Phật Học – Thư đi Tin lại (II)


 Tiếp theo Phật Học-Thư đi Tin lại (I)

Tượng Phật A Di Đà, Nhật Bản

Tượng Phật A Di Đà, Nhật Bản

26 – Trong kinh A Di Đà, có mấy dòng như sau : « Tại sao đức Phật ấy có hiệu là A –Di-Đà ? Vì Ngài có vô lượng quang minh soi khắp mười phương, không gì chướng ngại, nên ngài có tên hiệu là A-Di-Đà… Vì thọ mệnh của Ngài và cả nhân dân vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp nên ngài có tên hiệu là A-Di-Đà ». Tôi đồng ý với đạo hữu rằng lời giải thích đó « không ổn ». Phải đi sâu hơn thì mới hiểu. Amitabha là Vô Lượng Thọ Phật. Amitayus là Vô Lượng Quang Phật. Đó là hai trong số 13 danh hiệu của đức Phật Amita tức là A-Di-Đà. Vậy muốn cho dễ hiểu thì phải nói đại khái như thế này : « Vì ngài có ánh sáng soi khắp nơi nên ngài có hiệu là Vô Lượng Quang Phật. Vì ngài sống lâu vô lượng nên ngài có hiệu là Vô lượng Thọ Phật ».[Đã có người đề nghị đổi chữ A-Di-Đà thành A-Mi-Đà, nhưng thói quen ăn sâu rồi,đổi chắc khó].

A-tăng-kỳ là phiên âm chữ sanskrit Asamkhya, trong đó A nghĩa là không, samkhya là số, vậy asamkhya là vô số (innombrable, innumerable, numberless). Rõ hơn, một a-tăng-kỳ là số viết với số 1 có 47 số zero theo sau ! A-tăng-kỳ nói ngắn thành tăng-kỳ. Kiếp là do chữ kiếp-ba nói ngắn, kiếp-ba là do chữ sanskrit kalpa hoặc chữ pali kappa phiên âm mà ra (âge cosmique, world age. world cycle). Dịch là : đại thời, bá vạn niên, một thời gian rất dài, không kể ra năm tháng được. Hàng ngày ta dùng chữ kiếp người theo nghĩa đời người, khoảng thời gian sống của một người. Kalpa : term for an endlessly long period of time… Suppose that every hundred years, a piece of silk is rubbed once on a solid rock one cubic mile in size; when the rock is worn away by this, one kalpa will still not have passed… A kalpa is divided into four parts : the arising of a universe, the continuation of the arisen universe, the demise of that universe, the continuation of chaos… (Theo the ShambalaDictionary of Buddhism and Zen).

27 Mười cảnh giới là : địa ngục, ngã quỷ, súc sinh, a-tu-la, người, chư thiên (6 đường này còn luân hồi), thanh văn, duyên giác, bồ-tát, Phật (bốn đường thánh, tức là bốn thánh đạo, đã ra khỏi vòng sinh tử luân hồi). Tam giới là : dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Dục giới gồm 5 cảnh giới kể trước và 6 loại chư thiên, nhiều ham muốn, kể cả dâm dục. Sắc giới không cần ăn uống và dâm dục, nhưng còn ham vui, gồm chư thiên. Vô sắc giới không có hình tướng gồm có 4 tầng trời. Tất cả vẫn còn luân hồi. Nghĩa là trong tam giới, có 6 đường hay sáu nẻo (lục đạo, pali và skt : gati) mới kể trên đây.

Sau đây là mấy chữ mà đạo hữu cần. Nói « mấy chữ » mà đủ khó rồi đấy ! Tôi không để gạc ngang lên vài chữ a, vì đánh máy khó quá, đạo hữu ráng chịu vậy nhé. Nếu đã dịch tam giới là trois mondes thì phải tìm chữ khác để dịch cảnh giới, tôi nghĩ nên dùng chữ plan d’existence hay forme d’existence, cũng có người đề nghị mode d’existence ; mười cảnh giới : les dix plans d’existence hoặc les dix formes d’existence ; the ten forms of existence.

Địa ngục : sanskrit : naraka ; enfers, hells. Kẻ ở địa ngục : damnés des enfers, hell beings. Ngã quỷ : preta ; démons affamés, hungry ghosts. A-tu-la : asuras . Chư thiên : devas ; habitants des cieux, celestial beings, gods.

Tam giới (sanskrit : triloka ; trois mondes, three worlds, three spheres , three realms).

Dục giới (skt : kamaloka, kamadhatu ; monde des désirs, sphere of desire).

Sắc giới (skt : rupaloka, rupadhatu ; monde des formes, sphere of forms).

Vô sắc giới (skt : arupaloka, arupadhatu ; monde des non-formes, sphere of formlessness).

Ghi chú : lần sau, tôi sẽ gửi phắc-tuya tính tiền công đấy đạo hữu ạ, mệt quá xá !

28

  1. Như, Như như, Chân như là những danh từ để chỉ cái thực tướng (tức là cái tướng thực sự, không giả dối) của vạn pháp (tức là sự sự vật vật trên thế gian). Những sự vật, những hiện tượng mà các giác quan ta cảm nhận đều vô thường cả Nhưng cái bản thể của chúng là một thứ bất động, thường hằng mà ta không thể nào mô tả bằng ngôn ngữ phàm được, chỉ dùng một loạt phủ định như : không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt, không sinh, không diệt… Có cả chục danh từ dùng để chỉ cái bản thể đó, nhưng không có danh từ nào thỏa đáng cả.
  1. Đạo hữu đã đọc kinh Kim Cang rồi. Kinh nói : Như Lai có nghĩa là « không từ đâu mà đến, cũng không đi về đâu ». Đó chính là chữ để chỉ cái bản thể thường trụ, vĩnh cửu của vạn pháp, là Phật tánh vậy.

29 Thập sử là mười sự sai khiến (thập = mười, sử = sai khiến), đó là 10 phiền não sai khiến chúng sinh toan tính và hành động bậy bạ nên gây nghiệp và vì thế mà trôi lăn trong vòng luân hồi : tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến. Còn gọi là thập phiền não, thập hoặc (hoặc nghĩa là nghi ngờ), thập tùy miên (tùy miên là còn tiềm ẩn, chưa bộc lộ).

Tiểu thừa xếp từ thấp lên cao (từ dễ trị đến khó trị) theo thứ tự sau này : 1/ thân kiến. 2/ nghi. 3/ giới thủ kiến. 4/ tham. 5/ sân. 6/ sắc ái. 7/ vô sắc ái. 8/ mạn (kiêu ngạo). 9/ trạo (tâm trạng lăng xăng không yên). 10/ vô minh. Như vậy thì hơi khác trên đây một chút, đây gọi là thập kết (kết là trói buộc, chaiýnes, fetters ; pali và skt : samyojana). Dứt hoàn toàn mười thứ ấy thì đắc quả a-la-hán (pali : arahat, skt : arhat), nói ngắn là la-hán.

Đây là 10 chữ dịch theo thứ tự : 1/ belief in individuality (drishti). 2/ scepticism (vichikit sà). 3/ clinging to rites and rules. 4/ craving or desire (trishnà, kàma). 5/ hatred. 6/ craving for refined corporeality. 7/ craving for incorporeality. 8/ conceit. 9/ excitability. 10/ ignorance (avidyà).

Hình ảnh A Tu La

Hình ảnh A Tu La

30 A-tu-la gọi ngắn là tu-la do chữ phạn (sanskrit) asura phiên âm ra. Người Tây phương để nguyên chữ, không dịch. Tàu dịch là phi-thiên hay thần. Loại chúng sinh này là một trong thiên long bát bộ thường đến nghe Phật thuyết pháp. Họ có thần lực nhưng kém chư thiên ở các cõi trời. Không biết so sánh với loài người thì họ hơn hay kém nhưng sách bảo rằng ta chẳng nên cầu vãng sinh thành a-tu-la vì họ hay nổi sân, nổi nóng khó tu (phái nữ thì đẹp !). Một ông bạn tôi bàn rằng xưa kia vua còn phong chức tước cho các thần vậy thì a-tu-la phải kém người ! Ổng lý luận đúng chăng ? Cụ Đoàn Trung Còn nói rằng : a-tu-la chịu khó tu hành thì sanh làm người danh giá hay chư thiên… còn nếu mê muội thì bị đọa xuống ba ác đạo tức là địa ngục, ngã quỷ, súc sinh. Như vậy thì đúng là a-tu-la xếp hạng dưới người rồi ! Còn một ý kiến khác lấy trong the Shambala Dictionary of Buddhism and Zen : In the sense of a higher or good mode of existence, asura refers to the lower gods who dwell on the slopes or summit of the world mountain Sumeru or in castles of air. Seen as a lower or evil mode of existence, the asuras are the enemies of the devas (gods)… Inthe classification of many southern Buddhist schools, the asuras are entirely omitted.

Tạm dịch là : Nhìn theo khía cạnh cảnh giới cao hay lành, a-tu-la là loại thần sống ở sườn hay đỉnh núi Tu Di hoặc là trong các lâu đài không khí… Nhìn theo khía cạnh cảnh giới thấp hay xấu thì a-tu-la là kẻ nghịch của chư thiên… Theo sự phân loại của nhiều môn phái Nam tông, người ta không đề cập chút nào đến a-tu-la cả.

31 Ngũ thừa Phật giáo gồm có : nhân thừa, thiên thừa, thanh văn thừa, duyên giác thừa và bồ-tát thừa. Tu nhân thừa thì theo tam quy ngũ giới, kiếp sau trở lại làm người. Tu thiên thừa thì thực hành thập thiện, kiếp sau được lên cảnh giới của chư thiên. Hai thừa này, vẫn còn sinh tử luân hồi. Tu thanh văn thừa thì theo tứ diệu đế, quả vị cao nhất là a-la-hán. Tu duyên giác thừa thì theo thập nhị nhân duyên, quả vị là duyên giác. Tu bồ-tát thừa thì theo lục độ ba-la-mật, quả vị là bồ tát. Các vị lahán, duyên giác, bồ tát là các bậc thánh, ra khỏi vòng sinh tử luân hồi. Chú thích. Bích-chi-Phật đồng nghĩa với Độc-giác-Phật, đó là các vị ra đời không đúng vào lúc có Phật tại thế nhưng tự mình tu hành theo thập nhị nhân duyên mà được giác ngộ nên các vị đó cũng được gọi là duyên giác. Về thần thông, duyên giác cao hơn thanh văn.

32 – Khi nói chư thiên là nói đến các chúng sinh ở trên các tầng trời. Chư thiên sung sướng hơn loài người nhưng cũng chia ra rất nhiều bậc và bậc nào cũng phải luân hồi sau khi phước báo đã hết. Có bao nhiêu từng (tầng) trời ? Trong dục giới, trừ ra địa ngục, ngã quỷ, súc sinh, a-tu-la, người, có tầng trời Tứ thiên vương thiên cộng thêm Đao lỵ thiên, Dạ ma thiên, Đâu suất thiên, Hóa lạc thiên và Tha hóa tự tại thiên, tất cả là 6. Trong sắc giới : Sơ thiền thiên có 4 tầng, Nhị thiền thiên có 3 tầng, Tam thiền thiên có 3 tầng, Tứ thiền thiên có 3 tầng và Tịnh phạm địa có 7 tầng, cộng tất cả là 20. Vô sắc giới có Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, cộng là 4. Vậy chư thiên ở 30 tầng trời khác nhau, phước báo khác nhau, sinh hoạt khác nhau

Phật hoc-1

Vòng Sanh Tử Luân Hồi

33 – « Cành dương nước tịnh, biến sái tam thiên, tính không bát đức, lợi lạc nhân thiên… ». Đạo hữu hỏi « tam thiên ấy là gì ? Ba ngàn hay ba trời ? ». Theo ý tôi thì đó là « tam thiên đại thiên thế giới ». Phải nói từ đầu mới rõ. Theo quan niệm của đạo Phật, vũ trụ có những gì? Một thế giới gồm : 1 núi Tu Di, 1 mặt trời, 1 mặt trăng, 4 châu ở quanh núi Tu Di, 4 Thiên vương thiên ở lưng chừng núi Tu Di, 1 Đao lỵ thiên, 1 Dạ ma thiên, 1 Đâu suất thiên, 1 Hóa lạc thiên, 1 Tha hóa tự tại thiên, 1 Sơ thiền thiên. 1000 thế giới như thế làm thành một tiểu thiên thế giới. 1000 tiểu thiên thế giới làm thành một trung thiên thế giới. 1000 trung thiên thế giới làm thành một đại thiên thế giới. Như thế thì một đại thiên thế giới gồm có 1000 x 1000 x 1000 thế giới, tức là ba cái số ngàn nhân với nhau ( = 1 tỉ). Khi nói tam thiên đại thiên thế giới thì có ý nói : cái đại thiên thế giới này gồm « ba cái số ngàn nhân với nhau » thế giới, chứ không phải tam thiên là ba ngàn. Các bạn có thể phê bình rằng cách nhìn ấy về vũ trụ không đúng. Đó là cách nhìn xưa rồi, nhưng có một ưu điểm là : xác nhận có nhiều thái dương hệ. Chú thích. Bát đức là nhắc đến bát công đức thủy, nước có tám công đức (mát, ngọt v.v..), nước cam lồ. Nhân thiên là nhắc đến hai cảnh giới người và trời (chư thiên).

34 – « Cha lành chung bốn loài » dịch bốn chữ « Tứ sinh chi từ phụ », đó là chỉ đức Phật Thích-Ca. « Thày dạy khắp trời người » dịch ba chữ « Thiên nhân sư », đó cũng chỉ đức Phật Thích-Ca. Đạo hữu hỏi : « bốn loài là những loài nào? ». Xin thưa : là noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh. Noãn sanh là sanh bằng trứng, như chim… Thai sanh là sanh bằng bào thai, như người… Thấp sanh là sanh nơi ẩm thấp như các côn trùng… Hóa sanh là sanh ra do nghiệp lực mạnh, như chư thiên, địa ngục. Vãng sanh Tịnh độ thì do trong hoa sen nở mà ra : « Hoa nở thấy Phật (Hoa khai kiến Phật) », đó là hóa sanh vậy. Chú thích. Tự điển Đoàn Trung Còn ghi : Thấp sanh là từ chỗ ướt mà sanh ra như rắn, cá. Hóa sanh… những vật đổi lốt cổi hình như loài bướm bởi sâu mà hóa sanh ra. Riêng tôi, tôi không đồng ý với lời giải thích này.

35 – Diêm phù đề là gì? Hãy tưởng tượng ra núi Tu-Di đứng ở giữa. Bốn phương có 4 châu: Đông thắng thần châu, Tây ngưu hóa châu, Nam thiệm bộ châu, Bắc câu lưu châu. Nam thiệm bộ châu còn gọi là cõi Diêm phù đề, chữ này do chữ Phạn Jambudvipa phiên âm mà ra, cây jambud là cây diêm phù. Cõi này là cõi chúng ta đang ở, kém ba châu kia vì có tật bệnh, làm ăn cực nhọc, nhưng được cái hay là đức Phật Thích-Ca giáng sanh ở đó nên có Phật pháp lưu hành. Cách tưởng tượng về núi Tu-Di này là thuộc cổ Ấn Độ, đạo Bà-la-môn cũng nói tương tự. Tu-Di hay Tu-Mê -Lư phiên âm từ chữ Phạn Meru, Sumeru, chữ Pháp ghi là Soumérou, Mont Soumérou, chữ Anh để nguyên Sumeru. Đã phiên âm rồi, Tàu lại còn dịch ra mấy chữ nữa (chỉ khổ cho bọn mình !) : Diệu Cao, Diệu Quang… Chú thích. Khi đọc lịch sử đức Phật, có một đoạn nói rằng khi vua cha và triều thần đang làm lễ hạ điền (vua xuống cầy ruộng) thì thái tử Tất-Đạt-Đa ngồi tham thiền dưới bóng cây diêm phù.

36 – Bây giờ người ta không dùng danh từ Đại thừa và Tiểu thừa nữa, thay thế bằng hai chữ Bắc Tông và Nam Tông. Đó là dựa theo địa lý : Phật giáo một mặt truyền bá về phương Bắc rồi sang phía Đông : Tây Tạng, Trung Quốc, Cao Ly, Mông Cổ, Mãn Châu, Nhật Bản, Việt Nam. Và một mặt khác, truyền bá xuống phía Nam, sau qua phía Đông : Tích Lan (Sri Lanka), Miến điện (Myanmar), Thái Lan, Mên, Lào và Nam Dương.

Tóm tắt sự khác biệt giữa hai tông như sau : 1/ Nam tông : Trung tâm là Tăng. Kinh sách là bộ A-hàm. Tu chứng : ngã không. Quả vị : La-hán. Thờ phụng : đức Thích – Ca. 2/ Bắc tông : Trung tâm là đại chúng. Kinh sách rất nhiều, kể cả bộ A-hàm. Tu chứng : ngã không và pháp không. Quả vị : Bồ-tát, Phật. Thờ phụng : đức Thích-Ca và nhiều vị khác.

Trong một số kinh, chúng ta thấy có vài lời miệt thị tiểu thừa. Chắc chắn đó không phải là lời của đức Phật vì một lẽ rất đơn giản là : thời đức Phật còn tại thế, đã làm gì có Tiểu thừa và Đại thừa ! Chắc là có người thêm vào. Tối thượng thừa là gì? Theo Từ điển Phật học Hán Việt thì đó là : giáo pháp rốt ráo, cao nhất (chí cực). Các tông phái đều lấy từ này để chỉ vào tông nghĩa của phái mình.

37 – Kệ do chữ kệ-đà nói ngắn. Kệ-đà do chữ Phạn Gàtha phiên âm ra. Cách phiênâm khác : Già-tha, già-đà.Có khi kệ là một bài thơ ngắn (thường là 4 câu) để : 1/ ca tụng công đức chư Phật,chư Bồ -át. 2/ tóm tắt ý chính một bài kinh hay một đoạn kinh. 3/ nói lên lòng tônkính Tam Bảo. Có khi kệ là một bài thơ dài để nói lại hay giải thêm một bài pháp. Nói là bài thơ dài hay ngắn nhưng trên thực tế không thấy âm vận rõ rệt. [Kệ dịch là strophe, stanza].

38Tam giáo là Nho, Lão, Thích tức là Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo. Khi người ta nói « tam giáo đồng nguyên » là có ý bảo rằng ba tôn giáo đó cùng một nguồn (nguyên là nguồn). Nhưng nói vậy không có nghĩa là ba tôn giáo ấy là ba ngành của một gốc cây, nghĩa là xuất phát từ một gốc rồi sau tách rời nhau. Thật ra, người ta muốn nói rằng cả ba tôn giáo ấy có một cách lý giải về vũ trụ tương tự với nhau.

Đạo Lão dùng chữ Đạo, đạo Khổng dùng chữ Thái cực, đạo Phật dùng chữ Phật tánh, ba thứ đó cùng là Tuyệt đối không thể nào dùng ngôn ngữ thông thường mà giảng ra được. Nôm na như vậy thôi, mời đạo hữu coi thêm sách để đi sâu vào đề. Nói chung, người Việt Nam chúng ta chịu ảnh hưởng hoặc ít hoặc nhiều của cả ba tôn giáo đó. Câu thứ nhì mà đạo hữu hỏi, xin xem tiếp theo đây.

39 – Ở nước ta, đời vua Đinh Tiên Hoàng, Phật giáo đã bắt đầu phát triển. Sang đến triều Lý thì phát triển mạnh và có uy tín lớn, nhiều vị tăng học rộng, đức cao. Đầu triều Trần, Phật giáo vẫn vững mạnh, nhưng vì phát triển nhanh quá nên mang nhiều nhược điểm. Bắt đầu từ cuối triều Trần thì kém dần. Từ triều Lê (thế kỷ XV) trở đi thì xuống nhiều, đạo Phật chỉ còn là một hình ảnh mờ nhạt của một tôn giáo uy tín của thế kỷ X – XIV. Đầu thế kỷ XX, có phong trào chấn hưng Phật giáo, tạm có kết quả, nhưng vì gặp chiến tranh nên chưa mang lại kết quả mong muốn. Ngày nay ra sao thì đạo hữu thấy rồi.

40 –– Pháp ấn là gì ? Pháp có nhiều nghĩa, trong số đó chữ Pháp với chữ P hoa là lời dạy của đức Phật Thích Ca (les Enseignements du Bouddha, the Buddha’s Teachings. La Doctrine) nói chung là đạo lý của đức Phật. Chữ pháp còn một nghĩa rất rộng là sự sự vật vật hữu hình và vô hình. Ấn là con dấu. Pháp ấn là con dấu Pháp, ý nói những lời dạy thực sự của đức Phật, như là con dấu đóng vào một tài liệu nào đo, một văn bản nào đó để chứng tỏ rằng tài liệu đó, văn bản đó là xác thực. Hiểu rộng thêm, là pháp được thông đạt đến khắp nơi như đã có dấu ấn của quốc vương hay quyền uy chính thức.

Tam pháp ấn là : 1/ Vô thường. 2/ Vô ngã. 3/ Niết bàn. Ngoài ra, người ta còn nhắc đến Thực tướng ấn (nói về bản thể của vạn pháp, bản thể ấy là Pháp tánh, là Không). Tam pháp ấn cộng thêm lý về Khổ được gọi là Tứ pháp ấn. Chú thích. 1/ Bốn điều vô thường, khổ, không, vô ngã được gọi chung là tứ vô thường (vì chữ vô thường đứng trước chứ không phải bốn thứ ấy đều là vô thường). Đó là bốn điều quan trọng nhất của giáo lý Phật giáo. 2/ Có một kinh ngắn nhưng quan trọng, tên là Kinh Pháp Ấn nói về ba pháp môn giải thoát.

41

  1. a) Đạo hữu đã lẫn hai vị Thần Tú và Thần Quang. Thần Tú là vị thượng tọa làm việc nơi chùa Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, là người làm bài kệ nhưng bị bài kệ của ngài Huệ Năng (lúc ấy giữ việc giã gạo trong chùa) át đi, sau Huệ Năng được Ngũ tổ truyền y bát. Còn Thần Quang là vị sư đến cầu đạo nơi sơ tổ Bồ-đề-đạt-ma, sau được truyền y bát thành tổ thứ nhì, với tên là Huệ Khả. Ngài Thần Tú chủ trương tiệm (dần dần), ngài Huệ Năng chủ trương đốn (nhanh), hai phái thiền của hai ngài khác nhau.
Nhục thân Huệ Năng tại chùa Nam Hoa

Nhục thân Huệ Năng tại chùa Nam Hoa

b) Người Bắc đọc là Tuệ, người Nam và Trung đọc là Huệ.

c) Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng của cả ba tông : Tịnh độ tông, Thiền tông và Mật tông. Tịnh độ tông đông nhất, Mật tông ít hơn nhiều, Thiền tông đang phát triển.

42 – Trước khi thái tử Tất-Đạt-Đa ra đời thì ở Ấn độ đã có đạo Bà-la-môn (Brahmanisme). Theo đạo này thì đấng Tạo hóa là Brahma (Phạm thiên vương), đó là Thượng đế, là « Dieu » « God ». Đới với đức Phật, không có nguyên nhân đầu tiên (cause première, first cause), chỉ có thuyết duyên sinh hay duyên khởi, theo đó bất cứ cái gì cũng sinh khởi ra do nhiều nhân và duyên. Đạo của Ngài là đạo giải thoát (khỏi mọi khổ đau), không nhằm tìm nguyên nhân sinh ra vũ trụ, trái đất và con người. Nhưng không nên bảo rằng đạo Phật là vô thần. Khi tu hành đạt đến một trình độ tâm linh cao chừng nào đó, hành giả mới nhờ trí huệ bát nhã mà « hiểu » được những vấn đề thuộc về Tuyệt đối (Absolu), sẽ « biết » những điều không nói ra bằng ngôn nhữ phàm được.

Chú thích. Theo Từ điển Đoàn Trung Còn thì Phạm thiên vương còn có nhiều tên : Phạm vương, Phạm thiên, Đại Phạm thiên vương, Ngọc Hoàng thượng đế, Ngọc Hoàng đại đế. Ngài làm chúa tể Tam thiên đại thiên thế giới tức cõi Ta-bà này. Đạo Phật cũng công nhận Ngài là chúa tể cõi Ta-bà thế giới. [Nhưng không nói ngài « tạo » ra thế giới ấy].

43Ông A-Nan nhỏ tuổi hơn đức Phật Thích Ca nhiều. Đức Phật thuyết pháp 20 năm rồi ông A-nan mới xuất gia, 10 năm sau mới thành thị giả. Tại sao kinh nào cũng ghi : « Tôi nghe như vầy » với ý nghĩa là ông A-Nan nghe đủ hết ? Sách trả lời : « Khi nhận làm thị giả cho đức Phật, ông A-nan đã xin mấy điều, trong số đó có mot điều xin đức Phật nói lại cho ông nghe những kinh nào mà ông chưa được nghe. Ông A-Nan còn nghe lại của các vị tỳ kheo lớn tuổi đã nghe nhiều kinh trước ông ». [Phỏng theo sách A Di Đà sớ sao].

Chú thích. Chữ Phạn Ananda phiên âm thành A-nan-đà, nói ngắn là A-Nan. Ông ANan là em họ đức Phật Thích-Ca. Người ta đặt tên ông là Khánh Hỷ bởi vì ông sinh đúng vào ngày đức Phật thành đạo (ngày vui vẻ). Ông A-Nan xuất gia năm 25 tuổi, lúc đức Phật 55 tuổi, từ đó làm thị giả cho đức Phật trong 25 năm [Theo Từ Điển Phật học VN, Hà Nội,1991]. [Thắc mắc : đức Phật thành đạo lúc 36 tuổi, vậy chắc chắn ông A-nan kém Phật 35 tuổi. Nói rằng ông kém Phật 30 tuổi là tính sai rồi !]. [Góp ý : Ông A-Nan sinh : 1 tuổi, Phật : 36 tuổi – A-nan xuất gia : 20 tuổi, Phật : 55 tuổi – A-nan bắt đầu làm thị giả : 30 tuổi, Phật : 65 tuổi. Phật nhập diệt 80 tuổi, vậy thì ông A-nan làm thị giả có 15 năm thôi ! Sao lại nói xuất gia lúc 25 tuổi. Sao lại nói làm thị giả 25 năm? Hai tài liệu trên đây không ăn khớp nhau. Sẽ phải tra cứu thêm].

Tôi đã coi cuốn Tổ Thiền tông của HT Thanh Từ, Phật học viện quốc tế xb, 1981, thấy ghi nơi trang 13 : Tổ A-Nan (sinh sau Phật 30 năm), ghi chú chữ Khánh Hỷ như trên đây, và nói : đến 25 tuổi xin theo Phật xuất gia…làm thị giả ngót 25 năm. Vẫn lúng túng về các số như thế !

Đế Thích

Vua Đế Thích

44Vua Đế Thích (sanskrit : Indra) là một vị thần của đạo Bà-la-môn, đạo Phật coi ngài là vua của cõi trời Đao-Lỵ (cõi này kém cõi trời Dạ-Ma và cõi trời Đâu-Suất cung điện đền đài bằng ngọc gọi là Hỷ Kiến thành. [Tự điển The New Lexicon Webster’s Encyclopedic Dictionary ghi : Indra, Vedic god of rain and thunder, thần mưa và sét. Vedic là nói về Vệ-đà hay Phệ-đà, là kinh căn bản của đạo Bà-la-môn]. [Ghi chú : ông tiên thích đánh cờ tên Đế Thích không dính líu gì đến ông Indra này. Từ điển Trịnh Vân Thanh nói ông tiên ấy tên tục là Lý Chế]. Indra còn có tên khác là Thích đề hoàn nhân hay Thích Ca đề hoàn. Đạo hữu nào biết về Đế Thiên Đế Thích (Angkor) bên Cao Mên thì xin nói thêm giúp tôi vì tôi không biết Đế Thiên, coi sách chỉ thấy Đế Thích thôi. Đa tạ.

Ngày nay ở Ấn-Độ chỉ còn vào khoảng hơn ba triệu Phật giáo đồ trong số chừng 1 tỷ dân, như vậy là gần 0.3 % dân số. Đạo chính của Aán-Độ bây giờ là Aán-Độ giáo, nói tắt là Ấn giáo (Hindouisme, Hinduism), cơ sở triết học là sự đồng nhất cái tiểu ngã với cái Đại Ngã (Tuyệt đối) [cái ta nhỏ của mỗi cá nhân và cái Ta lớn của toàn vũ trụ].

Tiếng nói chính thức của nước Ấn Độ là tiếng Hindi. Trong nước Ấn Độ, chỉ còn một số ít người theo đạo Hồi, vì đa số người Hồi đã lập một nước riêng gọi là Hồi quốc (Pakistan). Lúc đầu, nước này có hai phần cách rời nhau là Đông Hồi và Tây Hồi. Sau Đông Hồi đứng riêng, đó là nước Bangla Desh. Đạo hữu hỏi : ở bên đó, ai kiêng thịt bò, ai kiêng thịt heo, tôi xin chịu ! Riêng tôi thì không kiêng cả hai thứ ! Đến chùa mới kiêng.

45 Đức Phật Thích-Ca có 10 danh hiệu (appellations) là : Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai : Đức Phật dùng chữ này để tự xưng, Như Lai là bậc giác ngộ hoàn toàn (Tathàgata). Ứng Cúng : xứng đáng được cúng dường (arhat). Chánh Biến Tri : biết hết tất cả (samyak-sambuddha). Minh Hạnh Túc : có đủ trí tuệ và đức hạnh (Vidyàcarana-sampanna). Thiện Thệ : đã làm xong các sự lành, không trở lại nữa (Sugata). Thế Gian Giải : hiểu hết sự và lý trên thế gian (Lokavidyà). Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu : bậc cao nhất, dắt chúng sinh vào đường lành như cầm cương ngựa dẫn dắt (Anuttara-purusa-damya-sàrathi). Thiên Nhân Sư : thày dạy trời (chư thiên) và người (Sastà-deva-manu-syànàm), Phật : đấng giác ngộ (Buddha), Thế Tôn : được cả thế gian tôn kính (Bhagavat, Lokanàtha).

Tượng Phật Di Lặc , Trung Quốc

Tượng Phật Di Lặc , Trung Quốc

46Đức Phật A-Di-Đà có 13 danh hiệu (appellations) là (sau mỗi danh hiệu, có chữ Phật. Quang là ánh sáng, hào quang) : 1/ Vô Lượng Thọ (Amitayus) 2/ Vô Lượng Quang (Amitabha) 3/ Vô Biên Quang 4/ Vô Ngại Quang (ngại nghĩa là trở ngại) 5/ Vô Đối Quang (không gì sánh bằng) 6/ Viêm Vương Quang (tỏa sáng nhất) 7/ Thanh Tịnh Quang 8/ Hoan Hỷ Quang 9/ Trí Huệ Quang 10/ Bất Đoạn Quang (không gián đoạn) 11/ Nan Tư Quang ( không thể suy xét cho cùng) 12/ Vô Xưng Quang (khó biết nổi, vì hào quang rời khỏi các tướng) 13/ Siêu Nhật Nguyệt Quang (vượt qua cả mặt trời, mặt trăng). Chú thích. Không được lầm Di-Đà với Vi-Đà. Di Đà do chữ A-Di-Đà nói ngắn. Vi – Đà là thần hộ pháp (có tượng ở các chùa) [ Vi-đà : sanskrit Skanda, génie protecteur de la Doctrine].

47 – Câu hỏi của đạo hữu khó quá ! Tại sao lại truyền pháp bằng hơi cơm ? Tôi phải đi hỏi mãi mới được, đạo hữu phải khen thưởng tôi đấy nhé. Kinh Tịnh Danh kể rằng : tại một cõi nước kia, dân chúng có lỗ mũi rất bén nhậy (tỵ căn phát triển mạnh) cho nên đức Hương Tích Như Lai phải dùng hơi cơm thơm để làm Phật sự, nói rõ ra là thay vì nghe pháp như chúng ta đây (nhĩ căn của chúng ta lanh lợi hơn, thí dụ mắt không nhìn thấy hình ở phòng bên cạnh nhưng tai lại nghe được tiếng ở phòng bên cạnh) thì dân ở đó ngửi pháp ! Không nên ngạc nhiên bởi vì khoa học cho biết rằng nhiều loại chúng sinh có cách nhận biết khác chúng ta.

Bổ túc. Đạo hữu gọi điện thoại đến chùa vào ngày thường, có ai trực đâu mà « bắt phôn »! Nay xin trả lời tiếp : Kinh Tịnh Danh là Kinh Duy-ma-cật. Sự thể như thế này : Chữ sanskrit Vimilakirti phiên âm thành Duy-ma-la-cật, hay Duy-ma-cật hay Duy-ma. Vimi nghĩa là thanh tịnh, kirti là danh hay tên, cho nên người ta dịch là Tịnh Danh. Cư sĩ Vimilakirti là một nhà trưởng giả giàu có, học rộng, biết nhiều, luận về đạo lý rất thông, vượt qua nhiều vị, biện tài ngang với ngài Văn-thù-sư-lỵ (sanskrit : Mansjuri). Kinh Duy-ma-cật, gồm 3 quyển, 14 phẩm, ghi những lời biện luận cao siêu của ngài Duy-ma-cật, đặc biệt nhất là cuộc vấn đáp giữa ngài Duy-ma-cật và ngài Văn-thù-sư-lỵ.

48 – Chúng ta thường nghe nói « tùy theo căn cơ ». Như thế nghĩa là sự học tập hay tu hành không phải ai cũng giống ai, phải tùy sự hiểu biết và khả năng tu tập. Chuyện sau đây rất hay : Có hai đệ tử cầu pháp. Một người được thày dạy phép quán tử thi, một người được thày dạy phép quán hơi thở. Ít lâu sau, hai người có ý xin rút lui vì tu không thấy kết quả. Phật hỏi người thứ nhất : trước khi tu, làm gì ? Người đó trả lời mình là con ông lò rèn. Hỏi người thứ nhì thì người đó nói mình là con ông giám trang, gác nghĩa địa. Phật bèn bảo hai người đổi phép tu cho nhau. Sau, hai người thành công. Con ông quản trang quán tử thi thì rất hợp vì hàng ngày đã biết cảnh đó. Con ông lò rèn luôn luôn quan sát ống bễ phì phò nên không xa gì với sổ tức. Vì hợp, nên thành công !

49 – Nếu tôi không lầm thì đó là chuyện liên quan đến ngài Tu-bồ-đề (phiên âm từ chữ Phạn Subhuti) là một trong 10 đại đệ tử của đức Phật, rất giỏi về lý Không, được gọi là Giải Không đệ nhất. Có lần ngài thuyết pháp xong, ngồi ngay ở hư không. Một vị Thiên vương tới giải hoa nơi ngài ngồi. Ngài hỏi thì vị ấy trả lời : Ngài thuyết hay quá, nên đến giải hoa để mừng. Ngài nói : Không cả mà. Tôi có nói pháp gì đâu. Vị kia trả lời : Thì tôi có giải hoa nào đâu. Chuyện này làm chúng ta nhớ lại câu chuyện giữa Na-tiên tỳ kheo và vua Mi-lan-đà. Sau khi thảo luận về vô ngã, Na-tiên bảo : Tôi có nói gì đâu. Vua trả lời : Thì tôi có trả lời gì đâu. (Tôi nhớ đại khái như vậy, chép ra đây, không giở sách tra cứu được).

50 – Kể ra thì chuyện như thế làm cho mình tức thật, nhưng không có gì phải buồn bực nghĩ ngợi mãi, chỉ thiệt cho mình thôi. Ngay đến các vị tu thật cao cũng còn bị điều nọ tiếng kia cơ mà. Ngài Ca-Diếp (Kasyapa) muốn đi tu, nhưng cha mẹ không thuận và tìm một cô thật đẹp tên là Diệu Hiền mà cưới cho ngài. Nhưng cô ấy cũng quyết chí đi tu nên hai người thỏa thuận với nhau chỉ sống bề ngoài là vợ chồng thôi, trong phòng kê hai cái giường để ngủ riêng. Khi ngài Ca-Diếp quy y Phật rồi thì bà Diệu Hiền ở nhà đợi lâu quá không thấy nhắn tin về nên bà tu theo ngoại đạo. Lúc đức Phật thuận cho phụ nữ đi tu thì ngài Ca-Diếp nhờ một ni sư đi tìm bà Diệu Hiền về quy y Phật. Vì bà đẹp quá nên nhiều người nói này nói nọ. Bà không dám đi khất thực. Ngài Ca-Diếp hàng ngày sẻ nửa phần ăn cho bà, để giúp cho bà sống được mà tu; ấy thế là lại có lời xì xào rằng tu rồi mà hai người còn vướng vít với nhau ! Nhưng cả hai vị tâm hoàn toàn thanh tịnh, vì thế tu đạt đạo quả. Còn ngài Tu-bồ-đề bị người ta chê bai tận mặt mà vẫn bình thản, ai hỏi lý do thì ngài đáp rằng hiểu lý Không rồi thì áp dụng ngay, thấy mọi sự là không, không chấp.

________________________________________________________

(Còn nữa)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s