Vài Nét Sinh Hoạt tại một Thiền viện


                                                           Chư ác mạc tác,
                                                   Chúng thiện phụng hành,
                                                              Tự tịnh kỳ ý,
                                                         Thị chư Phật giáo

Đào Viên

  1. Đến Chùa

Khi lái xe vào sân chùa, nhìn đồng hồ trên xe, Việt thấy đã 7 giờ 45. Việt thấy đã có nhiều ni sư đang quét sân. Mọi người thấy anh đến, đều chào bằng hai tiếng : “Mô Phật!”.

Đây là một chùa sư nữ, nói đúng hơn là một thiền viện trong đó người tu toàn là đàn bà, già có, trẻ có. Ở vùng Nam California có rất nhiều chùa lập nên từ khi người Việt tỵ nạn đến đây. Nhiều nhất là tại hai thành phố Garden Grove và Westminster. Chùa theo Tịnh độ tông mọc lên rất nhiều, nhưng Thiền viện theo Thiền tông thì rất hiếm, nhất là Thiền viện của nữ tu sĩ lại càng hiếm hơn.

Bởi vậy mổi sáng Chủ nhật, Việt phải dậy sớm, ra khỏi nhà trước 7 giờ sáng – về mùa Đông, trời còn mờ tối – phải chạy xe trên 3 xa lộ, rồi chạy xe 45 phút trong đường phố mới tới Thiền viện.

Từ những năm (19)80 khi Việt tới Garden Grove, vợ chồng anh cũng theo bà mẹ đến chùa, vì bà cụ là một Phật tử thuần thành ngay từ khi còn ở Việt Nam. Có thể vì không có duyên lành, hoặc thấy không hợp trong cách tụng kinh niệm Phật, nên gia đình anh không theo hẳn một chùa nào.

Anh thấy có chùa trông đã khá lớn xây cất khá đẹp, nhưng vị sư trụ trì giảng pháp thì ít mà chỉ nói đến chuyện “gây quỹ”, tổ chức “đại nhạc hội” để tăng vẻ mỹ quan bên ngoài cho chùa. Có chùa có đông Phật tử lẫn sư sãi nhưng trong khi nói chuyện anh thấy các Thầy cũng như Phật tử đến chùa, thảo luận nhiều về tình hình xã hội và chính trị bên nhà, có xu hướng làm chính trị. Có chùa ra báo nguyệt san nhờ anh cung cấp bài vở nhưng bị trả lại để sửa chữa vì không hợp ý thầy. Ý thầy nhiều khi không hẳn chỉ nằm trong phạm vi giáo lý nhà Phật, đôi khi còn lấn sang giáo lý một tôn giáo khác, như muốn tôn vinh Phật giáo nhà. Việt không cho đó là việc nên làm, thấy vậy, anh phải bỏ thầy mà tìm một chùa khác. Lại có một ngôi chùa khá lớn gia đình anh hay đến lễ Phật. Một hôm anh thấy có nhiều người, dẫn đầu bởi một ông Thầy, đến chùa lớn tiếng đòi chất vấn thầy trụ trì. Hỏi ra anh mới biết là trong chủa có hai thầy còn trẻ mới ở Việt Nam sang, được thầy trụ trì cho tá túc. Nhóm người mới đến cho là hai thầy trẻ đó không phải là những nhà tu hành đích thực.

Một Thiền viện dòng Trúc Lâm Yên Tử

Một Thiền viện dòng Trúc Lâm Yên Tử

Mãi về sau, có người giới thiệu, gia đình Việt mới biết đến Thiền viện này, một thiền viện theo dòng Trúc Lâm Yên Tử của Hòa Thượng Thích Thanh Từ ở Đà Lạt.

Thiền sư Phillip Kapleau

Thiền sư Phillip Kapleau

Ở vùng này thực ra còn có một thiền viện ni khác nữa. Việt đã vào thăm tự viện này mới biết chùa được quản trị bởi ba vị ni sư người Việt, tuy đã đứng tuổi nhưng nói tiếng Anh rất thạo. Ba vị này là đệ tử của thiền sư người Hoa Kỳ, tên là Philip Kapleau, người đã sáng lập một Trung Tâm Thiền học ở thành phố Rochester, tiểu bang New York. Thiền sư Philip Kapleau(1) đã học thiền – thiền Tổ Sư – bên Nhật với lão sư Bạch Vân (Hakuun Roshi). Phong cách tu tập thiền Tổ Sư ờ Thiền viện này rất xa lạ với  nghi lễ cũng như tụng kinh niệm Phật ở các chùa của người Việt. Gia đình Việt thấy không thích hợp nên mới đến với Thiền viện của Hòa Thượng Thích Thanh Từ

Hòa Thượng Thanh Từ có nhiều Thiền viện tại Hoa Kỳ. Những thiền viện này là do đồng bào Phật tử  địa phương cùng nhau đóng góp mà gầy dựng nên. Sau khi thấy chùa đã vững vàng về mặt tài chánh, đồng bào Phật tử mới cúng dường cơ sở cho Thầy Thanh Từ để lập thành một Thiền viện chánh thức của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, và bổ nhiệm những tăng ni từ Việt Nam sang quản lý và điều hành Phật sự tại thiền viện.

Thiền viện Quang Chiếu, Texas

Thiền viện Quang Chiếu, Texas

Khi gia đình Việt đến tu tập tại thiền viện này, một chuyện rất bất thường đã xẩy ra. Số là năm 2000, Phật tử tại Houston Texas đã xây song một tự viện được thầy Thanh Từ đặt tên là Quang Chiếu. Thầy Thanh Từ đã từ Việt Nam sang Texas để khánh thành tự viện mới này.  Năm 2000 cũng là năm mà tại Việt Nam chính quyền đã tập trung được các tông phái, hệ phái Phật giáo vào một tổ chức duy nhất được nhà nước công nhận, gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam(2), nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc. Giáo hội này, bề ngoài là một Giáo Hội Phật giáo, nhưng bề trong, Hội đồng Trị Sự cũng như Hội đồng Chứng Minh đã bị chính quyền khuynh loát mọi hoạt động. Một thí dụ điển hình: tông chỉ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam không còn là “Bi, Trí, Dũng” nữa mà được đổi thành  “Đạo Pháp, Dân Tộc và Chủ Nghĩa Xã hội”. Chính quyền đã chính trị hóa Phật giáo Việt Nam. Vì vậy Giáo Hội Phật Giáo này thường được người Việt hải ngoại gọi là “Phật Giáo Quốc Doanh”.

 Khi thấy có một vị Hòa Thượng, đạo cao chức trọng, lại có “visa” để sang Hoa Kỳ, nhiều người Việt tỵ nạn nghĩ ngay đó phải là một “sư quốc doanh”. Một đoàn phóng viên, nhà báo, lãnh đạo bởi một phóng viên kiêm ca sĩ nổi tiếng đã sang Texas tìm cách cản trở Hòa Thượng vào Thiền viện để khánh thành. Mỗi ngày, mỗi giờ, trên đài phát thanh đều có bài phóng sự về “sư quốc doanh” sang Hoa kỳ.

Ít lâu sau, thầy Thanh Từ mới tới California. Nghe Hoa Thượng kể lại chuyện khá tức cười trên mọi người mới hiểu ra là quả có một vị “sư quốc doanh” thật, một cán bộ của Đảng Cộng Sản, đóng vai chủ chốt trong Giáo Hột Phật Giáo Việt Nam, có tên gần giống như Hoà Thượng Trúc Lâm, một bên là Thanh Từ -dấu huyền – một bên là Thanh Tứ(3) – dấu sắc. Đoàn phóng viên đã nhầm tên hai người.

Nhân dịp Hoà Thượng Thanh Từ có mặt tại California, Việt và nhiều người khác đã xin quy y với Hòa Thượng. Mỗi người được Thầy cho một pháp danh và một phái quy y để treo ở nhà. Từ ngày ấy, anh đã theo hẳn Thiền viện này, mặc dầu

Hòa Thượng Thanh Từ

Hòa Thượng Thanh Từ

thiền viện đã di chuyển đến một nơi rất xa nhà Việt.

Khi Việt đến Thiền viện lúc 7 giờ 45 thì biết là đã đến không trễ, vì chương trình khóa tu mỗi ngày Chủ Nhật cho Phật tử là:

–          8:00 am đến 9:10 am: Thiền tọa
–          9:30 am đến 10:15 am: Sám Hối và tụng Tam Quy Ngũ Giới
–          10:30 am đến 11:30 am: Giảng Pháp
–          11:30 am đến 12:30 am: Thọ Trai theo nghi thức Quá Đường.

2. Thiền tọa

Vào đến thiền đường, cũng là Chánh điện của chùa, Việt thấy mọi người hầu như đã có mặt đông đủ. Đúng 8 giờ, ba ni sư rung chuông để mọi người lễ Phật rồi buổi thiền tọa bắt đầu. Hôm nay số người tập thiền tọa là mười một người, kể cả Việt. Tất cả là phái nữ, trừ Việt. Mỗi người ngồi trên một cái bồ đoàn, đặt trên một tấm nệm mỏng trên sàn nhà, xoay mặt vào vách.

Sau khi thấy đại chúng đã yên vị, một ni sư làm quản chúng bèn hô thiền. Bài hô thiền này, Việt được nghe nhiều lần, nên cũng dễ thuộc:

             Phật tử trang nghiêm ngồi tịnh tu
            Tinh thần tịch chiếu đồng thái hư
            Muôn kiếp đến nay chẳng sanh diệt
            Đâu cần sanh diệt, diệt gì ư?
            Gẫm xem các pháp đều như huyễn
            Bổn tánh tự không đây dụng trừ!
            Nếu biết tâm tánh không tướng mạo
            Lặng yên chẳng động tự như như.
 
Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật 3 lần, mỗi lần đánh một tiếng chuông, đại chúng niệm theo.

Tại thiền viện, Phật tử chỉ tập tọa thiền một lần, mỗi lần một tiếng đồng hồ. Việt biết thường ngày, các ni sư phải ngồi thiền hai lần, sáng sớm, và tối, mỗi lần một tiếng rưỡi. Tại các thiền viện Trúc Lâm Yên Tử trong nước, người tu phải ngồi thiền ba thời một ngày, mỗi thời hai tiếng.

Dòng Thiền Trúc Lâm chủ trương Thiền Giáo song tu, nghĩa là vừa học Thiền tọa vừa học Giáo lý, cho nên học Thiền tọa không khắt khe như những dòng Thiền chuyên tu. Bên Nhật, dòng Thiền Lâm Tế (5) chẳng hạn, những ai muốn vào thiền tự để tu Thiền, phải khó khăn lắm mới được vào và đời sống trong tu viện rất kham khổ.

Tập Tọa Thiền tại chùa

Tập Tọa Thiền tại chùa

Trong chùa, Việt cũng như mọi Phật tử đều biết là thiền tọa rất tốt cho sức khỏe cũng như cho tinh thần. Chỉ cần tập trung tinh thần vào một chuyện, như theo rõi hơi thở, bỏ ra ngoài mọi ý nghĩ ngoại lai, gọi là vọng, khi biết vọng khởi lên thì phải trở lại theo rõi hơi thở, không theo vọng niệm. Dần dà vọng niệm bớt dần. Tâm thức tịnh dần. Tinh thần trở nên sảng khoái, dễ chịu. Đối với những người sơ cơ mới tập thiền tọa như Việt – gọi là Thiền Phàm phu –  tập thiền tọa như vậy là đủ. Việt không có kỳ vọng tọa Thiền để đạt được những cảnh giới thật an tịnh – Thiền Đại thừa hay Thiền Tối thượng thừa – tiến tới một chứng ngộ nào đó, như một thiền sư chân chính.

Một tiếng đồng hồ trôi qua, vị ni sư quản chúng lắc chuông, mọi người xả thiền.

Xả thiền song, mọi người nghiêm chỉnh đứng trước Phật đài tụng bài Bát nhã Ba La Mật Đa Tâm kinh, rồi tụng bài hồi hướng công đức đến cho mọi người.

 “Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sinh,
Đều trọn thành Phật đạo”

Phật giáo có một khái niệm rất đặc thù, xa lạ với các tôn giáo khác. Đó là khái niệm về “Công Đức và “Hồi hướng”. Công đức là gì? Việt hiểu “Công” là công năng (potentiel) làm tăng trưởng phúc lợi (benefits), khi mình điều gì có ích lợi cho người khác; “Đức” là đức độ của người tu các hạnh lành. Như vậy, khi chúng ta làm những điều tốt lành phát xuất từ thiện tâm, sẽ phát sinh công đức. Công đức, nói một cách dễ hiểu như là một dạng năng lượng (energy) phát sinh trong khi thực hành những điều thiện, tu tập, tạo phước. Năng lượng này nếu đủ mạnh sẽ chuyển hóa những hoàn cảnh bất an, khổ đau để hình thành nên một thực tại tốt đẹp hơn. Đồng thời, người tu tạo công đức có thể gữi năng lượng bình an và phước đức đó đến với những người khác. Hồi hướng công đức chính là gửi hay hướng những công đức mình tạo ra đến người khác, mong cho người nhận được tốt lành.

Một điều đặc thù nữa là khi mình chia hay gửi những công đức mình đã tạo ra cho người khác, “công đức đó không mất đi”. Người hồi hướng công đức – một dạng năng lượng – cũng như người được hồi hướng vẫn hưởng những công đức tạo ra. Để làm sáng tỏ quan niệm “hồi hướng công đức” nhiều sách vở Phật giáo nói đến một thí dụ: Một người cầm một cây nến, hay đèn cầy, đã thắp sáng. Người ấy dùng cây nến của mình để thắp sáng một cây nến của người khác. Lửa hay ánh sáng trên cây nến đầu không mất đi. Cuối cùng cả hai cây nến cùng thắp sáng cả gian phòng. Đó là hình ảnh rất hay của “hồi hướng công đức” vậy.

3. Sám Hối và Tam quy Ngũ Giới.

Việt đang đứng ngoài sân chùa – thiền viện này rất nhỏ hẹp, chỉ có chánh điện còn tương đối lớn hơn – thì đã nghe thấy vị ni sư tri khách gọi qua máy phát âm: “Nam mô Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni. Bây giờ đã sắp đến giờ Sám Hối và tụng Tam Quy Ngũ Giới. Chúng tôi xin mời tất cả quý Phật tử vân tập vào chánh điện để chuẩn bị và chỉnh đốn vị trí của mình. Nam Mô Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni”

 Vào chánh điện, anh thấy Phật tử đã đến rất đông. Khác với giờ tập Thiền tọa, những Phật tử đến chùa coi trọng nghi thức Sám hối nên đến đông hơn, ít ra phải trên bốn chục người. Tuy phái nữ vẫn nhiều hơn phái nam, nhưng Việt đếm ra thấy cũng phải trên mười vị nam Phật tử, đứng sát tường về một bên. Đại đa số là những vị trung niên, tuổi từ bốn mươi đến sáu, bẩy mươi tuổi. Việt để ý thấy có hai cụ phải trên tám mươi mà vẫn đến chùa đều đặn. Thỉnh thoảng mới có vài ba cô cậu thanh niên, hay trẻ em đến chùa. Việt đã tìm cách nói chuyện với họ mà thấy hơi khó khăn. Tiếng Việt của thanh niên đến chùa rất giới hạn. Họ đến chùa không phải vì chính họ muốn học Phật mà vì có người nhà lôi kéo đến.

Việt nghĩ đến tương lai của những tự viện như thiền viện này. Mười lăm, hai mươi năn nữa chùa sẽ ra sao khi lớp người Phật tử gìà không đến chùa được nữa?

Đúng 9giờ 30, các ni sư đắp y mầu vàng đất, xếp hàng theo thứ tự thứ bậc trong chùa – đi đầu là ni sư trụ trì, rồi đến ni sư giáo thọ, những vị tỳ kheo ni, sau cùng là những sa di ni –  bước vào chánh điện để làm lễ. Thiền viện này rất nhỏ, là một tư gia có bốn phòng ngủ, nhưng được sửa chữa lại: cái “patio” được nới rộng để làm chánh điện, cái “garage” cho xe hơi được ngăn ra vừa làm một phòng ngủ nhỏ, vừa làm một phòng đựng “băng, sách” cho Phật tử đến thỉnh mang về.

Việt thấy trong những ngày chủ nhật thông thường như hôm nay, số ni sư ra làm lễ đã có tới 13, 14 vị. Làm sao họ có thể trú ngụ ở một nhà 4 phòng ngủ, tối đa là 5 phòng ngủ được? Hỏi ra anh mới biết là trừ 8 vị ni sư lớn là thường trú nhân, những người khác phải thay phiên nhau để đến và ngủ tại chùa ba ngày một tuần. Những ngày khác phải về nhà riêng ngoài chùa.

Phật tử được phát một tập sách nhỏ ghi những bản kinh, những câu chú nguyện để tụng theo các ni sư. Buổi lễ này là lễ chính trong ngày, gồm có:

–          Dâng hương, Tán phật, Tán Pháp
–          Tụng Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
–          Lễ Phật và Tổ
–          Sám hối
–          Tụng Tam quy Ngũ giới
–          Hồi hướng

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là bài kinh Phật căn bản của Phật giáo, nhất là Thiền Tông. Bài kinh khai triển một quan niệm rất trừu tượng của giáo lý Phật giáo: đó là “Tánh Không của vạn Pháp”. Chữ Pháp của nhà Phật phải được hiểu là tất cả những sự, những vật, vật chất, tinh thân, trong ta, ngoài ta cho đến những ý nghĩ trong đầu con người. Riêng về con người, nhà Phật định nghĩa là tổng hợp của năm yếu tố, gọi là năm Uẩn: Sắc (vật chất, sáu giác quan), Thọ (các cảm giác), Tưởng (nhận biết), Hành (hoạt động tâm lý) và Thức (sáu dạng ý thức liên quan tới sáu giác quan).

Quan niệm “Tánh Không cũa vạn Pháp” dựa trên một nguyên lý chánh yếu là “Duyên Hợp”. Nguyên lý này cho rằng tất cả mọi Pháp là tướng “duyên hợp”, nghĩa là:
– do duyên hợp mà thành
– tự nó không có tự tánh, không có thật thể.
– là không “thật” chỉ có giả danh
– vì là giả danh nên nó không phải THẬT CÓ cũng không phải THẬT KHÔNG.

-Tất cả hiện tượng do đa hợp đều vô thường- Tất cả hìện tượng đều trống không và thiếu vắng sự hiện hữu độc lập

Từ nguyên lý trên, chữ “KHÔNG” trong cụm từ “Tánh Không” không có nghĩa là trống rỗng (vide, hay emptyness) hay không là cái gì cả (rien, hay nothing).
Chữ “KHÔNG” trong Tánh Không hàm ý là: không phải thật Không, không phải thật Có. Mọi Pháp do duyên hợp, không có thật thể, không có tự tánh, còn được gọi là “vô ngã”, “vô tướng”. Trong kinh Kim Cang có câu: “Phàm sở hữu tướng , giai thị hư vọng” là để chỉ điều này.

Thầy Thích Nhất Hạnh

Thầy Thích Nhất Hạnh

Thầy Nhất Hạnh, năm 2005, đã được Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh tại Hà Nội với sự cộng tác của Trung Tâm Khoa Học về Tín Ngưỡng và Tôn Giáo, mời đến để thuyết giảng về tuệ giác đạo Phật. Thầy đã nói tới Bồ Tát Quán Thế Âm với thuyết Chân Không và con mắt Vô Tướng. Xin xem bài viết ← Duy Tâm và Duy Vật.

Thầy nói:

“Ở trong đạo Phật, vô tướng là một cánh cửa giải thoát. Ba cánh cửa giải thoát là tam giải thoát môn. Cánh cửa giải thoát thứ nhất là Không, cánh cửa thứ hai là Vô tướng, cánh cửa thứ ba là Vô tác.

Từ quan niệm “Tánh Không của vạn Pháp” đưa đến một quan niệm khác sâu xa hơn là quan niệm : “Nhất Nguyên” khác hẳn với quan niệm “Nhị Nguyên” (duality, có/không, ngày/đêm, trắng/đen…) thường thấy trong đời thường. Nhất nguyên (non-dual) là một quan niệm siệu việt, vượt trên mọi lý luận, chỉ có thể cảm nhận bằng trí huệ, nhà Thiền gọi là trí huệ Bát Nhã. Thiền tọa chính là phương tiện thiện xảo để phát triển Trí Huệ.

Việt được ni sư trụ trì giảng là  Phãt tử đến chùa tu tập nên theo cách: thứ nhất, làm công quả, giúp dỡ tha nhân, để tạo “phước”, đồng thời giữ mình được thanh tịnh để có “đức”; thứ hai, Thiền tọa để phát triển “trí huệ”.  Tuy không bắt buộc, nhưng người Phật tữ, tùy hoàn cảnh, nghiệp duyên, làm được cả hai điều trên thì vẫn tốt hơn.

Nguyên ủy của kinh Bát Nhã là từ một chuyện viết trong những bài giảng kinh như sau:

Đức Thế tôn đang ngự tại đỉnh Linh Thứu cùng với chư tăng và bồ tát đoàn và vào lúc ấy Đức Thế Tôn  bắr đầu thâm nhập thiền định. Cùng vào lúc ấy Đức Quan Thế Âm Bồ tát đã ngộ rằng ngay cả ngũ uẩn cũng không có bản chất hiện hữu độc lập. Ngay sau đó bắt nguồn từ niềm cảm ứng từ Đức Thế Tôn, tôn giả Xá Lợi Phất (Shariputra) thưa với Đức Quan Thế Âm: “Thiện nam Tử hay Thiện tín nữ phài hành trì như thế nào nếu muốn ưóc vọng tu luyện trí tuệ viên mãn uyên thâm”. Đức Quan Thế Âm trả lời: “Họ phải nhìn thấy rõ điều này. Họ cần quán triệt điều này: Ngay cả ngũ uẩn cũng không có bản chất hiện hữu độc lập. Hình tướng tức là Không. Không tức là hình tướng. Không chẳng qua cũng là hình tướng. Hình tướng cũng chẳng qua là Không. Cũng như vậy, cảm nhận, tâm tưởng suy nghị, ý thức tất cả đều là Không. Vì thế Xá Lợi Phất, vạn pháp đều là chân không, chúng không có đặc tính xác định, chúng không sanh không diệt, không bần không sạch, không thiếu mà cũng không dư…”

Ngay lúc đó đức Thế tôn vừa ra khỏi trạng thái thâm nhập thiền định, liền cất tiếng khen ngơi Đức Quan Thế Âm: “Lành thay! Lành thay! Đúng như vậy. Quả thực đúng như vậy. Hành giả phải tu luyện trí tuệ viên mãn đúng như lời con bộc lộ”

Sang phần Lễ Phật và Tổ, Việt thấy trong thiền viện này mọi người đảnh lễ đích danh ba vị Phật (quá khứ Phật Tỳ Bà Ni, hiện tại Phật Thích Ca Mâu Ni và vị lai giáng sanh Phật Di Lặc Tôn) và  tám vị Tổ là Ma Ha Ca Diếp, A Nan, Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Khả, Huệ Năng, Trúc Lâm Đại Đầu Đà, Pháp Loa và Huyền Quang, mà không nói tới các vị Bồ Tát như tại các chùa Tịnh độ.

Riêng ngài Ma Ha Ca Diếp được coi là Sơ tổ của Thiền Tông. Sách Phật giải thích nguyên ủy của Thiền tông như sau:

Một hôm, trên núi Linh Thứu trước mặt đông đảo đại chúng, Đức Phật không tuyên thuyết pháp thoại như mọi ngày, mà lặng lẽ đưa lên một cành hoa. Đại chúng ngơ ngác chẳng ai hiểu gì, duy chỉ có đại trưởng lão Ma-ha Ca-diếp (Mahākāśyapa) mỉm cười. Đức Phật liền tuyên bố với các thầy tì kheo: “Ta có chánh pháp vô thượng trao cho Ma-ha Ca-Diếp. Ca-Diếp là chỗ nương tựa lớn cho các thầy tỳ kheo, cũng như Như Lai là chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh

Giai thoại này, được gọi là “Niêm hoa vi tiếu”, nói lên đặc điểm của Thiền tông:

            Giáo ngoai biệt truyền
            Bất lập văn tự
            Trực chỉ nhân tâm
            Kiến tánh thành Phật.
Niêm Hoa Vi Tiếu

Niêm Hoa Vi Tiếu

Trong các thiến viện, hay ít ra là trong các thiền viện Trúc Lâm Yên Tử của thầy Thanh Từ, tượng Đức Phật trong chánh điện đều có tay phải cầm một bông sen giơ lên.

Sám hối là phần chính của buổi lễ. Trong những Chủ nhật thường, ở thiền viện này, người ta dùng bài Sám hối Văn. Chỉ những dịp có trọng lễ chùa mới đọc bài Sám hối Sáu Căn. Còn Sám Hối Hồng Danh, Việt chưa bao giờ thấy thiền viện này dùng đến.

Trong Phật giáo, Sám hối được coi là tự nguyện. Người Phật tử đều hiểu là trong cuộc sống thường nhật  ai cũng phạm lỗi lầm, trong hành động (thân), qua lời nói (khẩu), ngay cả trong ý nghĩ (ý). Tất cả đều từ trong Tâm mà ra. Nếu người Phật tử thành tâm Sám hối thì những lỗi làm đó sẽ bị triệt tiêu(4).

Tánh tội vốn không do tâm tạo
Tâm nếu diệt rồi tội sạch trong
Tội trong tâm diệt cả đều không
Thế ấy mới là chân Sám hối
 
Nam mô cầu Sám hối Bồ Tát (đồng tụng ba lần)
 

Việt nhận thấy tại chùa theo Thiền tông như chùa này, không có nghi lễ riêng cho cúng sao giải hạn, cầu an, cầu siêu cho thí chủ như tại những chùa theo Tịnh độ tông. Ở đây, mọi người dùng công đức tu hành, công đức Sám hối của ni chúng và Phật tử đại chúng, hồi hướng cho những  người đã mất (cầu siêu) và những người đau yếu (cầu an).

4. Giảng Pháp

 Phần thứ ba của khóa tu Chủ nhật là phần được mọi Phật tử chú ý nhất. Thông thường người đứng ra giảng pháp là vị ni sư giáo thọ. Chỉ những vị được Hòa Thượng Trúc Lâm công nhận là Giáo thọ mới được quyền giảng pháp. Những vị này – cũng như vị ni sư trụ trì – là được Hòa Thượng Trúc Lâm cử sang. Bài giảng được dựa trên những kinh sách soạn thảo bởi Hòa Thượng Trúc Lâm, hoặc được sáng tác hoặc được dịch lại với những lời bình giải của Hòa Thượng.

Từ mấy tuần nay, sư cô giáo thọ dùng quyển “Thiền Căn Bản” để giảng Pháp. Đây là một cuốn sách về Thiền học rất cao siêu khó hiểu, nếu không được các thầy cô giảng giải tường tận.

Tuy nhiên ở đây vị giáo thọ biết dùng một số chuyện tích làm thí dụ để giảng những lời Phật dạy trong sách, và đem áp dụng vào đời sống thường nhật. Điều này đã làm không khi học tập vui hẳn lên, với những trao đổi giữa thầy (sư cô giáo thọ) và trò (Phật tử thính chúng), khiến cho những Phật tử đến chùa được thoả mãn.

Sách Thiền Căn Bản của Hòa Thượng Trúc Lâm là bản dịch từ ba tác phẩm của Trí Khải Đại Sư là: “Tọa Thiền Chỉ Quán”, “Thiền Tam Muội” và “Lục Diệu Pháp Môn”, dồn vào một cuốn.

Trí Khải Đại Sư

Trí Khải Đại Sư

Trí Khải Đại Sư, sinh thời Ngũ đại vào đời Trần và đời Tùy độ thế kỷ thứ VI là người sáng lập ra tông phái “Thiên Thai”. Pháp yếu Tọa Thiền Chỉ Quán là tài liệu học thiền quan trọng nhất.

Trong sách Thiền Căn bản, lý do được Trí Khải Đại Sư biên soạn ra Pháp yếu Thiền Chỉ Quán rất đặc biệt được trình bày như sau:

Đại sư Trí Khải có người anh tên Trần Châm làm Tham tướng trong quân đội. Trần Châm được bốn mươi tuổi, một hôm đi đường gặp vị tiên tên Trương Quả Lão. Lão thấy tướng ông liền kêu lại bảo: “Ta xem tướng ông dương thọ đã hết, chỉ trong một tháng thì chết.” Trần Châm nghe qua kinh hãi, đến hỏi kế với Đại sư, Đại sư bảo: “Anh nghe theo tôi dạy tu trì, chắc chắn sẽ qua khỏi.” Trần Châm hứa vâng theo. Ngài bèn thuật pháp Tiểu Chỉ Quán đơn giản yếu lược này, bảo dụng công tu tập. Trần Châm y theo phương pháp tha thiết tu trì.

Hơn một năm, Châm gặp lại Trương Quả Lão, Lão thấy kinh ngạc, hỏi: “Ông không chết, có phải tại uống thuốc trường sanh chăng?” Châm đáp: “Không phải. Do em tôi là Trí Khải dạy tôi tu tập Chỉ Quán tọa thiền nên được như vầy.” Lão khen: “Phật pháp không thể nghĩ bàn, hay phản tử hoàn sanh, thật là hi hữu!”

Mấy năm sau, Trần Châm mộng thấy đến Thiên cung. Trong ấy có đề: “Nhà của Trần Châm, mười lăm năm sau sẽ sanh lên đây.” Đúng mười lăm năm sau, Trần Châm từ biệt quyến thuộc, ngồi kiết-già yên ổn mà tịch.

Đây là nguyên do Đại sư Trí Khải thuật bộ Chỉ Quán này.

5. Thọ Trai

 Thọ trai – dùng bữa trưa – ở thiền viện cũng phải theo một nghi lễ gọi là “Nghi thức cúng Quá Đường”, đôi khi còn gọi là Quả Đường. Cúng Quá Đường, hay thọ trai lúc trưa là bữa ăn chính trong chùa, nên nghi lễ là điều trọng yếu. Cũng như tất cả các Phật tử đến chùa,Việt đã thọ trai nhiều lần tại thiền viện. Nhưng vì nghi thức cúng Quá Đường rất nhiêu khê rắc rối, nên không ai nhớ hết những nghi lễ này. Trước khi thọ trai, mọi người đã thấy đặt trước mặt một bản in những nghi thức phải đọc theo các ni sư trong chùa.

Mục đích của những nghi lễ này, đọc tụng trước khi ăn và sau khi ăn, theo Việt hiểu là để tỏ lòng biết ơn tất cả những ai đã làm ra những thức ăn được thọ dụng, từ những kẻ nông phu, người mua bán, những đàn na thí chủ phát tâm cúng dường, những người đã sửa soạn những thức ăn này. Nghi lễ cũng nói lên lời nguyện từ bỏ lòng tham dục, tham ăn, nỗ lực tu học, trau rồi giới hạnh, nuôi dưỡng chánh niệm để xứng đáng được thọ dụng những thức ăn mình sắp ăn.

Chuẩn bị nghi thức cúng Đại Bàng

Chuẩn bị nghi thức cúng Đại Bàng

Ngoài nghi lễ nói trên, các ni sư trong chùa còn theo một nghi thức khác, làm trước khi ăn. Đó là nghi thức Cúng Đại Bàng. Việt thấy vị ni sư trưởng trong chùa lấy ít thức ăn – nghe nói là bẩy hạt cơm – ra một cái bát nhỏ, làm phép quyết ấn cam lồ trên đó, rồi đưa cho người thị giả mang ra ngoài để Cúng Đại Bàng. Trong này mọi người nghe thấy người thị giả hô tống thực:

            Chim Đại Bàng cánh vàng
            Chúng quỷ thần rừng núi
            Mẹ con quỷ La sát
            Cơm bẩy hột no đầy
            Án mục đế tóa ha (bẩy lần)

Cúng Đại Bàng là một nghi thức quan trọng trong lễ cúng Quả Đường mỗi buổi trưa ở các tự viện theo truyền thống Phật Giáo Đại Thừa, đặc biệt là mùa An Cư Kiết Hạ hằng năm. Theo lời thuật lại trong khế kinh, ngày kia Đức Phật đi du hóa gặp một con chim Đại Bàng bắt các loài chim nhỏ ăn thịt. Chim Đại Bàng này có kích thước rất lớn, mỗi lần há miệng, một hơi hút của nó chiếm một phạm vi nhiều cây số, tất cả các loài chim nhỏ đều bị cuốn hút vào miệng nó. Vì thấy việc sát sanh quá nhiều nên Đức Phật đã từ bi giáo hóa. Ngài dạy rằng “tất cả chúng sanh đều ham sống sợ chết, do đó chớ giết và chớ bảo giết”. Chim Đại Bàng tự nghĩ: “thực phẩm hằng ngày của mình là thịt sống của các loài chim, nay Phật không cho ăn, lấy gì để nuôi thân mạng này”. Phật dạy: “từ đây về sau ngươi về chùa nào gần nhất để quý Tăng Ni cho ăn”.

Nghi thức cúng Đại Bàng buổi trưa được phát xuất từ đó, và hơn hai ngàn năm nay truyền thống này vẫn tiếp tục gìn giữ và duy trì. Có người thắc mắc rằng, sao chỉ cúng bảy (7) hạt cơm, có thể làm no đủ loài đại bàng, và 7 hạt cơm có thể thay thể được thịt sống? Đó là do nguyện lực của thần chú của Phật mà bảy hạt cơm kia sẽ biến thành cam lồ pháp nhũ khiến cho loài Đại Bàng ăn no đủ, nhờ lực gia trì của thiện niệm.

Việt đã đến nhiều chùa trong vùng, chàng thấy cơm chay ở thiền viện này rất ngon. Anh cũng được biết là những ni cô được Hòa Thương Trúc Lâm cử sang Hoa Kỳ đều phải học nấu cơm chay ờ trong nước trước khi đi. Chùa làm gì có nguồn tài chánh riêng để đứng vững được. Mọi thu nhập là nhờ ở mọi cúng dường của Phật tử đàn na thí chủ. Có lẽ vì vậy mà tại hầu hết các chùa, cơm chay đều rất hấp dẫn, để Phật tử bảo nhau đến chùa. Riêng tại thiền viện này, cơm chay được chuẩn bị, một phần được làm từ hôm trước, nhiều khi từ hai hôm trước, cho những ngày đại lễ.

Số người đến chùa trong những ngày này có khi lên đến trên 100. Sân chùa không đủ chỗ cho xe hơi đậu. Chùa phải thu xếp với nhà hàng xóm, mở cửa cho Phật tử đậu xe phía sân trước. Chủ nhà hàng xóm là hai vợ chồng người Ấn Độ. Họ không theo Phật giáo, nhưng thỉnh thoảng họ cũng sang chùa, lễ Phật nơi chánh điện.

Bún riêu chay

Bún riêu chay

Cơm chay ở thiền viện rất đa dạng. Ngoài xôi chè, trái cây là những món bắt buộc phải có, món chính thay đổi mỗi tuần. Các thứ bún, cơm ba món, phở, hủ tiếu, bánh mì cà ri, chả giò, bì cuốn, đôi khi có cả spaghetti chay. Môt món Việt ưa thích là Bún Riêu Chay(6), dễ làm mà cũng rất ngon.

Thọ trai buổi trưa, theo tục lệ có tự ngàn xưa, phải được thọ dụng trước 12 giờ trưa, giờ đó gọi là giờ Ngọ. Quá giờ Ngọ là không được ăn. Bởi vậy, buổi thọ trai chấm dứt trước 1 giờ trưa. Phật tử xúm nhau lại quét dọn dẹp bàn ghế, rửa bát đũa rồi ra về. Trước khi ra về nhiều người còn xuống phòng “Băng Sách” nấn ná ít lâu để thỉnh ngay bản CD hay DVD của bài pháp mới được cô giáo thọ nói trong ngày.

Tại thiền viện này, Việt không thấy có những hoạt động bên lề như Gia đình Phật tử quy tụ những thanh thiếu niên muốn học Phật như tại các chùa Tịnh độ tông khác.

Việt lái xe về nhà, lòng rất vui, vì đã có một buổi sáng Chủ Nhật an lạc, thư thái, đầy đủ như ý muốn./.

________________-______________________________________

(1) Thiền sư Philip Kapleau: Ông sinh năm 1912, trong một gia đình thuộc tầng lớp công nhân, tại New Haven, tiểu bang Connecticut, Hoa kỳ. Ông học luật và trở thành phóng viên tòa án. Cuối Thế Chiến thứ II ông được chỉ định làm trưởng phóng viên  cho Tòa án Quân Sự quốc Tế ở Nuremberg, rồi được điều động sang Tòa Án Quốc Tế ở Tokyo, Nhật Bản. Khi ở Nhật Bản ông thấy thích thú về đạo Phật, Thiền tông Nhật. Ông đã gặp cư sĩ Daisetsu Suzuki và các thiền sư khác. Trở về Hoa Kỳ ông học Triết học Phật giáo với tiến sĩ Suzuki, lúc ấy đang dạy học tại Đại học Columbia, Nữu Ước. Năm 1953 ông quyết định sang Nhật để tu tập Thiền. Ông đã đạt kiến tánh sau năm năm khổ công tu tập và tiếp tục tu tập tám năm nữa để hoàn thành học Thiền. Ông được thầy ông là Thiền sư An Cốc (Yasutani) làm lễ thọ giới và được thầy cho phép dạy người khác. Vào năm 1966 ông trở về Hoa Kỳ và thành lập Trung Tâm Thiền học tại Rochester, tiểu bang Nữu Ước. Ông là tác giả nhiều sách Thiền học. Cuốn “The Three Pillars of Zen” là sách về Thiền học được nhiều người biết đến nhất. Thiền sư Kapleau mất năm 2004, hưởng thọ 92 tuổi.

(2) Giáo hội Phật giáo Việt Nam là giáo hội Phật giáo duy nhất được chính phủ Việt Nam chính thức công nhận hiện nay và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc. Giáo hội được thành lập sau Đại hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội vào ngày 7 tháng 11 năm 1981 nhằm thống nhất tất cả sinh hoạt Phật giáo của tăng ni, phật tử Việt Nam. Pháp chủ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay là đại lão hòa thượng Thích Phổ Tuệ. Lãnh đạo của Giáo hội gồm hai Hội đồng: Hội đồng Chứng Minh và Hội đồng Trị Sự, với nhiệm kì 5 năm. Phương châm của Giáo hội là: “Đạo pháp, Dân tộc, và Chủ nghĩa xã hội.”

(3) Hòa thượng Thích Thanh Tứ (1927- 2011) là một trong những vị tăng lãnh đạo của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, nguyên Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự, nguyên là trụ trì chùa Bái Đính (Ninh Bình). Hòa thượng cũng là một chính khách, là Đại biểu Quốc hội khóa 11, 12 và được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.  Tuy làm tu sĩ Phật giáo, ông đã hoạt động chính trị từ năm 1946 dưới sự lãnh đạo của Việt Minh.Trong suốt thời gian Kháng chiến chống Pháp, ông vẫn bí mật hoạt động cho Việt Minh. Sau khi ông mất, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã cho đặt bên Thái Lan một bức tượng lớn bằng người thật, với nhiều chi tiết (râu, tóc…) như người thật, hiện đặt trong một lồng kính tại chủa Quán Sứ, cho mọi người đến chiêm ngưỡng.

(4) Đây là sự khác biệt lớn giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Thông thường giáo dân theo Thiên Chúa giáo La Mã được coi là “có tội” (sin), thì phải đi xưng tội tại nhà thờ, qua một ông Cha giải tội (linh mục) để được Chúa tha tội. Chữ “có tội” trong Thiên Chúa giáo bao gồm nhiều nghĩa: từ không tin vào Chúa, nói xấu bề trên, đến ganh ghét, ích kỷ, xa ngã xác thịt v.v..Vị linh mục giải tội và kẻ xưng tội cùng ngồi trong một cái thất nhỏ, (“booth”), cách nhau bằng một cửa sổ có ngăn che để không ai nhìn thấy ai, nghĩa là không thấy mặt nhau, đôi bên thường nói rất nhỏ (thì thầm) chỉ đủ nghe. Con chiên đến xưng tội kể những tội lỗi đã làm, tỏ lòng ăn năn và xin Cha giải tội, nhân danh đức Chúa Ba Ngôi, mà tha thứ cho. Việc xưng tội, cũng có thể gọi là sám hối, là chuyện riêng tư, không ai biết kể cả vị linh mục giải tội.

(5) Bên Nhật một người muốn tu Thiền, lần đầu tiện đến thiền viện, anh ta phải quỳ gối nằm phủ phục trước cửa chùa để xin vào tu. Theo đúng thông lệ có tự ngàn xưa, thấy trụ trì sai người ra bảo anh hãy về đi. Anh ta nhất định xin vào tu trong tư thế đó. Anh cũng phải biết trước rằng tu Thiền rất cực nhọc và đời sống trong thiền tự rất kham khổ. Đến ngày thứ ba, nếu thấy anh còn trước chùa xin vào tu, cửa chùa mới rộng mở đón anh vào. Phương thức xin vào chùa tu thiền được tả rõ trong hai bài viết Dấn Thân Vào Con Đường Ít Ai Đi →   và  Một Tu sĩ Phật giáo và vấn nạn Tự sát tại Nhật →

(6). Món Bún Riêu chay: Nước dùng chay thì có sẵn. Nếu không thì hầm 5 thứ rau: bắp cải, củ cải trắng, ca rốt, củ sắn (jicama), cải kim chi một tiếng rưỡi. Bún tươi đặt trong mỗi tô. Dùng một bià tào hũ, vắt hết nước trong một miếng vải, Bỏ tào hũ vào “food processor” cùng với một miếng “ham” chay, nhỏ khoảng bằng 1/3 miến tào hũ, và ít muối tiêu. Sau khi xay sẽ được một thứ như “paste” tào hũ. Xúc “paste” tào hũ từng miếng vừa ăn, vào chảo chiên vàng. Lấy ra đặt trên tô bún. Để làm nước bún riêu, xào nữa phần cà chua đã thái nhỏ vởi hành cho thơm. Có thể dùng thêm hạt điều mầu đã chiên cho ra nước mầu đẹp. Đổ hết vào nồi nước dùng chay và nêm muối, nước tương (soy sauce) và nước me chua (tamarin) cho vừa ăn. Tất cả đun sôi rồi trút chỗ nửa phần cà chua còn lại vào. Múc nước riêu vào tô bún trên đó đã sẵn tào hũ chiên vàng và hành xanh thái nhỏ. Ăn bún riêu với giá, hành lá, tía tô, rau mùi, và xá lát thái nhỏ.

______________________________________________________

Tháng Tư, 2014

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s