thì ngài biến mất rồi. Sư Ngộ Đạt biết ơn, xây một cái am ngay nơi đó, sau thành chùa.

Về kinh đô, quốc sư Ngộ Đạt soạn ra bộ kinh Thủy Sám.

32. KINH LƯƠNG HOÀNG SÁM

1. Lương Hoàng Sám nghĩa là gì ?

Lương là nhà Lương bên Tàu, ở ngôi từ 502 đến 557. Hoàng là vua. Sám là sám hối. Lương Hoàng Sám là kinh sám hối do vua Lương Võ Đế (502 -549) thỉnh chư tăng soạn. Tên đày đủ của kinh là Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp.

2. Vì lý do gì mà phải soạn ?

Một viên quan làm việc cho nhà Tề nổi lên diệt nhà Tề để lập ra nhà Lương, đó là vua Lương Võ Đế. Ông vua này mộ đạo Phật, cất chùa độ tăng, được người đời xưng là Phật tâm thiên tử. Vợ ông là Hy thị rất ghen tuông, hay hành hạ các cung phi. Vì tức giận quá, bà ta đâm đầu xuống giếng mà chết, đọa thành một con trăn to. Con trăn ấy tác yêu tác quái trong hoàng cung. Một hôm nó báo mộng cho Võ Đế, yêu cầu Võ Đế tìm cách làm phép giải cứu cho nó. Võ Đế thỉnh chư tăng soạn kinh, chư tăng trích lục các kinh Đại thừa làm ra bài văn sám hối. Nhờ đàn tràng và kinh sám hối ấy mà bà Hy thị được siêu thoát.

3. Kinh này có ích lợi gì ?

Tụng kinh này thì người chết được siêu thoát và người sống được lợi lạc.

33 . KINH DƯỢC SƯ

1. Dược sư nghĩa là gì ?

Dược là thuốc, Sư là thày. Dược Sư nghĩa đen là ông thày về các vị thuốc, nhưng ở đây Dược Sư là tên một đức Phật. Chữ Phạn Bhaichadjyaguru phiên âm thành Bệ-xái-xã-lũ-rô, dịch theo nghĩa là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nói tắt là Dược Sư Phật.

2. Xin nói rõ hơn về đức Phật Dược Sư.

Theo lời dạy của đức Phật Thích Ca thì đức Phật Dược Sư ở cõi nước thanh tịnh (tịnh độ) tên là Tịnh Lưu Ly. Đối với cõi Ta-bà của đức Phật Thích-Ca thì cõi Tịnh Lưu Ly ở về phía Đông, cõi Cực Lạc của đức Phật A-Di-Đà ở về phía Tây. Khi ngài Dược Sư còn là Bồ-tát, ngài có phát nguyện 12 điều trong đó có điều thứ nhất là độ cho chúng sinh đều giống y hệt như ngài. Trong kinh Dược Sư, đức Thích-Ca dạy rằng ai phát nguyện vãng sinh về Đông phương tịnh độ của đức Phật Dược Sư thì không khác gì vãng sinh về Tây phương cực lạc của đức Phật A Di -Đà. Hai vị Bồ-tát ở hai bên của ngài là Nhật Quang và Nguyệt Quang.

3. Tụng kinh Dược Sư có lợi ích gì ?

Như tên gọi của ngài, đức Phật Dược Sư chủ về chữa bệnh cho nên người ta tụng kinh Dược Sư để cầu xin được lành bệnh. Có chùa căn cứ vào lời chỉ dẫn trong kinh mà lập Đàn Dược Sư với 49 ngọn đèn v.v…

4. Thần chú của ngài như thế nào ?

Thường thường, những người đau ốm thường niệm chú Dược Sư như sau này :“Nam-mô Bạc-già-phạt-đế, Bê-xái-xã-lũ-rô Bệ-lưu-ly, Bác lạt bà hát ra xà dã. Đát tha yết đà da. A ra hát đế tam miệu tam bồ đà da, đát diệt tha. Úm, Bệ-xái-thệ, Bệ-xái-thệ, Bệ-xái-xã, tam một yết đế, sa-ha”.                                                         

34. PHẬT GIÁO TẠI VIỆT NAM

1. Phật giáo tới Việt Nam từ bao giờ ?

Không biết thật chắc chắn. Người ta nghĩ rằng vào khoảng thế kỷ thứ nhì sau Tây Lịch. Sử sách ghi rằng một người Tàu tên là Mâu Bác chạy loạn sang cư ngụ tại nước ta (bấy giờ gọi là Giao châu) vào cuối thế kỷ thứ nhì sau Tây lịch, viết sách về đạo Phật. Có ba vị khác, gốc Ấn độ, đi đường biển sang Tàu, dừng lại nước ta truyền bá đạo Phật trước khi sang Tàu : đó là các ngài Khương-Tăng-Hội, Ma-Ha-Kỳ-Vực và Chi-Cương-Lương trong thế kỷ thứ ba.

Tóm lại : Phật giáo tới nước ta từ Tàu bằng đường bộ và từ Ấn bằng đường thủy. Nói chung, chỉ có thờ cúng lễ bái mà thôi. Đó là thời kỳ bắt đầu, Phật giáo còn yếu ớt, từ cuối thế kỷ II đến giữa thế kỷ VI.

2. Sau đó thì ra sao ?

Từ giữa thế kỷ VI đến hết thế kỷ X, có thể nói là Phật giáo Việt Nam thịnh đạt. Năm 580, ngài Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi (người Ấn) từ Trung Quốc sang, truyền Thiền Tông vào nước ta, lập ra phái thiền thứ nhất ở nước ta. Đệ tử người Việt của ngài là ngài Pháp Hiền phổ biến đạo Phật sâu rộng trong dân chúng. Chùa chiền được xây dựng. Vua Tàu tặng xá-lợi. Mấy phái đoàn nhà sư từ bên Tàu sang giảng pháp, gây được ảnh hưởng cho đạo Phật. Các đoàn nhà sư Tàu hay Ấn mỗi khi qua nước ta đều dừng lại giảng pháp. Năm 820, ngài Vô Ngôn Thông (người Tàu) lập ra một phái thiền mang tên ngài, vậy đó là phái thiền thứ nhì sau phái thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi nói trên đây. Các đệ tử Cảm Thành (đời 1) và Thiện Hội (đời 2) lập thành một truyền thống cho phái này.

3.Thời kỳ nhà Đinh và Tiền Lê (968-1009), Phật giáo ra sao ?

Có thể nói là thời kỳ Phật giáo độc tôn. Công việc nước từ văn hóa đến chính trị, đều phải nhờ vào tay các tăng sĩ là tầng lớp trí thức lúc bấy giờ. Ngài Ngô Chân Lưu, thuộc phái Vô Ngôn Thông, được vua Đinh Tiên Hoàng mến phục phong làm tăng thống, sau lại phong là Khuông Việt thái sư (Khuông Việt có nghĩa là người có công sửa sang giúp đỡ nước Việt). Vua Lê Đại Hành tiếp theo vua Đinh lại biệt đãi tăng sĩ hơn, thường mời vào triều để hỏi việc nước và khuyến khích truyền bá đạo Phật và cho sang Tàu thỉnh kinh Phật mang về. Vua Lê Đại Hành còn vời thiền sư Đỗ Thuận tới bàn việc chính trị và ngoại giao, và cử ngài ứng đáp với sứ giả Tàu. Vì lý do nào mà đạo Phật được như vậy ? Thời đó, chỉ có các nhà sư thông hiểu Phật pháp qua chữ Hán và vì qua chữ Hán nên thông cả Nho học. Hơn nữa, các vị lại đạo hạnh cao dày nên dân chúng hết sức quý mến và kính nể. Vua trọng, dân mến, các ngài đã làm cho đạo Phật được thịnh hành.

4. Phật giáo rất thịnh vào thời Lý (1010-1225), có đúng không ?

– Thiền sư Vạn Hạnh (tịch 1018) thuộc phái Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi là một người rất giỏi, tinh thông cả tam giáo (Nho, Lão, Phật), xuất gia năm 20 tuổi, thường giúp ý kiến về việc nước cho vua Đại Hành. Ngài có một môn đệ là Lý Công Uẩn (con nuôi của sư Lý Khánh Vân), ông này sau lên ngôi, đó là Lý Thái Tổ (1010-1028), vua sáng lập của nhà Lý. Vua Lý Thái Tổ xây chùa độ tăng, hết sức truyền bá đạo Phật, sai sứ sang Tàu năm 1019 để thỉnh kinh. Dưới triều này, đạo Phật thịnh đạt nhất, và có nhiều danh tăng.

– Vua Lý Thái Tông (1028-1054) cũng rất sùng đạo Phật. Vua Tàu sai sứ mang sang tặng Đại Tạng Kinh, đó là một điều làm tăng uy tín cho nhà vua và cho đạo Phật. Thời này, có nhiều cao tăng. Chính nhà vua tự xưng là đệ tử của thiền sư Thiền Lão thuộc phái Vô Ngôn Thông và được truyền tâm ấn.

– Vua Lý Thánh Tông (1054 -1072) rất mộ đạo Phật. Khi sang đánh Chiêm Thành, quân ta bắt được một tù binh đem về, đó là một thiền sư Trung Hoa tên là Thảo Đường, được nhà vua trọng vọng. Từ đó có phái thiền thứ ba tại nước ta, đó là phái Thảo Đường. Vua Lý Thánh Tông được thiền sư truyền tâm pháp, vậy nhà vua là đệ tử đầu tiên của phái Thảo Đường. Không nói thì ai cũng hiểu rằng dưới triều một nhà vua như vậy, lúc này đạo Phật phát triển mạnh cả về bề mặt và bề sâu.

– Vua Lý Nhân Tông (1072-1127) và hoàng hậu lo truyền bá Phật pháp, xây chùa. Vua phong cho thiền sư Khô Đầu làm quốc sư, cố vấn nhà vua về việc nước. Có nhiều nhà sư lỗi lạc như Viên Chiếu, Ngộ Ấn …

– Vua Lý Thần Tông (1128-1138) mắc bệnh, được sư Minh Không chữa khỏi, vua phong cho ngài làm quốc sư. Cả ba phái thiền đều có các cao tăng như các ngài Thông Biện, Bảo Giám và ni sư Diệu Nhân.

– Vua Lý Anh Tông (1138-1175) là đệ tử của thiền sư Không Lộ, phái Thảo Đường và được truyền tâm pháp. Quốc sư là ngài Viên Thông, ngài viết nhiều sách. Nhiều danh tăng : các ngài Trí Thuyền, Am Trí, Bảo Giám …

– Vua Lý Cao Tông (1176-1210) nhỏ quá nên việc nước do quan phụ chánh Tô Hiến Thành đảm nhiệm. Lớn lên, vua thọ giáo nơi thiền sư Trương Tam Tạng phái Thảo Đường. Vận nước đang đi xuống, Phật giáo cũng vậy. Sang đến vua

– Lý Huệ Tông (1211-1225), đất nước không yên, Trần Thủ Độ mưu cướp ngôi cho nhà Trần. Huệ Tông đi tu, nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng, bà này nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (Trần Thái Tông).

Dưới thời nhà Lý, đạo Phật giữ địa vị độc tôn về mọi sinh hoạt quốc gia. Các vịvua thì sùng đạo, có vị đắc đạo. Các cao tăng hết lòng giúp nước, không mưu danh lợi, nhiều vị là văn sĩ, thi sĩ, nhà ngoại giao…Rõ ràng đây là một giai đoạn mà đạo Phật nhập thế, giúp nước, giúp đời.

5. Đạo Phật dưới thời nhà Trần (1225 -1400) ra sao ?

– Vua Trần Thái Tông (1225-1258) có ý định đi tu nhưng bị Trần Thủ Độ ngăn, tuy vậy vua vẫn tu hành và viết mấy cuốn sách rất quý về Phật pháp, lưu truyền cho tới nay.

– Vua Trần Thánh Tông (1258-1278) được y chỉ nơi Quốc sư Trúc Lâm Đại Đăng, viết sách Phật, nhường ngôi cho con và xuất gia.

– Vua Trần Nhân Tông (1278-1293) nhường ngôi cho con để đi tu, làm sơ tổ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, tự lấy hiệu là Hương Vân đại đầu đà, sách kêu ngài là Điều Ngự Giác Hoàng. Ngài đi hoằng pháp độ sanh khắp nơi, giúp đỡ dân chúng, lập trạm phát thuốc …

– Vua Trần Anh Tông (1293-1214) là đệ tử của Tuệ Trung thượng sĩ, tinh thông Phật pháp, hăng hái truyền bá Phật giáo trong nước.

Từ đây trở đi, Phật giáo kém dần. Một phần vì Nho giáo mạnh dần lên, chiếmảnh hưởng của Phật giáo, một phần do phát triển quá rộng nên mê tín dị đoan lấn át chánh pháp và nhửng kẻ lợi dụng xen vào hàng ngũ tăng ni. Điều đáng chú ý nhất là sự thành lập phái thiền Trúc Lâm Yên Tử mang sắc thái hoàn toàn Việt Nam, với ba vị tổ : Điều Ngự Giác Hoàng, Pháp Loa và Huyền Quang.

6. Phật giáo vào thời nhà Hồ (1400-1407) và Hậu Lê (1428-1527) ra sao ?

Đây là thời kỳ tối tăm nhất của Phật giáo Việt Nam. Nhà Hồ chiếm ngôi của nhà Trần mới có năm bảy năm thì giặc Minh sang xâm lăng nước ta, với chính sách phá hủy hết mọi thứ liên quan đến văn hóa, và ý đồ đồng hóa dân Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh kéo dài tới 1428 mới thắng lợi. Nhà Hậu Lê lên cầm quyền, Nho giáo trở thành độc tôn. Thiền môn điêu tàn, hoang phế. Phật không ra Phật, ma không ra ma ! Đối với đại chúng thì Phật giáo chỉ còn lại một mớ mê tín dị đoan, đối với sĩ phu yếm thế thì Phật giáo là nơi ở ẩn tránh đời.

7. Dưới thời vua Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn (1528-1802), có sáng sủa hơn không ?

Họ Mạc chiếm ngôi nhà Lê năm 1527, làm vua được mấy đời. Họ Trịnh phò vua Lê lấy lại ngai vàng nên trở thành chúa Trịnh ở Bắc, chúa Nguyễn cũng có công phò vua Lê thì đóng ở phía Nam, hai họ lấy sông Gianh làm ranh giới. Hai bên ra sức xây dựng phần đất của mình và cùng sốt sắng ủng hộ Phật giáo, xây chùa độ tăng. Ngoài Bắc, có phái Tào Động (một chi của Thiền Tông bên Tàu) truyền sang. Lại có phái Liên Tôn do hai nhà sư Việt là Lân Giác, Nguyệt Quang (đệ tử chi phái thiền Lâm Tế bên Tàu) sáng lập. Các chúa Trịnh ủng hộ khá mạnh việc trùng tu chùa chiền, thỉnh kinh. Có nhiều danh tăng, nổi bật nhất là thiền sư Hương Hải. Trong Nam, các chúa Nguyễn hết lòng ủng hộ Phật giáo, xây chùa, đúc chuông, tạc tượng rất nhiều. Ngài Nguyên Thiều (người Trung Hoa) và ngài Liễu Quán còn để lại ảnh hưởng sâu đậm.

8. Phật giáo dưới thời nhà Nguyễn (1802-1945) ra sao ?

Nhà Nguyễn Tây Sơn chấm dứt được cuộc phân tranh Nam-Bắc nhưng chẳng bao lâu chúa Nguyễn Phúc Ánh diệt nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước, mở đầu triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long. Nước nhà mới rối ren loạn lạc khá lâu nên việc chính là lập lại an ninh trật tự chứ chưa phải là trùng tu chùa chiền, chấn hưng Phật giáo. Sau vua Gia Long, vua Minh Mạng và vua Thiệu Trị có cho tu sửa tự viện nhưng trong dân chúng, ảnh hưởng của đạo Phật yếu dần. Mặc dù có các vị cao tăng nhưng các vị không làm gì được trước cảnh suy tàn đó. Đến khi Pháp đặt nền đô hộ thì tình trạng Phật giáo quả là bi đát. Đạo Phật rút lại là cầu đảo, cúng kiếng. Sư sãi đa số ít học, không giữ giới, chạy theo dục lạc. Cư sĩ và tín đồ ngơ ngác, không biết trông vào đâu. May mắn là tại các nước như Trung Quốc, có những cuộc vận động chấn hưng Phật giáo ảnh hưởng đến nước ta từ 1920. Ba miền Nam, Trung, Bắc đều có phong trào : các hội Phật học khai sinh tại Nam bộ (1931), rồi Trung bộ (1932) và Bắc bộ (1934) với mục đích chỉnh đốn chùa chiền, vãn hồi giới luật, đào tạo tăng tài, phổ biến Phật pháp. Công việc tiến triển tốt đẹp, nhưng khoảng 1940, Thế chiến thứ nhì bùng nổ. Chiến tranh vừa chấm dứt năm 1945 là tiếp đến cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1946, kết thúc bằng sự chia đôi đất nước năm 1954. Miền Nam có Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sau nhiều phấn đấu gian nan, miền Bắc có Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam nằm trong tay của đảng Cộng sản. Sau năm 1975, chính quyền cộng sản chỉ công nhận có Giáo Hội của họ mà thôi, ai không theo họ thì bị đàn áp. Nhưng vẫn có những người bất khuất.

35 . PHÁP SỐ

1. Pháp số nghĩa là gì ?

Là những pháp bắt đầu bằng một con số, thường là số theo chữ Hán-Việt như nhị thừa, tam tạng, tứ diệu đế, ngũ uẩn, lục độ, thất giác chi, bát chánh đạo, cửu hữu, thập phiền não, thập nhị nhân duyên… Nay, người ta có khuynh hướng dùng tiếng Việt thay vì Hán-Việt như bốn sự thật vi diệu, năm uẩn, mười hai nhân duyên…

Trong các phần trước, chúng ta đã gặp nhiều pháp số rồi, biết nghĩa rồi cho nên sau đây dù có nhắc lại cũng chỉ nói lướt qua. Hơn nữa, vì chúng ta mới học nên cũng chỉ cần một số ít thôi.

2. Số hai (nhị).

-Hai tâm : 1/ Chân tâm, cái tâm thật sự. 2/ Vọng tâm, cái tâm thay đổi luôn, sailầm. Còn gọi là chúng sinh tâm.

-Hai thừa, nhị thừa : nghĩa thứ nhất là đại thừa và tiểu thừa, nghĩa thứ hai (dùng nhiều hơn) là thanh văn thừa và duyên giác thừa.

-Nhị kiến, nhị biên kiến : 1/ chấp cái ta thường còn. 2/ chấp rằng chết là hết. Còn một cách hiểu nữa : 1/ chấp hữu. 2/ chấp không. (một đằng chấp có, một đằngchấp không).

3. Số ba (tam).

-Tam bảo : Phật, Pháp, Tăng.

-Tam đồ : địa ngục, ngạ quỷ (quỷ đói), súc sinh.

-Tam giới : dục giới, sắc giới, vô sắc giới.

-Tam nghiệp, ba nghiệp : nghiệp của thân, của miệng và của ý.

-Tam sinh, ba đời : đời của con người về quá khứ, hiện tại và vị lai.

-Tam quy : Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.

-Tam tai : ba tai nạn là hỏa tai, thủy tai và phong tai (nạn lửa, nạn nước và nạn gió).

-Tam tạng : Kinh, Luật và Luận.

-Tam thân của Phật : báo thân, ứng hóa thân và Pháp thân.

-Tam thế : ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai, nói về Phật tam thế.

-Tam thừa : Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa.

-Tam tổ Trúc Lâm Yên Tử : Ba vị sau đây : Trúc Lâm đầu đà (vua Trần Nhân Tông), Pháp Loa (Đồng Kiên Cương), Huyền Quang (Lý Đạo Tái) là sơ tổ, nhị tổ và tam tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

-Tam tôn : Tượng Di-Đà tam tôn gồm có tượng Phật Di-Đà ở giữa, tượng Bồ-tátQuán Âm (đại bi) bên trái của ngài và tượng Bồ-tát Thế Chí (đại lực) ở bên phải. Tượng Thích-Ca tam tôn hay Thích-Ca tam thánh gồm có tượng Phật Thích-Ca ở giữa, hai bên là tượng Bồ-tát Văn Thù (đại trí) và Bồ-tát Phổ Hiền (đại hạnh).

Ba chữ sau này không phải số ba nhưng quan trọng nên được xếp vào đây:

-Tam-bồ-đề (sanskrit : sambodhi) : sự giác ngộ hoàn toàn.

-Tam-ma-đề (skt : samadhi) : dịch là chỉ tức là dừng hết sự tán loạn trong tâm, dừng hết vọng niệm. Còn gọi là tam-muội hay tam-ma-địa.

-Tam-miệu-tam-bồ-đề (skt : samyaksambodhi) : sư giác ngộ của đức Phật. Còn có tên : chính giác, chính đẳng giác, chính đẳng chính giác, vô thượng chính đẳng chính giác.

4. Số bốn (tứ).

-Bốn ơn, tứ ân : ơn cha mẹ, ơn thày bạn, ơn quốc gia, ơn thí chủ và chúng sinh.

-Bốn cấp thiền, bốn bậc thiền, tứ thiền : sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền.

-Bốn đại, tứ đại : đất, nước, gió, lửa.

-Bốn kiếp, bốn tướng : bốn kỳ phát triển của bất cứ sự vật nào, đó là thành, trụ, hoại, không.

-Bốn nguyện lớn, tứ hoằng thệ nguyện : 1/ nguyện độ thoát mọi chúng sinh, 2/ nguyện dứt hết mọi phiền não, 3/ nguyện học hết mọi pháp môn, 4/ nguyện thành tựu Phật đạo.

-Bốn nhiếp pháp, tứ nhiếp pháp : 1/ bố thí, 2/ ái ngữ (nói lời dịu dàng phát xuất từ lòng thương), 3/ lợi hành (làm điều có lợi cho người), 4/ đồng sự (cùng làm chung với người).

-Bốn núi, tứ sơn : sinh, già, bệnh, chết (sinh, lão, bệnh, tử).

-Bốn oai nghi, tứ nghi : đi, đứng, nằm, ngồi đều nghiêm chỉnh.

-Bốn tâm vô lượng, tứ vô lượng tâm : từ, bi, hỷ, xả.

-Bốn thánh, bốn bậc thánh, tứ thánh : thanh văn, duyên giác (độc giác, bích-chiphật), bồ-tát, Phật (Bắc tông). Tu-đà-hoàn, tư-đà-hàm, a-na-hàm, a-la-hán (Nam tông).

-Bốn sự thật vi diệu, tứ diệu đế : khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế.

-Bốn y cứ, bốn điều y cứ, tứ y : 1/ y pháp bất y nhân (y vào giáo pháp, không y vào người dạy giáo pháp) 2/ y nghĩa bất y ngữ (y vào nghĩa lý, không y vào lời nói) 3/ y trí bất y thức (y vào trí tuệ giác ngộ, không y vào thức nhận xét sai lầm) 4/ y kinh liễu nghĩa, bất y kinh bất liễu nghĩa (y vào kinh trình bày lý rốt ráo, không y vào kinh chỉ trình bày lý tạm thời).

5. Số năm (ngũ).

-Ngũ ấm : như chữ ngũ uẩn.

-Ngũ chủng cúng dàng, năm món cúng dàng : Năm thứ đem cúng dàng Tam Bảo 1/ nhang thoa, 2/ nhang đốt, 3/ hoa, 4/ thức ăn uống, 5/ đồ thắp sáng.

-Ngũ dục, năm lòng dục : năm sự ham muốn, tham dục, đó là sắc dục, thanh dục, hương dục, vị dục, xúc dục.

-Ngũ hương, năm loại hương : năm loại hương để đốt gồm có đàn hương, trầm hương, đinh hương, uất kim hương và long não hương.

-Ngũ phần pháp thân : giới, định, huệ (hay tuệ; đức Phật biết hết và thấy hết), giải thoát (đức Phật không còn bị trói buộc, hoàn toàn tự do), giải thoát tri kiến (đức Phật hoàn toàn biết rõ cảnh giới giải thoát của mình).

-Ngũ phần Pháp thân hương nói ngắn là ngũ phần hương: năm giai đoạn tu hành gồm có giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương.

-Ngũ thể đầu địa, năm vóc gieo xuống đất : khi lạy Phật thì trán và hai tay, hai chân cùng chạm đất.

-Ngũ thời thuyết pháp : đây là một giả thuyết của tông Thiên Thai, chia sự thuyết pháp của đức Phật ra làm năm thời kỳ như sau này 1/ Thời Hoa Nghiêm. 2/ Thời A-hàm. 3/ Thời Phương Đẳng. 4/ Thời Bát Nhã. 5/ Thời Pháp Hoa. Tuy là giả thuyết nhưng nhiều người chấp nhận vì hợp lý.

-Ngũ uẩn, năm uẩn : sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

-Ngũ vị, ngũ chủng ngưu vị : năm thứ do con bò cung cấp, đó là 1/ sữa. 2/ cà-rem.

3/ bơ sống. 4/ bơ chín. 5/ phó-mát. (chữ hán-việt là : nhũ, lạc, sanh tô, thục tô, đề hồ).

6. Số sáu (lục).

-Lục căn, sáu căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (đó là nhãn căn, nhĩ căn, tỵ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn).

-Lục cảnh, sáu cảnh : xem chữ lục trần.

-Lục dục : sáu sự ham muốn đối với sáu cảnh tức là sáu trần. Thí dụ : tai ham nghe tiếng hát, tiếng đàn, lời êm ái,… làm cho mình say đắm.

-Lục dục thiên : sáu tầng trời trong cõi dục (xem bài về Ba cõi tức làTam giới).

-Lục đạo, sáu đường, sáu nẻo : địa ngục, ngạ quy, súc sinh, a-tu-la, người, thiên.

-Lục độ, sáu độ : bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ.

-Lục hòa, lục hòa kính : sáu điều hòa thuận, tương kính của các vị xuất gia cùng tu một nơi, gồm có 1/ giới hòa, 2/ kiến hòa, 3/ lợi hòa, 4/ thân hòa, 5/ khẩu hòa, 6/ ý hòa.

-Lục nhập : nói cả hai thứ nội lục nhập là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (tức lục căn) và ngoại lục nhập là sắc, thanh, hương, vị, súc, pháp (tức lục trần). Trong 12 nhân duyên, lục nhập là nói về nội lục nhập tức là lục căn.

-Lục phàm : đồng nghĩa với lục đạo.

-Lục tặc, sáu tên giặc : nói về sáu trần, từ ngoài nhảy vào cướp phá bên trong ta.

-Lục thông, lục thần thông, sáu thông, sáu thần thông : 1/ Thiên nhãn thông (thấy mọi thứ khắp nơi), 2/ Thiên nhĩ thông (nghe mọi tiếng từ mọi nơi), 3/ Túc mạng thông (biết đời trước, đời này, đời sau của mình và của người), 4/ Tha tâm thông (biết tâm của người khác), 5/ Thần túc thông (đi khắp nơi trong nháy mắt), 6/ Lậu tận thông (trong sạch hoàn toàn, hết chấp pháp và chấp ngã).

-Lục thời, sáu thời : sáng sớm, trưa, lúc mặt trời lặn, đầu đêm, nửa đêm, cuối đêm. Nói về lúc làm lễ của tăng sĩ, mỗi ngày sáu lần. Trú dạ lục thời nghĩa là ngày đêm sáu thời.

-Lục xứ : đồng nghĩa với lục nhập.

7. Số bảy (thất).

-Bảy báu, bảy của báu, thất bảo : vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu (ngọc đỏ), mã não. Có nơi kể san hô, hổ phách, trân châu… thay vào một vài thứ trên đây, nói chung là các thứ quý báu.

-Bảy điều không thể tránh : 1/ sinh ra, 2/ bị bệnh, 3/ già đi, 4/ chết, 5/ quả báo của nghiệp ác, 6/ quả báo của nghiệp lành, 7/ mọi thứ đều do nhân duyên.

-Bảy phần bồ-đề, thất bồ-đề phần : đồng nghĩa với thất giác chi và thất giác ý. Gồm có : niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả (xem bài về Thất giác chi).

-Thất thánh tài : bảy sự giàu có về tâm linh, đó là 1/ tín tài (đức tin), 2/ tinh tấn tài (chí kiên trì), 3/ giới tài (giữ giới), 4/ tàm quý tài (biết mắc cỡ, hổ thẹn), 5/ văn tài (biết nghe, rồi suy nghĩ mà tu), 6/ xả tài (biết buông bỏ), 7/ định tuệ tài (có định và huệ).

8. Số tám (bát).

-Bát chánh đạo, bát thánh đạo : xem bài về mục đó.

-Bát công đức thủy : nước có tám công đức là sạch, trong mát, ngon ngọt, nhẹ dịu, nhuần trơn, an hòa, trừ được đói khát và lầm lỗi, bổ dưỡng cho thể chất và tinh thần.

-Bát giới trai : coi bài về Tam Bảo.

-Bát khổ, tám điều khổ : 1/ sinh, 2/ lão, 3/ bệnh, 4/ tử, 5/ yêu mà phải xa, 6/ ghét mà phải gần , 7/ cầu mà không được, 8/ khổ vì thân ngũ ấm.

-Bát phong, tám ngọn gió : 1/ lợi, 2/ suy (tổn hại), 3/ hủy (chê), 4/ dự (khen), 5/ xưng (ca ngợi), 6/ cơ (chế riễu), 7/ khổ, 8/ lạc (vui).

-Bát quan trai : xem chữ bát giới trai.

10. Số mười (thập) và hơn mười.

-Thập bát giới, mười tám giới : tên chung cho sáu căn, sáu trần và sáu thức.

-Thập cảnh giới, mười cảnh giới : Phật, bồ-tát, duyên giác, thanh văn, thiên, nhân, a-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục.

-Thập đại đệ tử : mười đệ tử lớn của đức Phật. 1/ Ngài Xá-Lỵ-Phất (trí tuệ đệ nhất), 2/ Ngài Mục-Kiền-Liên (thần thông đệ nhất), 3/ Ngài Đại-Ca-Diếp (đầu đà đệ nhất), 4/ Ngài Tu-Bồ-Đề (giải không đệ nhất), 5/ Ngài Ca-Chiên-Diên (nghị luận đệ nhất), 6/ Ngài Phú-Lâu-Na (thuyết pháp đệ nhất), 7/ Ngài A-Na- Luật (thiên nhãn đệ nhất), 8/ Ngài Ưu-Bà-Ly (trì giới đệ nhất), 9/ Ngài A-Nanđà tức A-Nan (đa văn đệ nhất), 10/ Ngài La-Hầu-La (mật hạnh đệ nhất).

-Thập giới, mười giới : 10 điều giới cấm của hàng xuất gia còn làm sa-di (chú tiểu), đó là ngũ giới mà chúng ta biết rồi, cộng thêm năm giới nữa : 6/ không thoa  hương, 7/ không tham dự múa, hát và không coi múa, hát, 8/ không dùng giường lớn, cao, rộng, 9/ không ăn trái bữa (quá ngọ), 10/ không giữ tiền, bạc, châu báu.

– Thập nguyện, mười điều nguyện : đó là nói mười điều nguyện của Bồ tát Phổ Hiền.

– Thập nhị nhân duyên, mười hai nhân duyên : coi bài nói về 12 nhân duyên.

-Thập nhị xứ, mười hai xứ : tên chung cho sáu căn và sáu trần.

-Thập pháp giới : như chữ thập cảnh giới.

-Thập thiện : coi bài nói về Thập thiện.

-Mười tông phái : đó là nói về mười tông phái chính ở Trung Hoa, nay còn lại ba là Tịnh Độ tông, Thiền tông và Mật tông. Ởû Việt Nam, hiện cũng có ba tông phái này.

_____________________________________________________

(Hết)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s