Phật Học – Thư đi Tin lại (IV)


                               Phật Học – Thư đi Tin lại (IV)

                                (tiếp theo Thư Đi Tin Lại (III)

Lời nói đầu- Chúng tôi đã giới thiệu tác giả những bài Phật học, ông 
Hoằng Hữu Nguyễn văn Phú từ ba năm trước (tháng 5, 2013). Thiết tưởng
ngày nay vài lời giới thiệu với những bạn đợc tác giả bài viết này 
cũng là điều thích hợp.
 Hồi còn ởViệt Nam, Sài gòn, ông Nguyễn văn Phú đã là một người được 
rất nhiều người biết tiếng, nhất là ở những gia đình có con cháu đi 
học Trung học. Ông Phú, một nhà giáo, đã mở những lớp dạy tư về Toán 
(hiệu trưởng trường tư thục Hưng Đạo) và viết nhiều sách dạy Toán, là
 môn thi rất quan trọng để lấy bằng Tú tài.

Sau năm 75, gia đình ông Phú đã di cư sang Montréal, Gia nã Đại. Tại 
đây ông Phú, pháp danh Hoẵng Hữu, đã hoạt động rất nhiều cho Phật giáo.
 Ông Nguyễn văn Phú đã là chủ biên cho tập san Liên hoa của chùa Liên 
Hoa (Brossard, Gia nã Đại) và tập San Pháp Âm của Giáo hột Phật Giáo
 Việt nam trên Thế giới. Với tính cách này, ông Phú đã có dịp trao đổi 
thư tín với các đạo hữu của hai tập san để cùng nhau học tập, mà ông 
gọi là “trau dồi đôi chút về Phật học, ít nhất cũng trên phương diện 
chữ nghĩa chứ không dám nói về tu tập”. Ông Phú đã gom góp những thư 
tín này trong một tập sách nhỏ với tựa đề “Thơ Đi Tin Lại” mà chúng tôi
 giới thiêu ba lần trước.

                          ***

76 – Đạo hữu nghe người ta nói chuyện rằng có thể nhờ tu hành mà hết bệnh và đạo hữu không tin. Có lẽ người kể không kể hết hoặc là đạo hữu không nghe hết. Trong số tất cả các nguyên nhân gây ra bệnh thì không kể nguyên nhân vi trùng xâm nhậcơ thể, còn có một nguyên nhân là tứ đại mất thăng bằng hay nghiệp báo tác động [xin các đạo hữu y sĩ tha cho tôi vì tội không học y khoa mà dám múa mép ! Tôi chép trong sách Phật học ra đấy]. Tại sao một bậc tu cao như ngài Tu-Bồ-Đề, « nhà giải Không đệ nhất », một hôm bị mệt mỏi ? Thật ra, sắc thân do nghiệp báo chiêu cảm là pháp hữu vi cho nên không tránh khỏi khổ, vô thường, phải chịu sinh lão bệnh tử, chỉ có tinh thần là đã giải thoát thôi. Ngài nghĩ : “Nguyên nhân đưa đến thân bệnh này, hoặc là do nghiệp báo quá khứ đến thì phải chịu, hoặc là chướng duyên của thời đại, thuốc men chẳng trừ được tận gốc, chỉ có tin sâu lý nhân quả, sám hối tội nghiệp, tu tập thiền quán, từ tâm không khổ để khiến thân không khổ . Ngài thiền quán và chánh niệm, thấy thân tâm nhẹ nhàng.

[Chuyện này lấy trong tiểu sử ngài Tu-Bồ-Đề, một trong 10 đại đệ tử của đức Phật. Người phàm như chúng ta, phải hết sức thành tâm sám hối liên tục mới mong có kết quả].

77 – Đạo hữu nói : tôi chỉ hỏi hai chữ thôi. Một trong hai chữ ấy cũng mất ăn mất ngủ rồi đạo hữu ơi ! Không là gì ? Bất nhị là gì ? Bữa nay tôi chỉ đủ sức nói một chữ « không » mà thôi. À, tôi chỉ tra sách rồi chép ra thôi nhé, chứ tôi chẳng nói gì đâu, vì không đủ sức (kể cả sức học và sức khỏe) ! Từ điển Phật học Việt Nam của Minh Châu và Minh Chí cho biết : KHÔNG Sanskrit : sùnya; Anh : empty, void, vacant, non-existent. Rỗng không, không tồn tại. Theo đạo Phật, mọi sự vật trong thế giới hiện tượng, to hay nhỏ, giản đơn hay phức tạp, đều do nhân duyên hòa hợp mà thành, cho nên chẳng có thực thể, chẳng thể tồn tại tự bản thân chúng. Do đó có nghĩa là không, chứ không có nghĩa là không có gì hết. Nếu hiểu lầm là không có gì hết, chỉ là hư vô, thì đó cũng là mê chấp (chấp không).

Không còn có nghĩa là siêu việt, tuyệt đối, phi nhị nguyên, mọi mâu thuẫn đều xóa bỏ, là cảnh giới của các bậc Thánh. Đây là một cái Không mà chẳng có danh từ nào hay thuộc tính nào có thể diễn tả được. [Chú thích. Siêu việt : transcendant. Tuyệt đối : absolu. Nhị nguyên : dual. Phi nhi nguyên :non-dual]

La Hầu La xin Đức Phật chia gia tài

La Hầu La xin Đức Phật chia gia tài

78 – Đứng về phương diện trần tục, ở vào địa vị cha mẹ, người ta có thể trách đức Phật bỏ cha và vợ con mà đi tu là làm một chuyện quá đáng. Nhưng đức Phật quan niệm rằng cái hạnh phúc chân thực mà ngài có thể mang lại cho cha, vợ và con là sự giải thoát khỏi tất cả mọi khổ đau, và ngài đã làm được việc ấy. Về chi tiết, việc đi tu của bà Da-du-đà-la và chú bé La-hầu-la (vợ và con thái tử Tất-Đạt-Đa, sau là Phật Thích-Ca) không phải là không có chông gai. Khi La-hầu-la, theo lời khuyên của mẹ, nhiều lần xin Phật chia gia tài nghĩa là xin của báu thì Phật nhờ ngài Mục – Kiền-Liên cắt tóc cho chú bé và nhờ ngài Xá Lợi Phất làm thày và truyền giới cho chú sa di đầu tiên của Tăng đoàn. Chú bé này ở trong hoàng cung với nhà vua là ông nội nên được chiều chuộng quá, có nhiều tật xấu, đặc biệt là ngỗ nghịch, hay nói dối, lừa các bậc trên và khách quý. Đến nỗi đức Phật phải đích thân răn dạy, nay còn ghi lại trong kinh, kinh ấy bắt đầu bằng chậu nước mà La-hầu-la bưng tới cho Phật rửa chân; đạo hữu nên tìm coi cuốn kinh rất hay : kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambà-la, thuộc Trung Bộ Kinh. Xem những chi tiết chú sa di đói vì thiếu ăn và bị khách chiếm mất phòng ngủ phải vào ngồi trong cầu tiêu, chúng ta thương cảm vô cùng. Lớn lên, sa di đổi tính dần dần và trở thành một trong mười đại đệ tử của đức Phật, « mật hạnh đệ nhất ».

Khi La-hầu-la xuất gia rồi, bà Da-du-đà-la buồn lắm. Đến khi dì mà cũng là mẹ nuôi của đức Phật xuất gia thì bà đi theo. Tuy vậy, ở trong ni đoàn vắng lặng, bà không quen vì đời sống cũ của bà là đời sống của một công chúa trong cung điện. Sau, nhờ đức cảm hóa của đức Thế tôn, bà được khai ngộ và đắc quả Thánh. Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật có thọ ký cho bà sau sẽ thành Phật.

Kinh Lương Hoàng Sám

Kinh Lương Hoàng Sám

79 – Có hai kinh dùng để tụng Sám hối. Thứ nhất là kinh Thủy Sám. Kinh này bắt nguồn từ chuyện sau đây : Thiền sư Ngộ Đạt đời nhà Đường bên Tàu là một cao tăng, được nhà vua phong cho chức vụ trọng yếu. Nhân vì một tạp niệm mà bị đau : một cái nhọt hình mặt người mọc ra ở chân, đau nặng, mãi không khỏi, sau nhờ dùng nước do một vị tăng chỉ cho mà trị nên khỏi. Nhân đó sư Ngộ Đạt soạn ra bộ Từ bi Thủy sám pháp. Thứ nhì là kinh Lương Hoàng sám. Vua Vũ đế nhà Lương bên Tàu (trị vì từ 502 đến 549) có một bà hoàng hậu tai ngược, hay hành hạ các cung phi, ghen quá đâm đầu xuống giếng, thác thành ra con trăn to tác yêu tác quái trong hoàng cung. Rồi về báo mộng cho nhà vua xin tìm phép giải cứu. Vũ đế thỉnh chư tăng về soạn kinh Sám hối để giải thoát cho bà ta. Tên kinh là Từ bi Đạo tràng Sám pháp, gọi ngắn là kinh Lương Hoàng sám. Lương là nhà Lương, hoàng là chỉ vua Vũ đế, sám là sám hối.

80 – Tứ y nghĩa là bốn điều để dựa vào mà theo. Trong Phật học, có mấy thứ tứ y nhưng chúng ta dùng nhiều nhất tứ y sau đây gọi là « pháp tứ y » :

1/ Y pháp, bất y nhân, nghĩa là y theo pháp mà không y theo người (người có thể làm sai, làm bậy còn Pháp là lời dạy của đức Phật. Người ngoại đạo mà y theo Pháp để hành, để sống thì vẫn tốt. Người trong đạo mà không hành và sống theo Pháp thì không tốt).

2/ Y liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh, nghĩa là y theo kinh liễu nghĩa mà không y theo kinh bất liễu nghĩa. Kinh liễu nghĩa là kinh đại thừa nói về những điều cùng tột như pháp tánh, Phật tánh. Kinh bất liễu nghiã là kinh tiểu thừa chỉ nói về các vấn đề nhỏ. [Nĩi vay thì khơng cơng bang, miet tieu tha quá!]

3/ Y nghĩa, bất y ngữ, nghĩa là y theo nghĩa mà không y theo y theo lời. Lời chỉ là phương tiện, nên để thì giờ suy nghĩ về đạo lý.

4/ Y trí, bất y thức, nghĩa là y theo trí mà không y theo thức vì thức chỉ là vọng tâm chạy theo trần cảnh không thật bên ngoài.

Kinh Thủy Sám Pháp

Kinh Thủy Sám Pháp

81 – Khi thi sĩ Bạch Cư Dị hỏi : “Thế nào là đại ý Phật pháp?“, thì thiền sư Ô Sào trả lời như sau : “Các điều ác thì chớ làm, hãy làm những việc lành” (Chư ác mạc tác, Chúng thiện phụng hành). Thi sĩ nói : “trẻ lên ba cũng biết” (có lẽ ổng nghĩ rằng đạo nào chẳng dạy những điều dễ dàng như vậy, riêng gì đạo Phật). Thiền sư Ô Sào trả lời: “Trẻ lên ba cũng biết, nhưng ông già tám mươi làm cũng không xong !”.

Thật ra, bài kệ lấy trong kinh ra có bốn câu, mà ngài Ô Sào mới dùng có hai (hay là ngài dùng cả bốn mà người ta chỉ kể ra có hai). Kinh nói rằng ngài Ca-Diếp hỏi ngài A-Nan : “Bài kệ nào mở ra 37 phẩm trợ đạo và mọi pháp?”. Ngài A-Nan trả lời : « Chớ làm các điều ác, Hãy làm các điều lành, Giữ tâm ý trong sạch, Đó là lời Phật dạy » (Chư ác mạc tác, Chúng thiện phụng hành, Tự tịnh kỳ ý, Thị chư Phật giáo). Biển rộng Phật giáo thu nhiếp cả vào trong bài kệ này !

82 – Hành là đi, như bộ hành, hành hương, hành khách. Đó là nghĩa dễ nhất, chúng ta biết cả. Nhưng chữ hành trong đạo Phật thì rộng nghĩa quá cho nên trở thành khó. Thứ nhất, hành là tạo tác của thân, khẩu và ý. Thứ nhì, hành là nội tâm hướng ra ngoại cảnh. Thứ ba, hành là khởi dậy theo nhân duyên. Thứ tư, hành là chữ dùng trong hành uẩn hay hành ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Tôi chép từ Từ điển Phật học Hán Việt ra như vậy, mà bản thân tôi cũng không « nắm » được, chắc phải đợi nghiền ngẫm vài ba năm nữa, đạo hữu ạ. Xin thông cảm ! Đạo hữu hãy nhớ kỹ nghĩa thứ nhất đã.

HÀNH pali : Sankhara. Skt : Samskara. Anh : act, action, conduct. Hành là tạo nghiệp. Mọi hành động nơi thân, khẩu, ý đều gọi là hành. Hành uẩn chỉ tất cả hành tướng tạo nghiệp trong tâm thức chúng sinh. Hành là một mục trong 12 nhân duyên. Vô minh duyên hành nghĩa là vì có vô minh, si mê, nên mới sinh ra tạo nghiệp (hành).

Đó là lời giải thích của hai ông Minh Châu – Minh Chí trong Từ điển Phật học Việt Nam. [ hai ông dùng thêm chữ hành tướng và tâm thức, mệt quá ! Chữ Pháp là formations mentales, volitions, 3 chữ Anh ghi trên đây có vẻ thiếu]. Trong L’enseignement du Bouddha của W. Rahula, Ed. du Seuil, Paris, 1981, ta thấy : « Formations mentales » est une expression généralement employée maintenant pour représenter le sens large du terme samkhara dans la liste des Cinq Agrégats. Samkhara dans d’autres contextes peut signifier n’importe quelle chose conditionnée, n’importe quelle chose dans le monde; dans ce sens là, tous les Cinq Agrégats sont samkhara. (p.42). Le terme samkhara a différentes significations dans différents contextes. (p.83). [Ni cô Thích nữ Trí Hải đã dịch sách này với đầu đề Con đường thoát khổ, Vạn Hạnh, Saigon, 1966. Chùa Pháp Vân, Pomona, Calif., in lại 1983].

Samskara (skt) ; (pali : sankhara) lit. « impression, consequence » generally translated « formations » « mental formational forces » or « impulses », samskara refers both to the activity of forming and the passive form of being formed. .. Formations include all volitional impulses or intentions that precede an action (physical, verbal, mental)…Their presence is the condition for a new rebirth… (Theo the Shambala Dictionary of Buddhism and Zen).

82 – Không nên lầm vi trần với vị trần,(có dấu nặng) hai cái đó khác hẳn nhau. Vi là cực nhỏ, trần là bụi. Vi trần là hạt bụi rất nhỏ, không thể phân chia nhỏ hơn nữa, tạm nói theo bây giờ là nguyên tử. Có nơi dùng chữ lân trần hay lân hư trần với nghĩa giống như thế.

Kim trần là hạt bụi lớn gấp 7 lần vi trần.

Mắt là một căn. Đối tượng của mắt gọi là sắc trần…

Lưỡi là một căn. Đối tượng của lưỡi gọi là vị trần…

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là sáu căn (lục căn).

Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là sáu trần (lục trần). Tại sao dùng chữ trần ? Vì coi chúng như bụi dơ làm nhớp chân tánh người ta.

Sáu căn và sáu trần gọi chung là 12 xứ.

Căn gặp trần tạo điều kiện sinh ra thức (thức là biết). Sáu thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. 6 căn, 6 trần, 6 thức gọi chung là 18 giới.

Bà dì Ba Xa Ba Đế

Bà dì Ba Xa Ba Đế

83 – Phụ nữ mà được xuất gia, nhận vào cửa Phật tu hành cũng là nhờ ngài A-Nan. Khi nhiều vương tôn công tử họ Thích theo Phật xuất gia, thì bà Ba-xà-ba-đề là dì mà cũng là mẹ nuôi của đức Phật cũng xin xuất gia. Thưa thỉnh nhiều lần, nhưng đức Phật từ chối và cùng tăng đoàn đi thật xa. Bà Ba-xà-ba-đề cùng năm trăm phụ nữ dòng họ Thích dắt díu nhau đi theo, đường xa rất vất vả, cực nhọc, trông thật là thiểu não. Tới nơi thì gặp ngài A-Nan, ngài thấy cảnh tội nghiệp, nên nhận lời vào xin với đức Phật. Ngài từ chối nhiều lần, nhưng trước lời khẩn cầu tha thiết của ngài A-Nan, đức Phật đành chấp thuận. Về sau, bà Ba-xà-ba-đề lãnh đạo các tỳ-kheo-ni. [Ghi chú : Bà Ba-xà-ba-đề (Prajâpati) còn tên khác là Kiều-đàm-di hay Kiều-đàm (Gotamide). Người ta còn thêm chữ Ma-ha nghĩa là lớn, đại, ở trước tên của bà].

84 – Ngài A-Nan là một vương tử, oai nghi và đẹp đẽ, ăn nói điềm đạm, là một người rất dễ thương. Vì thế, các cô gái bên ngoài và ngay cả mấy vị ni đang tu cũng « cảm mến » ngài lắm. Ngài cũng hay giúp đỡ cho phụ nữ nhưng với tâm trong sáng, không vướng chút gì gọi là nghiêng về đường tình ái. Tuy vậy, thỉnh thoảng ngài cũng bị tiếng oan. Đây là một thí dụ : Khi một thí chủ cúng dàng rất nhiều bánh, đức Phật nhờ ngài A-Nan đem phân phát cho dân chúng bên ngoài. Mỗi người một chiếc, nhưng khi tới lượt một cô gái thì đúng vào lúc hai cái bánh dính chặt với nhau. Tiện tay, ngài cho luôn hai cái cho cô gái ấy, thế là có tiếng đồn ngay là ngài « ngả » về phụ nữ ! Thế mới biết đi tu khó thật, phải giữ gìn từng chút một mới tránh khỏi miệng tiếng của thiên hạ.

85 Tỳ-kheo hay tỷ-kheo hay tỳ-khưu do chữ pali bhikku hoặc chữ skt bhiksu, nghĩa là khất sĩ, cầm bình bát đi xin ăn mỗi buổi sáng. Người nữ là tỳ-kheo-ni (pali : bhikkuni; skt : bhiksuni). Ngày nay, chỉ có tu sĩ Nam tông mới giữ lệ đi khất thực. Tuy vậy, tăng sĩ Bắc tông cũng vẫn tự gọi mình là tỳ-kheo khi đã thọ đủ 250 giới luật. Ưu-bà-tắc do chữ skt & pali upàsaka là nam cư sĩ, người đã thọ tam quy và ngũ giới, tu hành tại gia. Còn nhiều tên gọi khác : cận sự nam, thiện nam. Người nữ cư sĩ là Ưu-bà-di, do chữ pali & skt upàsika, còn gọi là cận sự nữ, tín nữ. Sa-môn do chữ skt sramana, là chữ dùng để chỉ tu sĩ tu theo đạo Phật (người tu theo đạo Bà-la-môn thì gọi là Bà-la-môn). Tiêu chuẩn của sa-môn là tránh mọi điều ác, làm mọi điều lành, còn xuống tóc, khoác y chỉ là bề ngoài.

86 – Giáo hội không phải lúc nào cũng bình an. Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) không những phá Giáo hội, lập giáo hội riêng mà còn âm mưu giết đức Phật nữa ! Ông ta là anh ruột của ngài A-Nan, là em họ của đức Phật, tu hành lên đến một trình độ cao nhưng vì kiêu ngạo nên muốn cầm đầu Giáo hội, thay thế đức Phật. Lòng sân hận của ông làm cho bao nhiêu thần thông của ông tan biến hết. Một lần, ông ta xin đức Phật ban thêm năm điều giới luật mà ông biết trước rằng ngài không chấp thuận, ông ta làm như thế để tỏ ra rằng tu theo đức Phật không được, phải theo ông ta. Có một số tỳ-kheo mới xuất gia, a-dua với ông ta, lập một giáo hội riêng. Ông ta xui thái tử A-xà-thế (Ajatasattu) cướp ngôi của vua cha. Mấy lần ông tìm cách ám hại đức Phật như lăn đá từ trên núi xuống hay cho voi uống rượu say đến húc đức Phật, nhưng Phật không hề hấn gì. Những hành động ấy làm cho người ta xa lánh ông dần dần, kể cả vua A-xà-thế. Sau, ông ta lâm bệnh nặng, hối hận, mong được yết kiến đức Phật nhưng không được gặp

Đề Bà Đạt Đa định lăn đá giết Phật

Đề Bà Đạt Đa định lăn đá giết Phật

và chết trong đau đớn, tái sanh vào cảnh giới khổ cực.

87 – Các vị tu đến bậc cao có thể có thần thông nhưng không dùng thần thông đó vào những việc phù phiếm. Truyện kể rằng : Khi đức Thế tôn cùng các đệ tử đến một bờ sông nọ thì gặp một tu sĩ nói rằng đã tu luyện được mấy chục năm. Đức Thế tôn hỏi tu sĩ ấy đã đạt được những điều gì. Ông ta bèn đứng dậy, đi trên mặt nước, qua bờ sông bên kia, rồi trở lại, ngồi yên. Đức Thế tôn bảo : Tu luyện mấy chục năm mà kết quả có vậy thôi sao? Ta chỉ cần bỏ ra một đồng tiền là bác lái đò chở ta sang bên kia sông ngay ! Mục đích của đạo Phật là giác ngộ và giải thoát, giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Dù có được thần thông, thì đó cũng không phải là mục đích của đạo Phật

88 – Lục thông hay lục thần thông là sáu phép thần thông sau đây : 1/ thiên nhãn thông, có thể nhìn khắp nơi chốn không trở ngại. 2/ thiên nhĩ thông, có thể nghe hết thảy âm thanh từ khắp mọi nơi. 3/ túc mạng thông, biết được các đời quá khứ, đời này và các đời về sau của mình và của chúng sinh. 4/ tha tâm thông, biết được tâm người khác đang cảm gì, nghĩ gì, lành ác ra sao. 5/ thần túc thông, có thể đi tới bất cứ đâu trong chốc lát. 6/ lậu tận thông, hoàn toàn trong sạch, không còn vướng mắc gì cả. [Ngài Mục Liền Liên là bậc « thần thông đệ nhất » trong các đại đệ tử của đức Phật].

89 – Cuốn “You have been here before” của bác sĩ Edith Fiore và cuốn “Life after life” của bác sĩ Raymond Moody đã được dịch ra tiếng Pháp dưới tựa đề Nous avons tous déjà vécu và La vie après la vie, do nhà Robert Laffont xuất bản. Hai cuốn đó chỉ ghi lại một số chuyện tái sinh do các thân chủ kể lại cho hai bác sĩ tác giả nói trên. Họ xếp thành hồ sơ rồi đem in, không có ý đặt ra một lý thuyết nào cả cho nên sách chỉ là tài liệu sắp xếp mà thôi. Vài chi tiết giống như trong Tử thư Tây tạng, The Tibetan Book of The Dead. Tôi đề nghị đạo hữu coi cuốn Liễu sinh thoát tử của thày Quảng Phú, đỡ mất công tìm tòi xa.

90 – Bạn nói “cho hỏi chút xíu“, chút xíu gì mà phải tìm « bở hơi tai ». Tam giáo thì dễ rồi nhưng Cửu lưu thì bí quá ! Tam giáo là Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo– gọi ngắn là Nho Lão Thích. Cửu lưu là chín dòng tư tưởng ở Trung Hoa thời xưa, chín học phái lớn đó là : Nho gia, Đạo gia, Âm dương gia, Pháp gia, Danh gia, Mặc gia, Tung hoành gia, Tạp gia, Nông gia. Muốn biết mỗi học phái đó chủ trương những gì thì phải coi Trung quốc triết học sử. Một ông bạn tôi chỉ cho tôi cuốn đó, dày cộm, tôi sợ quá bèn … chạy thẳng.

91 – Trong tập san Liên Hoa, có đăng bài thơ mừng chùa Phật Ân ở Minnesota, ký tên đạo hữu Nguyễn Văn Phú và trong đặc san Xuân của chùa Quán Âm Montréal, có mấy bài ký tên Nguyễn Văn Phú. Xin thưa ngay cho rõ : đạo hữu Nguyễn Văn Phú ở tập san Liên Hoa và Pháp Âm có pháp danh là Hoằng Hữu, khi viết bài chotập san Phật giáo thì ký pháp danh kèm theo tên.

92 . Tra cứu trong Phật học phổ thông, khóa thứ 5, trang 144-145, thì thấy nói về hai phái năm dòng : Ngài Huệ Năng không truyền y bát và các Tổ cũng không ấn chứng riêng cho một vị nào. Hai vị đệ tử nổi tiếng là Hoài Nhượng và Hành Tú lập ra hai phái là phái Nam Nhạc và phái Thanh Nguyên. Phái Nam Nhạc có hai dòng là Lâm Tế và Quy Ngưỡng. Phái Thanh Nguyên có ba dòng là Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn. Hai phái năm dòng là như thế.

Ngũ gia thất tông thì như sau : Ngũ tổ truyền y bát cho Lục tổ Huệ Năng. Lục tổ đi về phương Nam, phái Thiền Nam tông của ngài chia thành ngũ gia, đó là : Lâm tế, Quy Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn. Một đệ tử của Ngũ tổ là Thần Tú lập ra phái Thiền Bắc tông. Nói ngũ gia thì hiểu được; gộp hai phái với ngũ gia rồi gọi là thất tông thì khó hiểu vì ngũ gia nằm trong Nam tông rồi !

Trí Khải Đại Sư - Tông Thiên Thai

Trí Khải Đại Sư – Tông Thiên Thai

93 – Trí Khải đại sư của tông Thiên Thai cho rằng đức Phật « tùy bệnh mà cho thuốc » « tùy căn cơ mà thuyết pháp » và đại sư đưa ra giả thuyết rằng 45 năm hoằng pháp của đức Phật có thể chia ra làm năm thời kỳ như sau : 1/ Thời Hoa Nghiêm, 21 ngày. 2/ Thời A-hàm (hay Lộc Uyển), 12 năm. 3/ Thời Phương Đẳng, 8 năm. 4/ Thời Bát Nhã, 22 năm. 5/ Thời Pháp Hoa, 8 năm. Đó gọi là ngũ thời thuyết pháp.

Tuy là giả thuyết nhưng nhiều người chấp nhận vì hợp lý. Có người chỉ chia làm ba thời kỳ thôi.

94 – Sa-môn phiên âm từ chữ phạn Sramana, theo nghĩa mà dịch thì dịch là công lao, cần tức (chăm làm việc thiện, dứt bỏ nghiệp ác). Chữ sa-môn chỉ người xuất gia tu Phật, vậy chữ này nghĩa khá rộng. Gọi một cách dễ dàng là nhà sư. Tì-kheo, tì-khưu, tì khiêu phiên âm từ chữ phạn bhiksu, nghĩa là nhà sư đã thọ cụ túc giới (giữ 250 giới). Tì-kheo-ni, tì-khưu-ni, tì-khiêu-ni phiên âm từ chữ phạn bhiksuni là sư nữ đã thọ cụ túc giới (giữ 348 giới). Thông thường, gọi là sư ông, sư bà. Sa-di là người con trai mới đi tu, giữ 10 giới. Hay được gọi là chú tiểu hay chú điệu. Chữ chú tiểu hay chú điệu cũng không hoàn toàn rõ ràng, có khi dùng để chỉ những chú ít tuổi mới xuất gia, thọ tam quy ngũ giới, làm việc quét dọn, lau chùi, thỉnh chuông, thắp nhang v.v…ở trong chùa. Sa-di-ni chỉ cho phái nữ mới đi tu, giữ 10 giới. Xuất gia rồi, mỗi khi tham dự một kỳ an cư kiết hạ thì kể là một tuổi đạo. Đủ 20 tuổiđạo thì được gọi là thượng tọa (sư ông). Đủ 40 tuổi đạo thì được gọi là hòa thượng (sư cụ). Chưa tới thượng tọa thì gọi là đại đức (sư bác). (Bên Nam tông, chữ đại đức chỉ địa vị thật cao). Thứ tự sắp xếp cao thấp ở trong chùa dựa vào tuổi đạo chứ không dựa vào tuổi đời.

95 – Hiểu “cõi Sa-bà” là trái đất chúng ta đang ở là hiểu thiếu sót nhiều lắm. Theo quan niệm của đạo Phật thì cả thái dương hệ là một thế giới, 1 tỉ thế giới ấy gọi là tam thiên đại thiên thế giới, do đức Phật Thích Ca cai quản, đó mới là cõi Sa-bà (hay Ta-bà, chữ này do chữ phạn Saha phiên âm ra). 1000 thế giới làm thành 1 tiểu thiên thế giới. 1000 tiểu thiên thế giới làm thành 1 trung thiên thế giới. 1000 trung thiên thế giới làm thành 1 đại thiên thế giới (gồm 1000 x 1000 x 1000 thế giới).

Đại thiên thế giới còn gọi là tam thiên đại thiên thế giới. Chữ tam thiên phải hiểu là 1000 x 1000 x 1000 = 1 tỉ.

96 – Người Phật tử đứng đắn không chấp nhận kỳ thị Tiểu thừa Đại thừa. Về vấn đề này, T.T. Thích Trí Đức đã viết : “Sau khi nghe tụng kinh Kim Cang, ngài Lục tổ Huệ Năng đã chứng ngộ và khi trả lời một câu hỏi của Ngũ tổ, ngài nói một câu rất siêu việt : Con người có Nam có Bắc chứ Phật tánh không có Nam Bắc. Với câu đó nếu được đem áp dụng vào việc nghiên cứu kinh điển thì tự nhiên ta biết rõ điều chi đáng thủ, điều chi đáng xả, để đi sâu vào tinh thần chung của Phật giáo mà cái quan niệm Đại thừa Tiểu thừa không làm cách ngại được”.

97 – Khi coi kinh sách, đạo hữu nên để ý rằng một số sự việc, một số chi tiết chỉ có ở xã hội Ấn Độ cách đây trên 25 thế kỷ. Vì thế ta nên bỏ qua, không nên chấp. Thời đó, có tục ném thây người chết vào rừng (rừng ấy gọi là thi lâm, rừng tử thi). Nay không có thế nữa, chẳng nên « kêu ca » rằng làm như thế là… mất vệ sinh ! « Ngày vía là ngày gì ? » . Đó là ngày để nhớ đến, để nhắc đến, ta có thể hiểu là ngày kỷ niệm. Chư Bồ-tát, chư Phật không phải là những nhân vật của lịch sử loài người, làm sao ta biết sinh nhật hay kỵ nhật được. Tuy nhiên, vừa rồi HT Huyền Tôn cho biết ba ngày vía của đức Quán Âm tương ứng với ngày đản sinh, ngày thành đạo, ngày tịch diệt của ngài.

Nhật Liên Đại sư

Nhật Liên Đại sư

98 – Nếu đạo hữu hỏi ý kiến riêng của tôi thì tôi xin trả lời như sau : Tôi cũng có đi chùa, có tụng kinh Pháp Hoa mà chẳng hiểu gì cả. Lúc đó, có lẽ là sau Tết, chùa tụng kinh Pháp Hoa, tôi nghe nói Pháp Hoa là vua của các kinh nên cũng tò mò, và cũng đánh bạo (tuy bụng thấy lo lo) vì mẹ tôi nói rằng tụng kinh Pháp Hoa hay bị « đổ nghiệp » nghĩa là nghiệp kéo đến nhanh cho chóng hết (nhưng mình phải chịu đựng nhiều). Vì không hiểu nên tôi tìm tòi. Tôi được cuốn Pháp Hoa huyền nghĩa của cụ Mai Thọ Truyền. Tôi rất « ưng bụng » vì mấy lý do sau đây : 1/ Mỗi phẩm đều có tóm tắt, nên người đọc nắm được ý chính. 2/ Giải thích các nghĩa ẩn đằng sau nghĩa đen, lời giải thích hợp lý nên người đọc dễ chấp nhận. 3/ Lời văn mới, sáng sủa, thích hợp với thời nay. 4/ Cuối cùng có phần tổng kết. [Ngay trong phần mở đầu, cụ Mai có nói đến sách nghiên cứu về kinh Pháp Hoa của tác giả người Pháp E. Burnouf, chắc chắn cụ chịu ảnh hưởng].

Cuốn Buddhism for ToDay của tác giả người Nhật Nikkyo Niwano là một cuốn sách nổi tiếng, vừa dịch kinh Pháp Hoa, vừa giảng đạo Phật. Tôi nghĩ rằng mục tiêu của tác giả nhằm trình bày Phật pháp khi dịch kinh Pháp Hoa, thí dụ ông ta nói cả về Tứ diệu đế, Nhân duyên quả báo, Thập nhị nhân duyên, .. cho đến Thập như thị, giảng một số danh từ như pháp, ngũ nhãn…, giới thiệu một số đại sư như các ngài Trí Khải. Nhật Liên…Tôi không thấy có ý kiến gì độc đáo, nhưng sách nổi tiếng (mới dịch ra tiếng Việt năm 99) vì thanh niên đỡ phải tìm tòi nhiều và đỡ lạc vào rừng danh từ (thí dụ : tác giả dịch tên bồ-tát Phổ Hiền là Universal Virtue thay vì giữ chữ phạn Samantabhadra). Thật ra cuốn đó dịch ba kinh là Đại thừa Vô lượng nghĩa, Pháp Hoa, và Quán Phổ Hiền bồ tát. Nay có cuốn khác, cũng của Nhật, cũng dịch ba cuốn kinh vừa nói, tựa đề là The Threefold Lotus Sutra : The Sutra of Innumerable Meanings, The Sutra of the Lotus Flower of The Wonderful Law, The Sutra of Meditation on the Bodhisattva Universal Virtue.

99 – Bạn đọc thư người khác, bạn không hiểu vì ổng đánh máy chữ mà không bỏ dấu, nay « đổ lên đầu » chúng tôi, nhờ giải thích. « Tòa soạn » (!) vừa uống rượu chay, vừa bàn : chữ tam xa của bạn nếu hiểu là tầm xa của súng thì không nên, chiến tranh mãi rồi nhớ đến súng làm chi ; hiểu là tam xà thì e phạm giới vì rượu ngâm ba con rắn (tam xà đại hội) tuy không uống mà chỉ nghĩ thèm không thôi cũng gây ý nghiệp ; thôi phải hiểu theo tự điển Phật học, tam xa là ba cỗ xe, đó là ba thừa : thanh văn thừa, duyên giác thừa và bồ tát thừa. Còn nữa : hay là tâm xả đấy, vì trong tứ vô lượng tâm từ bi hỷ xả, rõ ràng có tâm xả.

100 – Câu hỏi này « hóc búa » thật. Vô vi là gì ? Đó là một danh từ của đạo Lão. Khi đạo Phật truyền bá tới Trung quốc thì đạo Lão đã có mặt từ lâu. Dịch kinh Phật, người ta đã dùng danh từ của đạo Lão, đó là trường hợp chữ vô vi. Đại khái, vô vi trong đạo Lão là không can thiệp vào sự vận chuyển của thiên nhiên (chứ không phải là « ngồi chơi sơi nước » – sơi rượu chay – như bạn nói đùa) [he (man) is to be still, quiet and passive, so that the Way, ultimate Reality, the universe of being, may act through him without let or hindrance, R.B.Blakney, The Way of Life, Lao Tzu, p.39]. Tra tự điển Đoàn Trung Còn, ta thấy : « Vô vi (non agir). Vi là tạo tác. Vô vi là không tạo tác, không có nhân duyên tạo tác, không cố ý tạo tác, tự nhiên không tạo ra bốn tướng : sinh, trụ, dị, diệt. Vô vi tức là Chân lý, tức là Niết-bàn, Vô tướng, Thậttướng, Pháp giới. Vô vi trái với hữu vi. Những cái chi có tâm ý, có sắc tướng là hữu. Còn không tâm ý, không sắc tướng là hư không, là vô vi. Hữu vi là vô thường, vô vi là thường. Bố thí một cách vô vi là bố thí mà không dòm món đồ mình thí, không dòm người mình thí, không tính cho sự bố thí ấy thành quả phước… ».

(Còn nữa)

 


		

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s