Trưởng Thành trong Mùa Chinh Chiến


 

                                       Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
                            Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
                                                     — Chinh phụ ngâm
 

  Đào Viên

Có một điều tôi đã tự hỏi từ bao lâu mà không sao tìm được câu giải đáp thỏa đáng. Đó là tại sao nước Việt Nam, dân Việt Nam, một dân tộc hiền hòa đã phải chịu bao nhiêu năm tang tóc vì nạn binh đao khói lửa chiến tranh. Không kể đến cả nghìn năm dưới sự thống trị của người Tầu, mà dân ta đã chống trả, thoát khỏi nhiều lần trong lịch sử, cũng không kể đến sự đô hộ tương đối ngắn ngủi của người Pháp, từ 1884 đến 1945.

Chỉ kể từ khi có Thế Chiến thứ hai, trong khi các dân tộc khác trên thế giới được an bình ngay sau 1945 là năm kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến, thì dân ta lại bắt đầu ngụp lặn trong máu lửa đằng đẵng trong gần ba chục năm nữa, trong đó hàng triệu tấn bom đạn, nhiều hơn số bom đạn trong cả hai Thế Chiến, đã được đổ xuống đất nước ta, hàng triệu con dân nước Việt gục ngã trên chiến trường, hàng triệu gia đình tan tác phân ly. Những ngày khủng khiếp ấy đã để lại những vết hằn khó có thể xóa nhòa trong tâm khảm nhiều thế hệ người Việt, lớn lên, trưởng thành trong mùa chinh chiến.

Thi sĩ Hoàng Cầm(1), nhà thơ lỗi lạc nhất của mùa ly loạn đã ghi lại những cảm súc của mình, cũng chính là cảm súc của rất nhiều con dân nước Việt trong một bài thơ bất hủ:

            Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
            Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn.
            Ruộng ta khô, nhà ta cháy,
            Chó dại một đàn
            Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang.
            Mẹ con đàn lợn âm dương
            Chia lìa trăm ngả.
           Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
            Bây giờ tan tác về đâu?
                                                (Bên kia sông Đuống)
Thi sĩ Hoàng Cầm bên bờ sông Đuống

Thi sĩ Hoàng Cầm bên bờ sông Đuống

Vì cùng ở một trong những thế hệ đó, tôi đã lớn lên và trưởng thành trong mùa chinh chiến.

Quân đội Nhật kéo vào nước ta

 Lân đầu tiên tôi, một đứa trẻ độ mười tuổi được nếm một chút mùi vị chiến tranh là ngày gia đình tôi đang nghỉ mát tại Lang Sơn. Quân đội Nhật ngày ấy đã tiến tới Hoa Nam (phía Nam Trung Hoa) ngay sát biên giới giữa Trung Hoa và Việt Nam, hồi đó còn dưới sự bảo hộ của Pháp. Không biết vì một sự hiểu nhầm hay cố ý muốn biểu dương sức mạnh cho người Pháp, lúc đó đã thua Đức Quốc Xã tại Âu châu, trước khi đòi tiến vào Đông Dương, mà hai bên đã có một cuộc đụng độ tại Đồng Đăng, một thị trấn địa đầu cách Lạng Sơn không xa.

Quân đội Nhật tiến vào Việt Nam

Quân đội Nhật tiến vào Việt Nam

Sau cuộc đụng độ này, chính quyền Pháp tại Đông Dương, quá khiếp sợ trước sức mạnh của quân đội viễn chinh Phù Tang, đã phải thỏa thuận cho quân đội Nhật tiến vào Đông Dương, xủ dụng những cơ sở hạ tầng như hải cảng, phi trường, thiếp lập những căn cứ hậu cần, đồn trú và di chuyển quân đội trên khắp nước ta. Ngược lại người Nhật công nhận sự có mặt và quyền cai trị dân bản xứ của người Pháp.

Thực ra trước đó nhiều năm vào khoảng 1937-1938, tiếng vọng của Đệ Nhị Thế Chiến bên trời Âu và Trung-Nhật chiến tranh bên Á châu, nhất là cuộc chiến ở thành phố Nam Ninh,  đã đến với tôi qua hình ảnh trên báo chí hoặc trên những đoạn phóng sự ngắn trong các rạp chiếu bóng. Những hình ảnh đó trông rất ghê rợn, như hình ảnh thành phố Nam Ninh bên Tầu bị san bằng, hàng chục ngàn người (Tầu) chết như rạ, trẻ con người lớn, nằm ngổn ngang  giữa phố, hình ành một số binh sĩ Nhật đang nhe răng ra cười, chống súng ngồi xổm bên cạnh một người đàn bà Trung Hoa nằm chết trên mặt đất, thân thể lõa lồ mà chúng vừa hãm hiếp và giết chết song, cảnh nhiều người Tầu bị quân đội Nhật chém đầu, thủ cấp được cắm trên mấy cọc tre cắm bên cạnh những xác chết, cảnh những thành phố hoang tàn bên Âu châu.

Người Tầu bị quân Nhật giết chết

Người Tầu bị quân Nhật giết chết

Những hình ảnh này dầu có ghê rợn biết mấy, cũng vẫn chỉ là những hình ảnh bất động, vô tri vô giác, về những chuyện xẩy ra tận đâu đâu, xẩy ra cho bàn dân thiên hạ. Nhưng ngay tại Lạng Sơn, khi nghe trực tiếp nghe những tiếng súng nổ ầm ầm, tiếng bom rơi chát chúa, nhìn thấy từng đoàn người, mặt mũi lo sợ kéo nhau chạy xa nơi chết chóc, thấy nguy hiểm gần kề, tôi mới cảm thấy nỗi hãi hùng của chiến tranh.

Quân đội Nhật tiến vào Việt Nam đã đem theo  một bộ máy tuyên truyền rất lợi hại. Hồi đó tôi còn ở Hà Nội, tôi đã thấy người Nhật lập ngay một trung tâm Thông tin ngay tại phố Huế, một trục giao thông chính của Hà Nội, ngay góc đường Harmand (bây giờ là Trần Xuân Soạn), bên kia Chợ Hôm. Đây là một cửa hàng lớn mở rộng ra hai mặt để mọi người vào xem. Trên tường họ dán những hình ảnh của quân đội Nhật chiến thắng trên các mặt trận Trung Hoa, Miến Điện, Ấn Độ, Phi Luật Tân… Cũng có cả hình ảnh người dân Nhật khỏe mạnh, tươi cười đang vui chơi hay chăm chỉ làm việc, những nhà máy tối tân, những cơ sở vĩ đại, những khí giới trông rất dữ dội.

Để lấy lòng người Việt, cũng là một dân tộc Á đông như người Nhật, họ đưa ra chủ thuyết Đại Đông Á, với khẩu hiệu “Đông Á phải thuộc về người Á Đông”, “người Da Vàng là dân tộc anh hùng”. Trung tâm tuyên truyền của họ hoạt động rất mạnh. Cửa mở suốt ngày. Loa phóng thanh ầm ầm loan tin đại thắng trên các mặt trận, chen lẫn những bài ca hùng tráng của quân đội Thiên Hoàng.

Vì hiếu kỳ và bị kích thích bởi sự tuyên truyền khéo léo, ca ngợi sự anh hùng của dân Da Vàng là người Nhật bản – cũng có thể hiểu là người Việt Nam – chống dân Da Trắng là Anh Mỹ – cũng có thể hiểu là người Pháp – nên rất nhiều người đã đến trung tâm này để xem các hình ảnh, để đọc các sách báo của Nhật viết bằng tiếng Việt, xem các đoạn phim có phụ đề Việt ngữ, hoặc để học tiếng Nhật.

Tôi cũng đến trung tâm này rất nhiều lần, la cà nơi này rất lâu để tìm hiểu về dân tộc Nhật Bản. Cũng như nhiều người khác, tôi lúc đó mới lớn lên độ 11, 12 tuổi, rất tò mò, đọc các sách báo của họ, về nhà cũng học một ít tiếng Nhật theo sách học tiếng Nhật của ông Nguyễn Khắc Kham:

              “Kore wa nan desuka?”  (Cái-này là cái-gì hả?)
             “Kore wa hon desu.  (Cái-này là sách đấy)

cũng hát những bài hát phổ thông của người Nhật như bài Đêm Trung Hoa (China Night):

Shina no yoru                                                  (What a night in China,)         
Shina no yoru yo                                             (What a night in China)
Minato no-akari Murasaki no yo ni           (Harbor lights,)          
Noburo jan-ku no Yume no fune                 (Deep purple night,)
Ah Ah Ah Ah                                                      Ah Ah Ah Ah
Wasura-ne-nu Ko-kyu no ne                       (I can’t forget The sound of the Kokyu.)
Shina no yoru Yume no yoru                           (China night,  A dream night.)

 bài hàt của Hải Quân Nhật, bài hát của Không Quân Nhật.. Tôi đã xem ngấu nghiến những tiểu thuyết của Nhật, những truyện về Võ sĩ Đạo (Samurai), truyện Nhật Nga Chiến Kỷ, năm 1905 khi Hải quân Nhật đánh bại Hải quân Nga trong eo biển Đối Mã (Bering Strait).

Những câu chuyện, những tiểu thuyết, những bài hát của người Nhật đã có những dấu ấn vào lòng tôi khá lâu qua năm tháng. Nhiều năm sau, tôi vẫn cò nhớ một phần những bài hát này.

Một năm đầu thập niên (19)60, tôi sang New Dehli, Ấn Độ, có việc của chính phủ. Tôi vừa vào một nhà hàng ăn lớn, thì ban nhạc của nhà hàng tưởng tôi là người Nhật – khi đó người Nhật chưa đi du lịch nhiều như bây giờ – đã chơi bài nhạc Thủy Quân Hành Khúc, như để tôi được thưởng thức một chút hương vị quê hương. Khi được biết tôi không phải là người Nhật mà là người Việt Nam, ban nhạc cụt hứng, bỏ dở chơi bài nhạc.

Dưới đây là bản nhạc Thủy Quân Nhật Hành Khúc

Nói tới hương vị quê hương ở chốn xa xôi, một hôm tôi đang xem đoạn phim Thời sự, chiếu trước phim chính trong một rạp chiếu bóng ở Hà Nội. Phim thời sự thường là của Nhật, phụ đề Việt ngữ khi có khi không. Hôm đó đọan phim Thời sự chiếu lại quang cảnh một cuộc hội họp của nhiều người Nhật, y phục chỉnh tề, trong một căn phòng lớn. Có nhiều người Nhật đã đứng lên hát những bài hát Nhật, như để mọi người thưởng thức những bài hát hay.

Bỗng nhiên có một ông thực khách, đứng lên cất tiếng hát:

            Anh hùng xưa nhớ hồi là hồi niên thiếu
            Dấy binh lấu lau làm cờ
            Quên mình là mình giúp nước
            Hết sức giữ gìn đất nước
           Dấn thân khắp nơi nguy nàn
            Ngàn thu lừng damh đất Bắc
            Sứ quân khắp nơi kinh hồn
            Tiếng lừng nước non.

 trước sự ngạc nhiên của mọi người trong rạp. Mọi người mới hiểu ra đó là một kiều bào, có lẽ đã sang Nhật từ thời Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, vì ông này trông đã đứng tuổi. Cả rạp vỗ tay rần rần.

Những sự tiếp súc ban đầu của tôi cũng như của mọi người Việt Nam ờ Hà Nội với sự xâm nhập của quân đội Nhật có vẻ rất tốt đẹp, bởi vì người Nhật đã làm cho người Việt Nam “da vàng mũi tẹt” được hãnh diện lây. Cái mặc cảm thua kém đối với người da trắng Tây Âu, gần kề là người Pháp, đang thống trị nước ta, đã giảm hẳn đi.

Nhưng chẳng bao lâu cái cảm tưởng tốt đẹp ban đầu này dần dần phai nhạt đi mà được thay thế bằng cái khiếp sợ khi quân đội Nhật , bằng xương bằng thịt hẳn hoi không phải là hình ảnh nữa, hung hăng kéo vào các thành phố rồi quê hương làng mạc, phô trương sức mạnh, dọa nạt khiếp đảm, bắt nạt dân chúng địa phương bằng những nhành động cùng hung cực ác mà tôi sẽ nói đến sau này.

Phong Trào Thanh Niên

Người Pháp trước sự biểu dương sức mạnh của Nhật không lấy gì thích thú cho lắm, nhưng vì phần quá khiếp sợ trước sức mạnh của quân đội Nhật, phần khác được lệnh của chính phủ bên mẫu quốc, lúc đó là chính phủ Pétain, còn được gọi là chính phủ Vichy, là phải hợp tác với đồng minh của Trục (Axis) Đức-Ý-Nhật, nay có thêm Pháp Vichy, nên họ đành phải ngậm quả bồ hòn mà chịu vậy,.

Thủy Sư Đô Đốc Decoux

Thủy Sư Đô Đốc Decoux

Toàn quyền Pháp ở Đông Dương lúc đó là Thủy Sư Đô Đốc  Decoux, được Thống chế (Maréchal) Pétain cho thay thế Thủy sư Đô đóc Catroux đã theo phe Kháng Chiến của tướng DeGaulle. Decoux e rằng nếu tiếp tục áp chế ngưpời Việt nam mà không làm gì cả thì dân chúng sẽ theo Nhật hết và địa vị của Phấp tất nhiên sẽ nguy hiểm.

Đô đóc Decoux bèn dùng một cộng sự viên trẻ, rất đắc lực là ông Ducoroy, phát động một phong trào Thanh niên hòng ru ngủ người Việt, hướng sự chú ý của thanh niên Việt nam đến một chuyện khác, phù phiếm hơn, dễ dàng vui vẻ hơn, xa hẳn chính trị, không phải là đấu tranh nòi giống, lánh xa với khát vọng dân tộc. Phong trào Thanh niên này được phát động và tổ chức rất chu đáo và rầm rộ.

Vì được nhằm vào giới thanh niên, nên tôi hồi đó mới chỉ 11, 12 tuổi đã không trực tiếp liên quan. Chị tôi, một nữ sinh viên trường Trung học Đồng Khánh, cuĩng như các anh chị họ của tôi và các bạn cừng lứa tuổi đã bị lôi cuốn vào phong trào này. Các trường phải có thêm giờ về âm nhạc – mà trước không có – để dạy học trò hát các bài hát ca tụng Quốc trưởng Pháp là Thống chế Pétain, hoặc ca tụng nước Pháp. Tôi nhớ là chị tôi mỗi khi đi học về là hát những bài hát đó, chuẩn bị cho những buổi họp mặt hay biểu diễn thi đua thể thao được tổ chức luôn luôn..

Những bài hát như:

Bài Maréchal! Nous voilà!                Thưa Thống Chế! Có chúng tôi đây

      Une flamme sacrée                       Một ngọn lửa thiêng
      Monte du sol natal                        bốc lên từ đất Mẹ
      Et la France enivrée                      Thế là cả nước Pháp say sưa
      Te salue Maréchal!                        kính chào Thống Chế
 
      Maréchal! Nous voilà!                   Thưa Thống Chế! Có chúng tôi đây
     Devant toi le sauveur de la France đứng trước Ngài: vị cứu tinh của Pháp     quốc
     Nous jurons, nous tes gars                Chúng tôi xin thề
     de te servir et de suivre tes pas       phục vụ Ngài và theo chân Ngài
 
      Maréchal! Nous voilà!                    Thưa Thống chế! Có chúng tôi đây
     Qui nous a redonné l’espérance    Ngài đã cho chúng tôi hy vọng
     La Patrie renâitra!                           Tổ quốc sẽ trỗi dậy
      Maréchal!                                          Thưa Thống chế
     Maréchal! Nous voilà!                     Thưa Thống Chế! Có chúng tôi đây.

Dưới đây là bài hát ca tụng Thống chế Pétain

 

Bài Les Trois Couleures                               Mầu Tam Tài

Les connais-tu, les trois couleurs,                Anh có biết ba mầu Tam Tài không?
Les trois couleurs de la France ?                  Ba mầu của nước Pháp
Celles qui font rêver les coeurs                      Ba mầu làm tim chúng ta mơ ước
De gloire et d’espérance :                                đến vinh quang và hy vọng
Bleu céleste, couleur du jour.                       Mầu Xanh da trời, mầu của banngày
Rouge de sang, couleur d’amour.                Mầu máu Đỏ, mầu của Tình yêu
Blanc, franchise et vaillance !                     Mầu Trắng, Thẳng thắn và Can trường

là những bài rất phổ thông ở cửa miệng mọi giới thanh niên, đã làm cho tôi chỉ nghe lóm qua nhiều lần, cũng phải thuộc ít nhiều. Nhiều buổi họp mặt điền kinh (track meet) giữa các trường được tổ chức, trong đó thanh niên được mặc đồng phục, áo trắng quần dài trắng, đi diễu hành qua khán đài, vừa đi vừa hát những bài như trên, trông rất ngoạn mục.

Chính phủ còn hỗ trợ cho một cuộc đua xe đạp vòng quanh Đông Dương, tương tự như Tour de France, khởi hành từ Hà Nội, đạp xe vào Huế, vào tới Sài Gòn, ngược lên Pnom Penh, qua Vientiane bên Lào, rồi trở về Hà Nội. Đây là một đề tài rất hấp dẫn trên các báo chí, phim ảnh thời sự làm tất cả mọi người phải chú ý, nói tới luôn luôn. Sự ganh đua để lấy Áo Vàng giữa Con Phượng Hoàng Lê Thành Các, người Nam với Vua Nước Rút Vũ Văn Thân, người Bắc, được nói đến hàng ngày. Trong gia đình tôi, và có lẽ trong những gia đình khác cũng vậy, mọi người thảo luận vế các biến cố thể thao đó một cách rất hăng say.

Ngoài ra bộ máy tuyên truyền của Pháp cũng hoạt động dất mạnh. Ở những lớp Tiểu học như lớp tôi, chúng tôi được phát không những tranh vẽ (comics) tô mầu về tiểu sử Thống chế Pétain, về Đại Uý Đỗ Hữu Vị, một người Việt Nam là phi công – cũng là người đầu tiên – của Không Quân Pháp trong Thế chiến thứ Nhất và bị tử nạn trong một cuộc không chiến với Đức.

Đại Úy Đỗ Hữu Vị trên bưu phiếu thời Pháp thuộc

Đại Úy Đỗ Hữu Vị trên bưu phiếu thời Pháp thuộc

Với phong trào Thanh Niên, người Pháp đã ít hay nhiều thành công tách rời người Việt ra khỏi hấp lực của người Nhật. Nhưng hành động này có cái nguy hiểm là làm cho thanh niên Việt biết hội họp, biết đoàn kết, biết hợp quần và nhận định ra rằng người Việt Nam, nếu không phải là đồng minh của người Nhật, thì cũng không thể nào làm đầy tớ phục vụ mãi người Pháp được.

Các thanh niên Việt Nam, bắt đầu từ trường Đại Học Hà Nội, đã tổ chức được một đoàn thể độc lập với chánh quyền Pháp, mệnh danh là Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương hay là Association des Étudiants de l’Indochine. Tổng Hội này đã quy tụ đông đảo các thành phần ưu tú nhất của giới thanh niên thời đó.

Họ thấy rằng cứ hát mãi “Thưa Thống chế! Có chúng tôi đây!” là chuyện rất vô duyên, vô nghĩa lý. Một sinh viên của trường Đại Học Hà Nội, đã cùng với hai người bạn, đặt ra một bài hát cho Tổng Hội Sinh Viên, hô hào các sinh viên hãy “đứng lên đáp lời sông núi”. Bài này, với hai bản, một bằng tiếng Pháp “La Marche des étudiants” (đặt trước tiên) và một bằng tiếng Việt “Tiếng gọi Sinh viên” (đặt sau đó) bỗng nhiên trở thành bản hùng ca trên cửa miệng tất cả mọi người, nhất là trong giới thanh niên. Bài hát này cả lời lẫn nhạc được coi là một tuyệt tác, có tính cách lịch sử, đánh dấu sự khởi đầu một giai đoạn đấu tranh cho nền độc lập của nước nhà. Hai bài đó có lời như sau:

Bài Tiếng gọi sinh viên

Này Thanh Niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi
Đồng lòng cùng đi, đi, đi, mở đường khai lối.
Vì non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên,
Nào anh em Bắc Nam, cùng nhau ta kết đoàn.
Hồn thanh xuân như gương trong sáng,
Đừng tiếc máu nóng, tài xin ráng,
Thời khó thế khó khó làm yếu ta
Dù muôn chông gai vững lòng chi sá,
Đường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương
Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường!
 
         Thanh niên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
         Thanh niên ơi! Ta nguyền đem hết lòng!
        Tiến lên đồng tiến vẻ vang nguồn sống
        Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
 
Này Thanh Niên ơi, nhớ xưa dấu còn chưa xóa,
Hùng cường trời Nam ghi trong bảng vàng bia đá,
Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam Tiến luôn,
Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn,
Hồ Tây tranh phong oai son phấn,
Lừng tiếng Sát Đát! Trần Quốc Tuấn,
Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam,
Trừ Thanh, Quang Trung giết hàng bao đám,
Nói giống có khí phách từ xưa chớ quên,
Mong thấy ngày vẻ vang ta thắp hương nguyền! 
 
         Thanh niên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
         Thanh niên ơi! Ta nguyền đem hết lòng!
         Tiến lên đồng tiến vẻ vang nguồn sống
        Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!

 Bài La Marche des étudiants

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước

Étudiants, du sol l’appel tenace

Pressant et fort retentit dans l’espace,
Des côtes d’Annam aux ruines d’Angkor,
à travers les monts, du Sud jusqu’au Nord,
Une voix monte ravie: Servir la chère Patrie!
Toujours sans reproche et sans peur,
Pour rendre l’avenir meilleur,
Avec fermeté et courage,
Selon les espoirs de notre âge.
 
                Te servir, chère Indochine!
               Avec coeur et discipline,
               C’est notre but, c’est notre loi,
               Et rien n’ébranle notre foi!
 
Étudiants, notre passé de gloire
Demeure encore dans notre mémoire.
De ces grands héros, qui luttaient jadis,
De ces beaux pays, nous sommes les fils.
Soyons fiers de nos ancêtres,
Après eux nous saurons être
Unis et forts pour mieux servir,
Pour bâtir un bel avenir…

Bài Tiếng Gọi Sinh Viên này, hai mươi năm sau đã được chính phủ Ngô  Đình Diệm sửa đổi lời ca để trở thành quốc ca – bài Tiếng gọi Công Dân – của miền Nam Việt Nam, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Này Công Dân ơi! Đứng lên đáp lời sông núi.
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.
Vì tương lai Quốc Dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
Dù cho thây phơi trên gươm giáo,
Thù nước, lấy máu đào đem báo.
Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,
Người Công Dân luôn vững bền tâm trí.
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
 
               Công Dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!
              Công Dân ơi! Mau làm cho cõi bờ
             Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống
             Xứng danh nghìn năm giòng giống Lạc Hồng!

Người sinh viên nhạc sĩ đó là ông Lưu  Hữu Phước(2), hai người bạn cộng tác là các ông Mai văn Bộ và Nguyễn Thành Nguyên, là những sinh viên người Nam, ra học Đại học tại Hà Nội. Ông Lưu Hữu Phước cũng là tác giả của nhiều bàn hùng ca khác – như Ải Chi Lăng, Bạch Đằng Giang – rất được ưa chuộng một thời..

Sự Tàn ác cũa người Nhật

Sau khi đậu song bằng Tiểu học ở Hà Nội, tôi đã phải về Bắc Ninh để học Trung học của tỉnh: Collège de Bắc Ninh. Trong thời gian học Trung học, tôi đã ở trọ nhà người anh thứ hai của Thầy tôi là Bác Đồ Thái, tại làng Yên Mẫn. Làng Yên là một làng ven đô của tỉnh Bắc Ninh. Tỉnh Bắc Ninh có một cái thành (fort) do người Pháp xây đắp lên theo kiểu thành Vauban của thế kỷ thứ 19. Thành hình vuông rất lớn. mỗi cạnh phải dài cả cây số, với 4 cổng thành. Quân đội Pháp và quân đội Nhật đồn trú trong thành. Mọi hoạt động dân sự là ở ngoài thành. Trường Collège de Bắc Ninh ở phía bắc, cổng Bắc ngoài thành. Làng Yên thì ở phía Nam, cổng Hậu của thành. Hàng ngày tôi đi học, phải đi từ cổng Hậu đi vòng quanh lên phía cổng Bắc, dài khoảng hai cây số.

Một kiểu thành Vauban của Pháp

Một kiểu thành Vauban của Pháp

Trong khi đi học tôi đã phải đi qua những nơi đóng quân của quân đội Nhật, không nhiều, thiết lập nơi ngoại vi của thành Vauban. Những lều trại đóng san sát, những khẩu súng lớn để ngổn ngang, những con ngựa cao lớn cùng những binh lính, sĩ quan trong quân phục mầu xanh lá mạ xẫm, kiếm dài đeo lủng lẳng bên sườn, với những nét mặt không mấy thân thiện, tiếng nói gầm gừ dữ dằn khiến tôi rất sợ hãi cứ phải tránh lảng ra xa.

Quân đội Nhật có lấy hay thuê tôi không rõ một căn nhà lớn hai tầng ngay khu dân chúng ở, để làm khu giải trí cho quân đội Nhật. Mỗi khi đi qua căn nhà này, tôi đều thấy nhiều cô con gái quần áo lượt là, son phấn đẹp đẽ, đứng chơi trước cửa hay thấp thoáng sau mành. Sau này tôi mới hiểu đó là những con gái Triều Tiên (tên nước Đại Hàn thời đó) đã bị chính phủ Nhật, lúc đó đang chiếm đóng Triều Tiên, bắt đi làm điếm trong các nhà thổ (bordello) của quân đội Nhật.

Cũng trong thời kỳ này tôi được nhiều người kể lại những hành vi tàn ác dã man của quân đội Nhật. Người ta kể rằng có những đứa trẻ bị chúng chặt cụt tay chỉ vì đã ăn cắp thức ăn của quân đội Nhật. Mấy người Việt Nam đã bị chúng mổ bụng vì đã dám ăn cắp ngựa cũa chúng. Những hành động này, xẩy ra không nhiều, có tính cách địa phương riêng rẽ, như cốt để làm cho dân Việt nam phải e dè, chớ có lảng vảng đụng vào quân Nhật.

Hiến Binh Nhật

Hiến Binh Nhật

Phải cho đến những năm 1944-45 khi sự chống đối của người Việt Nam với người Pháp lẫn người Nhật rõ rệt hơn, người Việt Nam mới thấy rõ sự tàn ác của người Nhật đối với dân bản xứ, những điều mà họ đã làm tại Triều Tiên, Mãn Châu, Trung hoa, Miến Điện…qua những hành động  của Kempetai, tức là Hiến Binh đội hay An Ninh quân đội của quân đội Nhật.

Nạn đói năm Ất Dậu (1945)

Quân đội Nhật đã gây ra một nạn đói khủng khiếp để hàng triệu người Việt nam, từ thành thị đến thôn quê bị chết vì đói. Trên bình diện thế giới, những năm 1944-45 là những năm cuối cùng của Đế quốc Nhật. Quân đội Đồng minh đã chiến thắng trên khắp các mặt trận và đã cắt những đường tiếp tế của quân Nhật.

Người và giống vật chết vì đói

Người và giống vật chết vì đói

Quân Nhật cần dùng đay để dệt những vải vóc dùng trong quân đội để may quần áo chăn mền cho binh sĩ, vải để may những lều trại. Họ cần đến than để đốt các đầu máy xe lửa và tầu thủy. Chúng đã về các thôn quê bắt dân Việt Nam phải bỏ thóc lúa mà trông đay để nộp cho chúng. Thóc lúa có sẵn thì chúng đến thu mua, với một giá rẻ mạt, mang về làm nhiên liệu đốt các đầu máy xe lữa và tầu thủy chở đồ tiếp tế cho quân đội. Quân Nhật đã ngang nhiên thi hành chính sách độc ác này trước sự làm ngơ của người Pháp lúc đó vẫn còn làm chủ Đông Dương nhưng đã quá khiếp nhược trước quân Nhật.

Để có than chạy xe lửa và tầu thủy, quân đội Nhật về làng quê để kiểm kê mỗi gia đình có bao nhiêu thóc trong nhà. Họ tính ra mổi gia đình cần giữ bao nhiêu thóc đễ xay ra gạo mà ăn cho tới mùa gặt tới. Kỳ dư bao nhiên thóc còn lại phải mang lên Tỉnh, nộp cho quân đội Nhật tại một nơi được chỉ định sẵn, tại một ngày nhất định. Nếu không nộp đủ, quân Nhật sẽ về phá làng và bắt dân đi.

Gia đình bên ngoại tôi đã bị bắt buộc phải thuê người cho thóc vào bao tải, đem ra bờ sông, chất trên thuyền đinh – một thứ thuyền lớn chạy trông sông – lên tỉnh Nam Định để nộp cho quân đội Nhật. Tôi được kể lại là hôm đó, lính Nhật sau khi kiểm soát số thóc phải nộp như đã tính trước, đã đưa cho bà tôi một nắm tiền Đông Dương. Bà tôi uất ức quá, khóc ầm lên và ném tất cả số tiền ấy vào người sĩ quan chỉ huy Nhật. Người này cho lính nhặt hết số tiền rải rác trên mặt đất, đem đến chổ Bà tôi ngồi, rồi nói xì xồ vài câu tiếng Nhật để an ủi.

Sự thu mua thóc lúa này không phải chỉ xẩy ra ở một làng, một tỉnh mà đã xẩy ra trên toàn thể vùng đồng bằng sông Hồng Hà, vựa thóc lúa của Bắc Việt.

Nhiều gia đình đã bị phá sản. Nhưng kết quả trong những tháng sau còn kinh khủng hơn nhiều. Gạo lúa không còn, giá lên vòn vọt, không còn đủ cho tất cả mọi người. Trước hết là những gia đình nghèo, kiếm sống hàng ngày, không có dự trữ đã ngã gục, trẻ con người lớn đã lần lượt chết vì đói. Sau đó là những gia đình khá giả hơn, có đôi chút dự trữ đã cầm cự thêm được vài tháng. Sau đó hàng đoàn người kéo nhau đi tìm thức ăn, thân hình gầy guộc đen đủi, mắt sâu hoắm, chân tay như que củi, chỉ còn da bọc xương, đi đến các nhà xin ăn, đi lên tỉnh, lên Hà Nội mà mọi người tưởng là có dư thừa thức ăn.

Nạn đói năm Ất Dậu

Nạn đói năm Ất Dậu

Họ đã chết âm thầm, tất cả gia đình, bố mẹ con cái, năm ba người có, chín mười người có, nằm ngổn ngang nghiêng ngả trong túp lều tranh xiêu vẹo. Họ đã gục ngã từng đoàn từng lũ, bên bờ ao bờ ruộng, trên những con đường đi lên tỉnh, đi lên Hà Nội. Họ đã chết co quắp từng đống trên vỉa hè Hà nội. Họ đã chết như rạ ở thôn quê. Họ đã chết như ruồi ở Hà Nội. Họ đã chết tức tưởi, trong cô đơn lạnh lẽo không ai đoái hoài, thương tiếc, để sáng ra được sở Vệ Sinh đô thành đến nhặt xác vứt lên những cái xe bò mang đi chôn, không tên tuổi, không kèn trống không thân nhân, không mỗt tiếng khóc, không một lời tiễn đưa.

Nhiều gia đình ở Hà nội tương đối khá giả, khi sáng mở cửa ra đường , đã thấy xác người chết nằm co quắp trước của nhà mình. Hình ảnh những cái xe bò trên đó những xác chết đen đủi, nằm chồng chất lên nhau, với những cánh tay cẳng chân gầy như que củi thò ra ngoài xe, những cái đầu trọc không còn tóc, lắc lư theo nhịp của chiếc xe bò lăn trên đường phố Hà Nội đã là một nỗi tủi nhục lớn lao cho một dân tộc từng xuất cảng lúa gạo ra nước ngoài, mà nay người dân phải chết vì đói do quân Nhật gây ra.

Xe bò đi nhặt xác người chết

Xe bò đi nhặt xác người chết

Trong thời gian này tôi đang ở làng Yên, Bắc Ninh với gia đình Bác tôi. Tôi đã thấy những đám táng sơ sài vội vã của làng xóm chôn cất những gia đình chết vì đói. Trong gia đình Bác tôi, gạo được hạn chế để cầm cự cho đến mùa gặt tới. Mới đầu sự hạn chế chỉ được thể hiện ở việc trộn thêm khoai lang, ngô và củ sắn vào gạo để nấu cơm. Mỗi ngày có đủ ba bữa, ăn được no. Sau đó chỉ còn hai bữa:  sáng và chiều mà thôi. Sau cùng gạo dự trữ chẳng còn bao, ngô và khoai đã hết, trong vườn chỉ còn rau cải, rau tần ô, nên mỗi ngày chỉ còn một bữa, trong đó gạo được nấu thành cháo, lẫn với rau cải, rau tần ô để ăn cho đỡ đói. Ăn kiểu này chỉ được no bụng sau bữa ăn. Nhưng sau đó, nhất là về đêm, bụng đói cồn cào vô tả và luôn luôn phải đi tiểu tiện vì cháo rau được bài tiết thành nước tiểu rất nhiều và rất nhanh, để lại cái dạ dầy lép kẹp.

Nạn đói này, may thay không kéo dài lâu lắm. Mấy tháng sau gạo trong Nam được chở ra, gọi là gạo Sài gòn. Gạo Sài gòn trắng tinh như đường cát, vì được xay bằng máy, chà xát đi hết cám gạo, mà cám lại là nguồn cung cấp vitamin C. Nhiều người ăn gạo này một thời gian đã mắc phải bệnh “Beri-Beri”, mặt mũi vàng ủng, chân tay phù phũng, đầu tóc rụng hết.

Một trong người họ xa của Thầy tôi mắc chứng này đã từ Bắc Ninh lên Hà Nội đến nhà tôi để xin chữa trị. Tôi không biết làm sao ông ta có thể đến nhà tôi được, vì khi vào đến nhà tôi ông ta như đã bị bại liệt hoàn toàn, hai ống chân sưng vù lên như chân voi, lấy ngón tay ấn vào thịt, thịt không trở lại bình thường, bụng phình to tướng, mặt mày vàng ủng, xưng húp, ngồi bẹp một chỗ không đứng dậy được nữa.

Những Luồng Gió Mới

Tướng Chennault đứng trước một Flying Tiger

Tướng Chennault đứng trước một Flying Tiger

Cuối năm 1944 cục diện thế giới đã thay đổi. Bên trời Âu, quân Đức Quốc Xã đã bị cầm chân hay đánh bại trên khắp các mặt trận. Bên Á Châu quân đội Nhật đang bị nguy khốn, phải rút lui ở nhiều mặt trận, đường tiếp tế bị cắt đứt. Người Pháp ở Đông Dương, mặc dầu theo chính phủ Pétain ở Vichy cũng đã thấy gió đã đổi chiều. Họ thấy không cần phải sợ hãi hay nhân nhượng quân đội Nhật mãi. Chính phủ Pháp ở Đông Dương bắt đầu cưỡng lại những đòi hỏi của Nhật. Các phong trào cách mạng Việt Nam, dưới sự khuyến khích của Đồng Minh, nhất là Trung Hoa Dân Quốc, chính phủ của ông Tưởng Giới Thạch ở Quảng Đông, Quảng Tây; và của Hoa Kỳ (tướng Chennault với đoàn Flying Tigers và OSS tại Hoa Nam) cũng khởi phát một phong trào chống Nhật và chống Pháp, đòi độc lập cho nước nhà.

Đảng cách mạng hoạt động mạnh nhất và có ảnh hưởng đến dân chúng nhiều nhất là đảng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh, với nòng cốt là Đảng Cộng Sản Đông Dương của ông Hồ Chí Minh. Người Nhật đã phản ứng lại và phản ứng rất mạnh tay. Cơ quan Kempetai, tức là Sở An Ninh Quân Đội đồng thời cũng là cơ quan phản gián của quân đội Nhật đã ra tay với những hành động cùng hung cực ác, bắt giết nhiều người Việt Nam mà họ nghi là có ý chống đối người Nhật.

Một buổi sáng, hôm ấy là ngày mồng 9 tháng 3, năm 1945, khi tôi tỉnh dậy chuẩn bị đi học, Bác tôi đã bảo anh Tố – ông anh họ, con Bác tôi – và tôi rằng: “Đêm hôm qua đã có một chuyện gì quan trọng xẩy ra vì có tiếng súng nổ nhiều lắm. Các con đi học phải hết sức cẩn thận”. Chúng tôi đi học mà trong lòng rất lo lắng. Khi xuống gần đến Tĩnh lỵ tôi mới thấy có sự khác thường. Binh lính Nhật, mặc quần áo dã chiến, võ khí đầy mình, đã đứng canh gác ở một số đầu đường và một số công thự, rất nhiều. Lai có một số xe thiết giáp hỗ trợ đậu gần đó. Không khí có một vẻ nghiêm trọng khác thường. Khi đến trường, sự khác thường càng rõ rệt hơn, vì tất cả học trò cũng như Thầy giao đều lao xao nhớn nhác. Không thấy ông Hiệu trưởng người Pháp đâu.

Tôi được biết là đêm hôm qua quân Nhật đã đánh úp quân đội Pháp. Sự kháng cự rất yếu ớt vì chẳng mấy chốc Pháp đã đầu hàng quân Nhật. Các nhân viên chính quyền người Pháp cũng như các kiều dân, trong số đó có lẽ có ông Hiệu trưởng Collège de Bắc Ninh, đã bị chúng bắt, giam lỏng ở một nơi nào đó. Hôm đó học trò được nghỉ học cho về nhà

Ngày mồng 9 tháng 3, 1945 đã mở một trang sử mới cho nước ta. Người Nhật đã gạt bỏ chính quyền Pháp ở Việt Nam đi – cuộc đảo chính đêm hôm đó đã xẩy ra trên toàn quốc – vì là một trở ngại cho nỗ lực chiến tranh của họ. Họ đã trao trả nền độc lập của xứ sở, ít ra là trên hình thức, cho người Việt Nam, cho vua Bảo Đại, ông vua cuối cùng của nhà Nguyễn. Ông Trần trọng Kim một nhà trí thức, một sử gia có tiếng thời đó đã được quân Nhật mời ra giử chức Thủ Tướng để lập một chánh phủ lâm thời và tổ chức guồng máy hành chánh trong nước thay thế người Pháp.

Nhiều luồng gió mới thổi vào và Lịch sử đã sang trang.

_______________________________________________________

(1) Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, (sinh 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang  – mất 6 tháng 5, 2010 tại Hà Nội), là một nhà thơ Việt Nam. Quê gốc của Hoàng Cầm ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.  Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc Bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm. Tháng 8 năm 1947, ông tham gia Vệ Quốc quân ở chiến khu 12. Cuối năm đó, ông thành lập đội Tuyên truyền văn nghệ, đội văn công quân đội đầu tiên. Năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị.
Tháng 4 năm 1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, và được bầu vào Ban chấp hành. Tuy nhiên, không lâu sau, do vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm“, ông phải rút khỏi Hội nhà văn vào năm 1958 và về hưu non năm 1970 lúc 48 tuổi. Bài thơ Bên kia sông Đuống được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông.
(2) Lưu Hữu Phước (1921-1989) Ông sinh ngày 12 tháng 9 năm 1921 tại Ô Môn, tỉnh Hậu Giang (nay là thành phố Cần Thơ). Thuở nhỏ được cha cho học đàn kìm, về sau có chơi cả mandoline, guitare và tự học lý thuyết âm nhạc. Khoảng cuối thập niên 1930, ông lên Sài gòn học tại trường Petrus Ký. Trong thời gian này, ông kết thân với Huỳnh Văn Tiếng, Mai Văn Bộ, làm thành bộ 3 Huỳnh – Mai – Lưu, thành lập Câu lạc bộ Học sinh (Scholar Club) ở trường trung học Petrus Ký… là đầu mối hội tụ những học sinh, sinh viên yêu nước. Sau khi đỗ tú tài, Lưu Hữu Phước ra Hà Nội học trường Y – Dược, thuộc Viện Đại Học Đông Dương (1940-1944). Ông mất ngày 12 tháng 6 năm 1989 tại thành phố Hồ Chí Minh.
_____________________________________________________
                                                                                                                   Tháng 1, 2014
 

4 responses to “Trưởng Thành trong Mùa Chinh Chiến

  1. Ông này nhớ mấy bài xưa ghê. Lần đầu tiên tôi biết toàn bộ bài Shina no yoru, và là một bài hát về hải quân nhật.

    Về việc dùng thóc đốt thay than thì ở Bắc kỳ không có đâu, vì sẵn than ở quảng yên, hòn gai, ai lại ngu mà đem lúa dùng thay, kém hiệu năng. Nghe chuyện kể ở trong Nam kỳ thì hơi có lý hơn, vì trong Nam không có than đá chạy máy tầu

    Chuyện chặt cụt tay vì ăn trộm, mổ bụng ngựa chết vì ăn phải cám trộn cát, nhét người bán cám vào đem chôn ở Gia Lâm, lúc đó thuộc Bắc Ninh, giờ là Hà Nội( tác giả nhớ nhầm là bị mổ bụng vì ăn trộm ngựa, hoặc cũng có thể là một phiên bản khác của câu chuyễn này) chỉ là những chuyện nghe kể lại ở khắp nơi, khắp chốn,tôi đã đi nhiều nơi, nhiều tỉnh, mà không gặp một ai tận mắt thấy cả.

    Cũng là lần đầu tiên, tôi được thấy một người được trực tiếp biết và kể chi tiết việc Nhật thu mua thóc của bà ngoại của ông. Việc trồng đay có lẽ không phải để may quần áo, mà chủ yếu là lưới ngụy trang cho các xe cộ, chiến cụ, vì tôi có biết gia đình thầu đan lưới này, còn vải là vải dệt bằng sợi gai, là loại vải lin của Pháp và nhuộm đen, không nhuộm mầu ngụy trang.

    Gạo Sài gòn chở ra là do “đoàn thanh niên cứu đói” do ô. bộ trưởng thanh niên chính phủ Trần trọng Kim thành lập, chở ra có đoạn bằng tầu hỏa, có đoạn bằng xe bò vì đường xe lửa bị Mỹ ném bom phá hoại, kết quả không cao lắm. vụ này những nhà thầu cho mượn kho chứa tạm lời lắm, vì cứ chuyển từ kho này sang kho khác là họ ăn % hao hụt.

    Viẹc ô. Trần trọng Kim có phải do người Nhật giới thiệu với h.đ Bảo Đại hay không, không biết có tài liệu xác thực không?

  2. Đính chình
    :”trộn cám với trấu”, không phải là “…với cát”

    • I also have seen people dying of famine along the road from my village to Nam Đinh. I have not seen the Japanese killing our people, but they did rape women in the village next to my village. But the way they killed the Chinese people in Nanking is horrible.
      Ta Nguyen.

  3. Cám ơn hai bạn độc giả Toi-la-ai và Ta Nguyen đã bỏ công và thì giờ vào thăm Vườn Đào.
    Về chuyện quân đội Nhật đôi xử tàn ác với một số người Việt Nam, đúng như bạn độc giả Toi-la-ai nói, tôi cũng chỉ nghe người khác kể lại thôi, không trực tiếp trông thấy.

    Bài hát “Đêm Trung Hoa” Shina no yoru là một bài hát rất phổ thông thời đó. Bài này không phải là bài Thủy Quân Hành Khúc Nhật Bản.

    Đọc giả nào hứng thú muốn nghe bài hát “Đêm Trung Hoa” Shina no yoru, xin click vào đây http://www.youtube.com/watch?v=63mZal2YNO0

    Còn bài Thủy Quân Hành Khúc Nhật Bản chúng tôi đã ghi lại trong bài viết dưới địa chỉ:

    Đào Viên

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s