Phật Học – Thư đi Tin lại (III)


 Tiếp theo Phật Học-Thư đi Tin lại (II)

51 Độ nghĩa là đi qua sông, giúp đỡ. Chữ Phạn Paramita phiên âm là ba-la-mật đa, nói ngắn là ba-la-mật, nghĩa là qua bờ bên kia. Paramita dịch là đáo bỉ ngạn (qua bờ bên kia), ý nói : bên này là bờ u mê, bên kia là bờ giác ngộ. Lục độ là : bốthí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Lục độ ba-la-mật là 6 thứ kể trên, mỗi thứ thêm chữ ba-la-mật ở đằng sau. Bố thí ba-la-mật là bố thí một cách tự nhiên như mình thở vậy, không cần biết vật đem cho giá trị chừng nào, người nhận bố thí là ai, mình sẽ được bao nhiêu phước v.v…, tự mình làm không cần ai thúc đẩy, không mong ai khen ngợi, không phải kể công v.v…Năm chữ sau cũng đại khái như vậy. Tu lục độ ba-la-mật là tu bồ-tát thừa, quả vị là bồ-tát.

52

  1. a) Pháp môn nghĩa đen là cửa pháp, đó là nói về cách tu học. Lấy lời dạy của đức Phật làm phép tắc, đó là pháp. Do nơi ấy mà vào Đạo, mà đắc đạo, đó gọi là cửa, là môn. Khi nói 84 ngàn pháp môn thì có ý nói là nhiều pháp môn lắm, chứ không phải đếm ra cho đủ. Thí dụ : pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh Độ của đức A-Di-Đà.
  1. b) Không có kinh nào là « kinh Tứ diệu đế » cả. Chỉ có kinh Chuyển Pháp Luân là kinh trong đó đức Phật Thích-Ca thuyết về Tứ diệu đế cho nhóm ông Kiều-trần-như (Kaundinya) gồm năm người (họ đã bỏ Phật trước đó khi thấy Phật thôi không tu ép xác nữa). Đế nghĩa là sự thật. Tứ diệu đế là bốn sự thật vi diệu. Đó là Khổ đế (nói về khổ), Tập đế (nói về nguyên nhân của khổ), Diệt đế (nói về diệt khổ và Niết bàn), Đạo đế (nói về con đường thoát khổ, bát chánh đạo). Tứ diệu đế và bát chánh đạo là lý thuyết căn bản của đạo Phật. [Tứ diệu đế : les Quatre Nobles Vérités, the Four Noble Truths. Chuyển Pháp luân : [Tourner la Roue de la Loi, Rolling the Wheel of the Dharma. Bát chánh đạo : la Noble Voie Octuple, the Noble Eightfold Path].
  1. c) Một đạo hữu xác nhận với tôi rằng : chữ « đau khổ » của ta là từ chữ Phạn dukkha mà ra. Hiểu đơn giản thì dukkha là đau khổ. Có sách trình bày về chữ đó mất cả trang ! [Đau khổ : souffrance, douleur; suffering, pain].
Ngài Nhật Liên (Nishiren)

Ngài Nhật Liên (Nishiren)

53Nhật Liên (Nichiren) [1222-1282] là người sáng lập Nhật Liên tông tại Nhật Bản. Ông là con một người đánh cá nghèo ở miền Nam nước Nhật. Tục truyền rằng khi sắp sanh ông thì mẹ ông mơ thấy một bông hoa sen và mặt trời nên đặt tên ông là Nhật Liên. Đi tu từ sớm, đến 15 tuổi trở thành nhà sư. Thoạt tiên ông theo Chân Ngôn tông rồi sang Pháp Hoa tông. Ông thắc mắc nhất về câu : « Giáo pháp thật sự của đức Phật là gì? » và nhất quyết tìm giải đáp. Sau nhiều năm ông nghĩ ra rằng tất cả tinh hoa của Phật giáo nằm ở kinh Pháp Hoa. Nơi tu viện của ông, ông chủ trương chỉ cần niệm « Nam mô Diệu pháp liên hoa kinh » là đủ được giải thoát , vì thế ông bị trục xuất khỏi tu viện. Ra ngoài, ông hoạt động rất mạnh, đả phá rất dữ dội tất cả các tông phái, kết tội họ đã phá hoại Phật giáo và chia rẽ nước Nhật và phương cách duy nhất để cứu đạo và đời là thống nhất tất cả mọi tông phái bằng cách giảng dạy kinh Pháp Hoa và dùng nước Nhật làm trung tâm hoằng pháp, do đó Nhật Liên tông còn có tên là Tân Pháp Hoa tông (New Lotus school). Do các tư tưởng cực đoan cả về tôn giáo và chính trị như trên và do sự hoạt động quá mạnh mẽ của ông, ông bị kết tội tử hình mà vẫn thoát nạn. Sự thoát nạn của ông là do một sự kiện mà mọi người lấy làm lạ : Trời bỗng nhiên vần vũ và thanh đao rớt khỏi tay đao phủ ! Vì thế người ta phải tha ông. Ngày nay, Nhật Liên tông vẫn còn và đã phát triển ra ngoài nước Nhật, vẫn chủ trương niệm « Nam mô Diệu pháp liên hoa kinh ».

55 – Những điều đạo hữu nói đó là mấy chi tiết ở trong kinh Niết-bàn, đạo hữu chịu khó coi cuốn Kinh Đại Bát-Niết-Bàn (Mahaparinibbana) do HT Tâm Châu dịch sẽ thấy đầy đủ diễn biến trước khi đức Phật nhập Niết-Bàn (pali : Nibbana, skt : Nirvana) trong đó có nói việc ông Thuần-Đà (Chunda, Cunda) cúng dàng bữa cơm rồi sau đó đức Phật tịch diệt. Món ăn mà ông Thuần Đà dâng là món gì ? The Seeker’s Glossary of Buddhist trích dẫn Christmas Humphrey như sau : (Chunda🙂 the metal-worker who invited the Buddha to the meal after which he died. The food was described as « pig’s flesh », but mean truffles on which pigs feed. The whole story may be symbolic ». Không phải là ông

Ông Thuần Đà dâng cúng Đức Phật thọ trai

Ông Thuần Đà dâng cúng Đức Phật thọ trai

Thuần-Đà mời « thịt heo rừng » đó là một loại nấm mà heo ăn.

56 Ngũ nhãn (Phạn : panca caksumi, les Cinq sortes d’’yeux, the Five kinds of eyes) là nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn. Nhục nhãn là mắt của người thường như chúng ta(màmsa caksus). Thiên nhãn là mắt của chư thiên và của nhà tu cao, nhìn được mà chẳng luận xa gần, sáng tối, trong ngoài (dyria caksus). Huệ nhãn là mắt trí huệ của các bậc Thanh văn, Duyên giác (prajnà caksus). Pháp nhãn là mắt trí huệ của các bậc Bồ-tát (Dharma caksus). Phật nhãn là mắt của chư Phật (Buddha caksus). Theo một quan niệm mới, đó chẳng qua là những giai đoạn tiến bộ trên đường tu tập, càng lên cao trí tuệ càng sáng tỏ, cho đến lúc thành Phật. Một người Nhật, ông Nikkyò Niwano, trong cuốn Buddhism for Today đã nghĩ rằng năm mắt ấy tựng trưng cho : mắt người thường, mắt nhà khoa học, mắt nhà triết học, mắt nhà nghệ sĩ và cuối cùng là mắt từ bi (material, scientific, philosophic, artistic, compassion).

57Phật tâm tông hay Tâm tông là tên khác của Thiền tông. Tổ của Thiền, phải nói là đức Thích-Ca. Tuy nhiên, các chùa thiền tông đều thờ ngài Bồ-đề-đạt-ma, coi ngài là sơ tổ Thiền tông. Ngài là tổ thứ 28 của Phật giáo (tổ thứ nhất là ngài Ca-Diếp), từ Ấn-Độ sang Trung Quốc lập ra Thiền tông ở đó nên ngài là sơ tổ. Chủ trương của Thiền tông là « Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự, Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật » (Truyền riêng ngoài giáo lý, Không lập chữ nghĩa, Chỉ thẳng tâm người, Thấy tánh thành Phật) [Nhiều người tu thiền dựa vào mấy câu đó, không học kinh kệ gì cả. Thật ra, phải hiểu là học kinh mà không nệ vào kinh, không chấp vào kinh].

Thiền là một phương pháp tu tập. Thiền tông là một tông phái. Thiền, chữ Tàu phiên âm là Tchan hay Chan (chữ này mới hơn), Nhật phiên âm là Zen (Tây phương biết chữ này nhiều hơn). Thiền tông : Tchan-tsoung, Zen-shu. Về Yoga, tôi xin nói một dịp khác, bữa nay không tra sách kịp ! Một thư mà cả chục câu hỏi, cho tôi thở chút xíu, đạo hữu ơi !

Như Lai thiền là thiền do kinh sách từ đức Phật truyền lại. Tổ sư thiền là thiền do Sơ tổ truyền. Tôi kém cỏi, không nói được hai thứ đó khác nhau ra sao, chỉ biết thêm rằng có thiền ngoại đạo không nhằm giải thoát (vậy không phải Phật giáo) và gần đây có cả thiền gì gì nữa, người ta bảo là bậy nhưng tôi chưa trông thấy mà chỉ nghe thấy thôi.

Trong chữ chùa chiền thì chiền có phải do chữ thiền mà ra không? Tôi không biết nên không dám nói. May mà hôm nay, lúc đánh máy khúc này vào năm 2000, tôi tra trong cuốn Tiếng nói nôm na của Lê Gia, thấy rõ chữ chiền là do chữ thiền mà ra.

Thích Minh Châu – Minh Chí viết : Chiền, gốc từ chữ caitya (sanskrit) hay cetya, catyan (pali), người Việt đọc chệch đi thành chiền. Trong văn thơ Nôm cũ, từ chiền đôi khi tách khỏi từ chùa.

“Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao, Chiền vắng am thanh, chỉn thật cảnh đạo nhân du hí “(Trần Nhân Tông, Cư trần lạc đạo phú). “Cảnh ở tựa chiền, lòng tựa sàng” (Nguyễn Trãi, Quốc âm thi tập).

58 – Mới học Phật mà lại xem kinh Pháp Hoa thì « mệt » là phải rồi. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, có chuyện nhà sư kia tụng kinh Pháp Hoa cả ngàn lần mà chẳng hiểu gì cả đấy đạo hữu ạ. Tôi mách câu này : đạo hữu thỉnh quyển Pháp Hoa huyền nghĩa của cụ Mai Thọ Truyền về mà coi, sẽ hiểu, rồi suy nghĩ thêm. Còn đối với quý đạo hữu mới học Phật thì cuốn Phật Học tinh hoa của Nguyễn Duy Cần rất có ích. Có hai cuốn Bước đầu học Phật, một của HT Tâm Châu, một của HT Thanh Từ. Chớ sốt ruột, chớ nản. Học từ từ.

Ngài Phổ Hiền cưỡi voi 6 nhà

Ngài Phổ Hiền cưỡi voi 6 nhà

« Cưỡi voi trắng sáu ngà » là nói về ngài Phổ Hiền (Phạn : Samantabhadra) cưỡi voi trắng sáu ngà. Chi tiết này được giải thích là lục độ của Bồ-tát. Có chỗ nói : sáu ngà tượng trưng cho sự khắc phục được những trói buộc vào sáu giác quan. (The six tusks represent overcoming attachment to the six senses – Theo The Shambala Dictionary of Buddhism and Zen).

 59Khất thực là xin ăn. Đức Thế Tôn và chư Tỳ-kheo mang bát đi khất thực hàng ngày, theo thứ tự qua từng nhà, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, mục đích để cho người ta bố thí gây phước, đồng thời làm giảm cái tự ngã của mình. Về tinh xá, ăn trước giờ ngọ, người ta cho gì thì ăn nấy, dù chay hay mặn. Bữa đó gọi là ngọ phạn (bữa trưa), mỗi ngày chỉ ăn một bữa đó thôi. Quá giờ ngọ (giữa trưa) thì không ăn. Ở Saigon, chúng ta có thấy các vị sư khất thực, đó là Nam tông giữ nguyên lối tu cổ xưa. [chính mắt tôi trông thấy một ông sư đi xích-lô đến chợ, cầm bát khất thực, đến gần trưa lại đi xích-lô về chùa, tôi tự hỏi tu như vậy có nệ hình thức quá không. Có người bảo đó là sư giả! ].

Khi Phật giáo sang đến Trung Quốc thì do ảnh hưởng Đại Thừa, nhà sư không khất thực, tự viện có bếp nấu, ăn chay, nhà chùa tự trồng trọt cày cấy lo lấy miếng ăn, rất vất vả (một ngày không làm, một ngày không ăn, ngài Bách Trượng đã nói). Theo lệ, chỉ ăn bữa trưa, nhưng vì xứ lạnh, ăn một bữa không đủ chống lạnh, nên buổi chiều được phép ăn những thứ còn lại của bữa trưa, nhà bếp không nhúm lò.

Cái bát mà các ngài dùng để đi khất thực có lẽ do tình cờ mà giống chữ bát của ta. Bát khất thực (lớn chứ không nhỏ như bát ăn cơm, trong Nam kêu là chén) ấy là do chữ pali Patta, chữ sanskrit Patra phiên âm mà ra. Xin các nhà ngữ học cho ý kiến.

Sư đi khất thực

Sư đi khất thực

Có ông nói chữ mít của ta (nhà ngói cây mít) là do chữ paramita (ba-la-mật-đa) mà ra, làm tôi sợ quá.

Ghi chú. Đánh máy đến đây, đầu năm 2000, tôi tra trong cuốn Tiếng nói nôm na của Lê Gia, thì tìm được : Bát : do chữ « bát » là cái tô cái chén của các thày chùa đi xin ăn.

60 – Không phải là đời sống trong Giáo hội Tăng già lúc nào cũng yên ổn thoải mái đâu ! Thơi đức Phật còn tại thế, cũng nhiều chuyện lắm. Chúng ta chỉ nghe chuyện Đề-bà-đạt-đa phá hoại Giáo Hội, âm mưu hất đức Phật đi để chiếm chỗ mà đã thấy nhức đầu, huống chi là còn bao nhiêu chuyện lớn nhỏ hết sức phức tạp hàng ngày nữa. Thí dụ như trong kinh Kalacùpama, thuộc Trung Bộ Kinh, ta thấy có một vị tỳ kheo sống liên hệ quá mật thiết với các tỳ kheo-ni, ai chỉ trích thì ông ta nổi giận. Phật phải dạy bảo ông ta về việc quan hệ mật thiết nói trên và sự nóng tính. Trong kinh Kosambiya cũng thuộc Trung Bộ Kinh, ta thấy các tỳ-kheo sống ở Kosambi không những cãi lộn nhau mà còn « thượng cẳng chân hạ cẳng tay » nữa !. Đức Phật phải đến quở trách và giảng cho họ thế nào là lục hòa.

 Ghi chú. Lục hòa : 1/ Giới hòa : cùng giữ giới, phải hòa thuận. 2/ Kiến hòa : cùng học giáo pháp, kiến thức phải hòa. 3/ Lợi hòa : bá tánh cúng dàng thì cùng hưởng. 4/ Thân hòa : chỗ tu hành thường chật chội, nên nhường nhịn nhau. 5/ Khẩu hòa : nhường nhịn nhau về lời nói. 6/ Ý hòa : hòa thuận về ý tứ, chia sẻ vui buồn.

Lục Hòa trong Tăng đoàn

Lục Hòa trong Tăng đoàn

61 – Thế nào là Long Hoa hội, Long Hoa tam hội ? Phải nói dài một chút mới đủ rõ. Hiện nay, có một vị đại bồ-tát tên là Di-Lặc (sanskrit : Maýtreya, Tàu phiên âm là Milei, dịch là Từ Thị) , trụ trên cung trời Đâu-suất (Tushita), gọi ngắn là Đâu-suất. Đức Phật Thích-Ca cho biết rằng ngài Di-Lặc sẽ thành Phật và là vị Phật kế ngay sau đức Thích -Ca. Ngài sẽ ngồi đại định và thành Phật dưới cội cây Long hoa. Gọi là cây Long Hoa vì cây đó hình con rồng và trổ hoa màu vàng. Tại đó ngài thuyết pháp ba hội. Do đó có tên Long Hoa hội hoặc rõ hơn, Long Hoa tam hội. Dưới thời Phật Di-Lặc, đời sống sung sướng lắm nên người ta mong mỏi tới hội Long Hoa mà hưởng phúc.

Chùa bên này cũng nhận được thư nói về hội Long Hoa như bên đạo hữu, thư ấy xác nhận rằng sắp tới hội Long Hoa rồi. Thời buổi này thiếu gì người đầu óc lệch lạc! Chúng tôi coi như thư đó không có, vì theo kinh sách thì còn lâu lắm, cả triệu năm nữa, mới tới hội Long Hoa.

Chú thích. Ngài Di-Lặc (Lặc chứ không phải Lạc) còn có một tên khác nữa là A Dật đa (Ajita). Hiện nay, ngài là một đại bồ tát, tuy vậy chúng ta vẫn quen gọi ngài là Phật. thời vị lai, mới là Phật. Nam mô đương lai hạ sanh Di-Lặc tôn Phật.

Tượng Phật Di Lặc Tôn

Tượng Phật Di Lặc Tôn

62 – Tượng ngài Di-Lặc rất dễ nhận : mập mạp, tươi cười, phanh bụng, có 5 hay 6 đứa trẻ bám quanh. Nhiều người lầm ngài với ông Địa, nhưng cần nhận xét rằng ngài có 5 hay 6 đứa trẻ bám quanh, ông Địa thì không. Trong chùa, đó là tượng cười duy nhất, tất cả các tượng khác đều nghiêm trang, ở thế nhập định. Người ta thấy ngài cười nên gọi ngài là ông Vô lo. Cũng có người thấy ngài mập mạp mà phanh bụng nên gọi ngài là « ông nhịn mặc mà ăn », còn tượng đức Thích-Ca gầy trơ xương sườn được gọi là « ông nhịn ăn mà mặc » (ít chùa có tượng đức Thích Ca gầy gò trơ xương, đó là tượng Tuyết sơn, nhắc lại một kiếp trước của Phật Thích Ca khi ngài ngồi tu khổ hạnh trên Hi mã lạp sơn tức Tuyết sơn). Sáu đứa bé tượng trưng cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tức là lục căn (vì ý là thứ vô hình nên có chỗ bớt đi 1, chỉ còn 5 trẻ thôi). Lục căn tiếp xúc với ngoại cảnh, làm cho con người « động tâm », tham sân si nổi lên, gây ra ba nghiệp thân khẩu ý, do nghiệp đó mà bị luân hồi. Ngài Di-Lặc không bị ảnh hưởng của ngoại cảnh, mắt không vướng hình, tai không vướng tiếng, v.v… nên ngồi cười ! Ngài tượng trưng cho hạnh xả. Xả hết, không chấp bất cứ cái gì do lục căn mang lại.

Mồng một Tết là ngày vía đức Di-Lặc. Phật tử chúc nhau « hưởng một mùa Xuân Di -Lặc », lúc nào cũng tươi, cũng cười, sự đời không ảnh hưởng nổi.

63 – Tối nào cũng sám hối thì rất tốt. Nhưng phải tránh việc làm hình thức. Cần đứng trước bàn thờ Phật, sám hối việc sai trái của mình một cách thành khẩn và nguyện không tái phạm nữa. Nếu tái phạm, lại sám hối kỹ hơn. Sám hối gồm hai việc : bộc lộ sai trái và nguyện không tái phạm. Muốn biết sự sai trái thì phải tự xét mình, đấy là một việc khó, vì thông thường người ta hay thấy lỗi của người khác chứ không thấy lỗi của mình. Xét mình, thấy lỗi của mình, là một việc can đảm. Trước bàn thờ, nhận lỗi ấy, lại can đảm hơn. Nhất định không tái phạm, lại càng can đảm. Vậy gọi là chân sám hối.

Phật tử Sám hối Hồng Danh

Phật tử Sám hối Hồng Danh

Nếu chỉ tụng kinh Thủy sám hay kinh Lương hoàng sám mà không thấy lỗi của mình, không sửa, thì tụng vô ích, việc làm chỉ có hình thức, không ích lợi gì cho sự tu tập. Nên sám hối cả những ác nghiệp gây ra từ trước dù rằng mình quên chi tiết, như thế để xóa nghiệp hay ít nhất là để làm nhẹ cái nghiệp. Ác nghiệp có thể là một nguyên nhân gây ra bệnh tật mà ngày hôm nay mình đang chịu đựng, cho nên có một điều là sám hối có thể làm nhẹ bệnh hay hết bệnh. Điều này có vẻ khó tin, nhưng không phải là không có.

64 Tam cương, ngũ thường là những điều căn bản của Nho giáo. Tam cương là quân thần, phụ tử, phu thê. Ngũ thường là : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Tam quy, ngũ giới là những điều căn bản của Phật giáo. Tam quy là : quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Ngũ giới là : không sát sinh, không ăn trộm, không nói dối, không tà dâm, không uống rượu.

Dựa vào hai cái tam và hai cái ngũ đó mà bảo rằng Nho giáo và Phật giáo cũng như nhau thì quả là quá « bạo miệng »! Tôi không dám chia sẻ ý kiến ây với ông bạn của đạo hữu đâu.

 Tái bút. Hết sức hoan nghênh đạo hữu đã dạy các con và các cháu buổi sáng vái Phật và tổ tiên trước khi đi làm hay đi học.

65 – Từ năm 580, vị sư người Ấn là Tì-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) đến ở chùa Pháp Vân (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) lập ra Thiền phái thứ nhất ở nước Nam, truyền được 19 đời (580-1216) trong có các vị Pháp Hiền (tịch 626), Đỗ Pháp Thuận (tịch 990), Vạn Hạnh (tịch 1018), Từ Đạo Hạnh (tịch 1122). Dòng thiền này còn có tên là dòng thiền Nam Phương.

Từ năm 820, vị sư người Tàu tên là Vô Ngôn Thông đến ở chùa Kiến Sơ (Bắc Ninh) lập ra Thiền phái thứ hai, truyền được 14 đời (820-1221) trong có các vị Ngô Chân Lưu (tịch 1011) và vua Lý Thái Tông (1000-1054). Dòng thiền này còn có tên là dòng Quan Bích.

Thế kỷ thứ XI, vị sư Tàu tên là Thảo Đường được phong làm quốc sư, lập ra Thiền phái thứ ba truyền được 5 đời (1069-1205) trong có các vị vua nhà Lý : Thánh Tông (1023-1072), Anh Tông (1136-1175), Cao Tông (1173-1210). [theo Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu].

Phái Trúc Lâm Yên Tử do vua Trần Nhân Tông lập ra, ngài làm sơ tổ, tiếp đến nhị tổ Pháp Loa, tam tổ Huyền Quang.

66 – Khi nói « 12 bộ kinh » thì không nên hiểu chữ bộ theo nghĩa thông thường, mà phải hiểu là « 12 thể thuyết pháp của đức Phật ». Đó là :

1/ Khế kinh tức là các kinh thấy hàng ngày ở chùa, gọi ngắn là kinh, chữ khế nghĩa là thích hợp với (khế lý, khế cơ).

2/ Ứng tụng tức là các bài kệ nói sau lời giảng.

3/ Thọ ký, trong đó Phật báo trước vị nào sẽ thành Phật.

4/ Phúng tụng là các bài kệ.

5/ Tự thuyết tức là những kinh mà Phật tự ý thuyết, không đợi ai thưa thỉnh hay nêu câu hỏi.

6/ Nhân duyên, giảng về nhân duyên quả báo.

7/ Thí dụ, nói về kiếp trước của một số chúng sanh, cho thấy nghiệp báo luân hồi.

8/ Bổn sự, nói về những việc làm trong các đời trước của đức Phật

9/ Bổn sanh, nói về những kiếp trước của đức Phật.

10/ Phương quảng tức là các kinh Đại thừa, ý nghĩa rộng lớn.

11/ Vị tằng hữu, nói về những chuyện chưa từng có, khó tin.

12/ Luận nghị, trong có các lời bàn luận cao siêu.

Vua Trần Nhân Tông; Trúc Lâm Đại Đầu Đà

Vua Trần Nhân Tông; Trúc Lâm Đại Đầu Đà

67 – Tại sao gọi vua Trần Nhân Tông (sau khi xuất gia) là đầu đà ? Đạo hữu viết không rõ nên lúc đầu tôi tưởng rằng đạo hữu viết « đầu đàn », nếu viết « đầu đàn » thì chắc chắn là sai rồi, dù rằng ngài Hương Vân là sơ tổ của phái Trúc Lâm Yên Tử. Đầu đà là danh từ để nói về tu khổ hạnh, cốt diệt trừ phiền não, giải thoát thân tâm.

Người tu hạnh đầu đà nguyện giữ đúng 12 hạnh đầu đà khó khăn lắm, thí dụ như : chỉ có ba bộ y, chỉ ăn một bữa, sống một mình, ngủ ngồi, ở dưới gốc cây, không giữ tiền v.v… Trong số 10 đại đệ tử của đức Phật, ngài Ca-Diếp là « giữ hạnh đầu đà đệ nhất ». Vua Trần Nhân Tông, sau khi xuất gia, cũng giữ hạnh đầu đà, nên ngài là Hương Vân đại đầu đà. Hiệu khác của ngài là Điều Ngự Giác Hoàng. Tôi hiểu Giác Hoàng là : nhà vua giác ngộ, có lẽ đúng.

Người ta thích thu và giữ nhiều tiền thì mặc người ta, sao lại gọi người ta là « cuối đà »? Theo đạo Phật, luật phổ biến nhất trong vũ trụ là luật nhân quả, ai gieo nhân thì hái quả, không sai chạy đâu. Lợi dụng đạo, tội báo nặng lắm.

68 – Câu chuyện mà đạo hữu nói đó liên quan tới ngài Mục-Kiền-Liên. Mỗi khi có lễ Vu-Lan (Rằm tháng bảy) thế nào người ta cũng nhắc đến việc ngài Mục-Kiền – Liên dùng thần thông xuống tìm mẹ đang bị đọa nơi ngạ quỷ, dâng cơm cho mẹ ăn, nhưng bà ăn không nổi vì cơm vừa tới miệng đã hóa ra cục than hồng v.v… Ngài Mục –Kiền-Liên là một trong mười đại đệ tử của đức Phật, « thần thông đệ nhất », thế mà không cứu được mẹ, phải về cầu xin với đức Phật. Đức Phật dạy rằng phải nhờ đến sự chú nguyện của chư tăng đang tập trung ngày rằm tháng bảy thì mới cứu nổi mẹ…

Chuyện khác : Khi dòng họ Thích bị quân địch vây chặt, sắp chết đói chết khát, ngài Mục-Kiền-Liên dùng thần thông bay vào thành, hóa phép bỏ năm trăm người họ Thích vào bình bát rồi bay ra khỏi vòng vây, khi mở bát ra thì chỉ thấy một bát máu mà không thấy người ! Thì ra những người đó không thể thoát khỏi nghiệp nặng của họ; có thần thông mà ngài Mục-Kiền-Liên cũng không cứu được.

Lại nữa, chính ngài Mục-Kiền-Liên khi đang đi trên đường núi thì bị lũ ngoại đạo lăn đá như mưa từ trên cao xuống để giết ngài. Ngài không tránh kịp, chết dưới tay những kẻ ghen ghét ngài. Bao nhiêu người tiếc thương than khóc. Đức Phật cho biết : ngài Mục-Kiền – Liên đã trả nghiệp một cách bình thản và vẫn giữ chánh niệm ngay khi nguy khốn, an ổn nhập Niết-Bàn đúng như nguyện của ngài. Nghiệp của ngài là gì ? Kiếp trước ngài làm nghề chài lưới, sát hại vô số cá nên ác nghiệp quá nặng, nay phải trả cho hết. Mấy chuyện này cho thấy : không thể qua cái nghiệp. [Tuy nhiên, phải nhớ thật kỹ rằng có thể tu để chuyển nghiệp, mấy chuyện trên đây chỉ cốt nói đến quả báo thôi].

69Kinh Kim Cang tuy ngắn nhưng là một kinh khó, cần phải có người giảng cho mới hiểu ra dần dần. Có nhiều sách giảng giải kinh ấy. Riêng tôi, tôi thấy cuốn Kim Cang giảng giải của HT Thanh Từ dễ hiểu hơn cả (nói đúng ra là dễ hiểu hơn trong số mấy cuốn mà tôi có, chứ tôi có coi hết đâu mà dám dùng chữ « cả »). Khi tôi được hầu chuyện một hòa thượng, tôi nghe ngài nói : rút lại chỉ còn hai chữ là phá chấp. Hay thật!

Trong kinh, có cả mười mấy câu kiểu như câu này : « Vi trần, không phải là vi trần, cho nên gọi là vi trần ». Muốn cho dễ, chúng ta tạm nói : « cái bàn, không phải là cái bàn, nên gọi là cái bàn ». Muốn hiểu thì phải nghe nói dài như sau này : Cái bàn do nhiều thứ như gỗ, đinh, công thợ… hợp lại với nhau mà thành. Cái bàn tự nó đâu có, nó nhờ vào nhiều thành phần mà có. Riêng cái đinh không phải là cái bàn, riêng tấm gỗ không phải là cái bàn v.v…Vậy cái mà chúng ta gọi là cái bàn thật ra không có. Nhưng thiên hạ vẫn cần đến danh từ cái bàn để chỉ đồ vật ấy để cho hiểu nhau, nên cứ gọi nó là cái bàn cho tiện.

Lúc còn ở Saigon, nghe giảng xong, một ông bạn già của tôi lẩm bẩm nói đi nói lại : « bánh mì, không phải là bánh mì, nên mới là bánh mì ». Ai cũng tưởng ông ấy đùa, ai ngờ ổng suy nghĩ suốt ngày rồi « vỡ » ra, hiểu ra!

70 – Khi Phật giáo du nhập Trung Quốc thì Lão giáo và Khổng giáo đã bắt rễ sâu cả năm thế kỷ rồi vào tâm hồn người Trung Quốc rồi. Về phương diện tâm linh, Phật giáo gần gũi với Lão giáo hơn, trong khi Khổng giáo nặng về phần tổ chức sinh hoạt chính trị, đạo đức, tinh thần trong xã hội. Đúng là Phật giáo có mượn chữ « vô vi » của Lão giáo, nhưng dùng với nghĩa khác hẳn. Vô vi trong đạo Lão là không can thiệp vào sự vận hành của tự nhiên (chứ không phải lười không làm gì như người ta thường nói đùa). Vô vi trong đạo Phật là không tạo tác, không có nhân duyên tạo tác, không có ý tạo tác. Hữu vi là có tâm ý, có sắc tướng, vô vi là không có tâm ý, không có sắc tướng. Nói một thí dụ cho dễ hiểu : bố thí mà nghĩ đến phước là hữu vi, bố thí mà không nghĩ gì hết, tự nhiên như hơi thở, là vô vi. Làm bảng vàng thật lớn « ghi tên ai cúng bao nhiêu » là hữu vi, ai làm phước mà mong được khen là hữu vi…

71 – Ở Gia Định, có chùa Già Lam, tôi cũng đã có dịp tới lễ. Như thế, Già Lam coi như là một tên riêng. Tra cứu ra thì già lam là một tên chung để chỉ các chùa chiền. Già-lam là chữ nói tắt từ chữ tăng-già-lam-ma hay tăng-già-lam, mà chữ này lại phiên âm từ chữ Phạn Sanghàràma. Lấy nghĩa mà dịch thì dịch là chúng viên, nghĩa là cảnh vườn (hay cảnh rừng) nơi đó các nhà sư tu hành, vậy chính là chùa chiền vậy. Danh từ lam vũ gồm có chữ lam (lấy từ chữ già lam ra) và chữ vũ (ngôi nhà) có nghĩa là cảnh chùa. Như thế, chữ đó do một chữ phạn và một chữ hán ghép lại, giống như chữ sám hối vậy. [Chữ sanskrit Ksamayati (trong có chữ sám) nghĩa là hối lỗi, chữ hán hối là ăn năn về tội lỗi đã phạm].

72 – Nói về quả báo, chính đức Phật cũng không tránh nổi. Chuyện như thế này : Một ông vua thỉnh Phật và 500 vị tỳ kheo về cúng dàng một thời gian. Khi Phật và chư tăng nhận lời tới, thì ông vua bị Thiên ma ám, ham mê tửu sắc, mà quên lời mời. Phật và chư tăng bị bỏ đói. Có người đề nghị ra ngoài lo liệu, Phật ngăn lại vì đã có lời hứa nhận với nhà vua rồi. Có một người buôn thóc dùng cho ngựa ăn, đi qua thấy tình cảnh đói như vậy, vội xin tạm lấy thóc ấy dùng ngay. Phật đồng ý. Khi ông vua tỉnh lại thì hối hận, xin cúng dàng. Để cho mọi người hiểu, đức Phật dạy rằng : Từ kiếp xa xưa có một người Bà-la-môn cùng năm trăm đệ tử thấy quốc vương cung kính Phật thì ghen ghét và nói : Bọn đầu trọc ấy chỉ đáng lấy thóc dành cho ngựa đem cho ăn mà thôi. Bây giờ đây kẻ Ba-la-môn ấy chính là ta, 500 đệ tử là các tỳ -kheo đây. Phải ăn thóc dành cho ngựa là trả quả báo đấy, nay xong rồi ! [Chuyện nhiều chi tiết hơn, tôi chỉ kể theo trí nhớ già nua của tôi mà thôi].

73Thiền do chữ Thiền-na nói ngắn, và Thiền na là tiếng phiên âm từ tiếng sanskrit Dhyàna (pali : jhàna). Tàu : Chan-na hay Chan (cũ : Tchan). Nhật : Zenna hay Zen. Thực hành Thiền là tập trung tư tưởng liên tục vào một đề tài vật chất hay tinh thần, để đạt đến một trạng thái vắn lặng của tâm. Thiền tông là một tông phái dùng phương pháp thiền; nói vậy thì chua hết ý vì tu Phật, đại đa số phải thiền. Thiền tông lấy tông chỉ ở bốn câu : « Truyền riêng ngoài giáo lý, Không lập chữ nghĩa, Chỉ thẳng tâm người, Thấy tánh thành Phật ». Đạo hữu muốn thiền thì phải tìm thày dạy và chú ý rằng có thứ thiền không phải Phật giáo, ví dụ như xuất hồn, chữa bệnh…

Yoga là một chữ sanskrit nghĩa đen là cái ách, nghĩa là cột mình vào với Thượng đế, với Thiên chúa, tìm cách hòa mình với Thần linh, mục đích đạt được Chân lý. Vậy chữ Yoga có nghĩa rất rộng. Trước thời đức Phật, đó là sự hòa nhập của cái ngã nhỏ (atman, cái tôi, cái ta, cái hồn) vào cái Ngã lớn (Brahman) của toàn thể vũ trụ. [Chú ý : lý thuyết của Phật giáo là không có ta, anatman]. Phái Số luận (Samkhya) của Ấn Độ chủ trương kết hợp tiểu ngã (hay mạng ngã, Jivatma) với Đại ngã (Paramatma) của vũ trụ.

Một người tập Yoga

Một người tập Yoga

 Du-già kinh (Yoga Sutra) không phải là kinh của Phật giáo, mà là kinh của ngoại đạo, có thể do Patanjali soạn vào khoảng hơn một trăm năm trước Tây lịch.

 Du-già sư địa luận [theo truyền thuyết bộ này do ngài Di-Lặc từ trên cung trời Đâu – suất dạy cho ngài Vô Trước, tức là luận sư Asanga] ngài Huyền Trang dịch, đây là một bộ luận nổi tiếng của Phật giáo. Du-già phái (Yogacara) là môn phái tu hành theo bộ luận này, còn có tên là Du-già tông hay Duy thức tông (Vijnanavada).

[Chúng ta nghe đến Yoga, không hiểu, nên cứ nghĩ đến thế tập trồng cây chuối !]

74 – Ở đây, xin nói về Kinh (không nói Luật và Luận) như đạo hữu đã hỏi.

Nam tông, Kinh viết bằng Pali gồm có :

1/ Trường Bộ Kinh (trong có kinh Phạm Võng, kinh Đại bát niết bàn…)

2/ Trung Bộ Kinh (trong có kinh Tứ niệm xứ, kinh Trạm xe…)

3/ Tương Ưng Bộ Kinh (có kinh Thiền định, kinh Bọt nước…)

4/ Tăng Chi Bộ Kinh

5/ Tiểu Bộ Kinh (trong có kinh Pháp Cú, kinh Na Tiên…)

Bốn bộ đầu tiên đã được dịch ra tiếng Việt.

Bắc tông, Kinh viết bằng chữ sanskrit, đã dịch ra chữ Hán, gồm có :

1/ Trường A-hàm

2/ Trung A-hàm

3/ Tạp A-hàm

4/ Tăng Nhất A-hàm

Một số kinh đã được dịch ra tiếng Việt.

Nikàya (pali & skt) : collection of the Pali canon. The Pali term Nikàya is essentially synonymous with the sanskrit term Àgama. The Pali canon consists of five Nikàyas :

Digha-nikàya, Majjihima-nikàya, Samyutta-nikàya, Anguttara-nikàya, Khuddhakanikàya.

Àgama (skt) : Mahayana name for collecions of writings of the Sanskrit canon. Four Àgamas are distinguished : Dirghagama, Madhyamagama, Samyuktagama,Ekottarikagama (Long Collection, Medium Collection, Miscellaneous Collection, Numerical Collection).

75 Giáo điều là một điều do tôn giáo dạy nhưng tín đồ cứ việc chấp nhận, không đem ra chứng minh được, thí nghiệm được. Nói chung tôn giáo nào cũng có giáo điều. Xác nhận rằng « đạo Phật không có giáo điều », có đúng hay chăng ? Câu trả lời sau đây của tôi chỉ là tạm vì tôi không được học triết học và thần học, ngay cả giáo lý đạo Phật, tôi cũng chỉ mới chỉ vờn vờn bề ngoài thôi. Tôi nghĩ rằng mệnh đề « Ai ai cũng có Phật tánh » là một giáo điều của đạo Phật, và « tu đến khi thực chứng Niết bàn » là một giáo điều khác, rồi « thuyết Tam thân : báo thân, ứng hóa thân, Pháp thân » lại là một giáo điều nữa. Người học cao nói : Phải tu đến một mức nào đó thì « thấy, biết » chứ làm sao mà chứng minh ra được. Không chứng minh, ấy là giáo điều. Nhưng tu đến nơi sẽ biết, lại không phải là giáo điều !

Chúng ta nghĩ sao ? Hãy chia thành hai giai đoạn : chưa tu đến nơi thì đó là giáo điều. Tu đến nơi, hết giáo điều !

(Còn nữa)  

_____________________________________________________

Tháng 9, 2015

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s