Làm việc với Tổng Thống Ngô Đình Diệm (I)


          History is an argument without end
             --- Peter Gyel (1887-1966)   
                                                      Đào Viên
                   Lời nói đầu - Trong bài viết trước đây, bài 
Dinh Độc Lập và thuyết Phong Thủy, chúng tôi đã có dịp giới thiệu 
ông Trần Lê Quang, Kỹ sư Kiều Lộ, một người biết rất nhiều về 
Dinh Độc Lập tại Sài gòn. Với bài viết dười đây của chính đương 
sự, ông Trần Lê Quang kể lại những kinh nghiệm của ông trong bẩy 
năm làm việc trực tiếp với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, với tư cách 
là một Bộ Trưởng trong chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam.
Ông Trần Lê Quang sinh năm 1918, theo đạo Phật, pháp danh Đào 
Tuệ, đã mất ngày 11 tháng 10, 2015, hưởng thọ 98 tuổi.

 

Sau khi du-học tại Pháp tôi trở về làm việc tại Việt-Nam trong thời-gian 13 năm, từ năm 1951 tới năm 1964. Trong khoảng thời-gian 13 năm đó, tôi hân-hạnh được tham-gia chính-phủ Ngô-Đình-Diệm hơn 7 năm, từ tháng 9 năm 1956 cho tới tháng 11 năm 1963.
Dưới đây tôi xin nhắc lại những biến-cố chính-trị tại Việt-Nam tôi được chứng-kiến, cùng với những kỷ-niệm riêng của tôi trong thời-gian 7 năm rất sôi-động đó.
Những biến-cố chính-trị tôi nhắc-lại có thể không được hoàn-toàn chính-xác, vì đây là những chi-tiết còn lưu-lại trong trí nhớ của tôi mà thôi. Tất cả những văn-khố và tài-liệu của tôi đều bị thất-lạc khi tôi từ giã Việt-Nam năm 1964 để đi làm việc tại nước ngoài.

Ông Trần lê Quang (năm 2014)

Ông Trần lê Quang (năm 2014)

Thật-sự mục-đích của bài viết nầy là để thuật lại những sự-kiện tôi còn nhớ, chủ yếu để cho con cháu được biết cho vui mà thôi, chứ không phải để cống-hiến những dữ-kiện chính-xác cho sử-liệu. Do đó, nếu có sai-lầm hoặc sơ-sót chút ít về thời-gian hay điạ-thế, có lẽ cũng không quan-trọng cho lắm.

Gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Ngày 12 tháng 9 năm 1956. Lúc bấy giờ tôi đang phụ-trách chức-vụ Tổng Giám-Đốc Công-Quản Hoả Xa Việt-Nam, Saigon. Tại trụ-sở của Hoả-Xa gần Chợ Bến-Thành và cạnh công-trường trước kia gọi là Công-Trường Cuniac, tôi đang giải-quyết như thường ngày khác những khó-khăn do du-kích phá-hoại gây ra trên hệ-thống đường sắt, thì điện-thoại của tôi reo lên. Tùy-viên của Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm yêu-cầu tôi tới ngay yết-kiến Tổng-Thống. Tôi phập-phòng lo-âu vì chưa bao giờ tôi được hân-hạnh gặp mặt Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm.

Tôi tới Dinh Độc-Lập nửa giờ sau đó. Tổng-Thống Diệm tiếp tôi trong văn phòng làm việc thường ngày của Ông, bên lầu phiá tay trái của Dinh Độc-Lập.

Tôi rất ngạc-nhiên nhận thấy văn-phòng rất đơn-sơ của một vị Tổng-Thống. Chỉ có một bộ-ván chân qùy, trên đó trãi một tấm chiếu và đặt một tủ trà. Tổng-Thống Diệm thường làm việc ngồi quanh trên bộ ván với một bộ tách trà bên cạnh. Tôi không biết Ông có uống nhiều trà khi làm việc hay không, nhưng chắc-chắn là Ông hút rất nhiều thuốc lá, có lẽ cả mấy bao mỗi ngày. Khách Ông tiếp đều được mời ngồi trên những ghế mây xếp chung quanh bộ ván làm việc của Ông.

Sau vài câu thăm-hỏi thường-lệ, Tổng-Thống Diệm, không quanh co, vào ngay vấn-đề: Ông muốn tôi thay-thế Ông Trần-Văn-Mẹo trong chức-vụ Bộ-Trưởng Giao-Thông và Công-Chánh.

Theo Hiến-Pháp của Đệ-Nhất Cộng-Hoà do Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm thành-lập hồi tháng 10 năm 1955, tổ-chức chính-phủ Việt-Nam cũng tương-tợ như tổ-chức chính-phủ Mỹ. Phụ-trách các Bộ là những Bộ-Trưởng do Tổng-Thống chỉ-định, có trách-nhiệm trực-tiếp đối với Tổng-Thống. Tuy-nhiên khác với tổ-chức chính-phủ Mỹ, các chức-vụ Bộ-Trưởng Việt-Nam không phải lệ-thuộc vào sự chấp-nhận hay chuẩn-y nào của Quốc-Hội.

Ông Trần-Văn-Mẹo lúc bấy gìờ phụ-trách 2 Bộ, Công-Chánh và Kinh-Tế. Sau đó không lâu, tôi được biết Ông bị dính-líu với một vụ buôn-bán gạo do chính-phủ tổ-chức tại miền Trung. Giá gạo lúc bấy giờ đang gia-tăng bất thường tại điạ-phương nên chính-phủ tổ-chức một cuộc phân-phối gạo với một giá phải-chăng được chính-phủ trợ giúp. Không may cho Ông Mẹo, mà có lẽ Ông cũng không được biết, một số gạo nói trên bị khám-phá tích-trữ ở một vài chiến-khu Việt-Cộng tại chân núi miền Trung. Đó là lý-do tại sao Tổng-Thống Diệm bãi-chức Ông Trần-Văn-Mẹo.

Ngoài quyết-định để tôi thay-thế Ông Trần-Văn-Mẹo tại Bộ Công-Chánh, Tổng-Thống Diệm cũng chỉ-định Phó Tổng Thống Nguyễn-Ngọc-Thơ tạm-thời thay thế Ông Mẹo trong chức-vụ Bộ Trưởng Kinh-Tế. May cho tôi, nhờ đó tôi tránh được phải gánh trách-nhiệm Bộ Kinh-Tế, một Bộ đầy chông-gai của một nước đang trong tình-trạng chiến tranh.

Tôi không hân-hạnh được báo tin trước quyết-định của Tổng-Thống Diệm vì tôi không có chân trong vòng thân-cận của Ông, hoặc quen biết các cố-vấn liên-hệ. Ai có thể tưởng-tượng sự bối-rối của tôi như thế nào ? Từ khi tôi trở về làm việc cho Công-Quản Hoả-Xa Việt-Nam cách đó 5 năm, tôi chưa bao-giờ nghĩ rằng tôi phải liên-hệ tới thể-chế chính-trị của nước nhà.

Sự ngại-ngùng và lo-lắng của tôi còn tăng thêm nữa vì lúc bấy giờ trong đại gia-đình, tôi có hai người em ruột đang hoạt-động trong Mặt Trận Giãi-Phóng Miền Nam. Đây là một sự-kiện không giấu-giếm ai được! Mặt Trận là một tổ-chức của nhiều nhân-vật, phần đông là người miền Nam, được sự hổ-trợ của Chính-phủ Xã-Hội Chủ-Nghiã miền Bắc do Hồ-Chí-Minh lãnh-đạo, với mục-đích lật-đỗ chính-phủ VN Cộng-Hoà miền Nam.

Lúc bấy giờ tại miền Nam VN có rất nhiều gia-đình gặp phải trường-hợp như gia-đình tôi. Sự khác-biệt chính-kiến thường xẩy ra giữa các thành-viên của gia-đình. Không khác nào như vỹ-tuyến số 17 — do Hiệp-Định Genève năm 1954 phân chia lãnh-thổ Việt-Nam làm đôi — đi xuyên ngang các gia-đình liên-hệ! Tuy nhiên sự đoàn-kết cố-hữu của người Việt trong một đại gia-đình lúc nào cũng cố-gắng tạm-thời gác lại những bất-đồng chính-kiến, tạo sự hoà-thuận, che-chở, cứu-vớt nhau trong lúc hoạn-nạn.

Trong tình thế chính-trị chưa rõ-rệt lúc bấy giờ, đứng trước sự bất-ngờ đề-nghị của Tổng-Thống Diệm, tôi thật-sự không có thời-giờ để suy-luận, hoặc tìm cách thối lui. Tôi có cảm nghĩ rằng nếu tôi từ chối, quyết-định đó có thể mang lại cho tôi nhiều hậu-quả không lường trước được. Tôi không có một hậu-thuẩn chính-trị nào sau lưng để nương tựa, lại thêm nhược-điểm có 2 người em ở phiá chống đối chính-phủ. Tôi bắt buộc ưng-thuận đề-nghị của Tổng-Thống Diệm với ý-nghĩ không chừng một ngày nào đó trong tương lai, tôi có cơ-hội êm-thấm rút lui. Biết đâu trong khi chờ đợi, tôi có thể thành hữu-dụng như một cột thu-lôi (paratonnerre) để hoá-giải được những “sét chính-trị” rơi xuống đầu 2 người em tôi bất cứ lúc nào.

Những rắc rối của tình hình chính trị bấy giờ

Quân-Đội Pháp thất-thủ tại Điện-Biên-Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954, 2 năm trước đó. Người Pháp phải ra đi, nhưng họ cũng cố-tình để lại cho Chính-phủ Quốc-gia miền Nam nhiều vấn-đề an-ninh, xã-hội, cũng như nhiều gánh nặng phải giải-quyết. Trước hết là phải tiếp đón gần 1 triệu người miền Bắc di-cư vào miền Nam (tương-đương với 1/25 dân số của Việt-Nam lúc bấy giờ). Chính-phủ miền Nam phải định-cư số đồng-bào di-cư đó vào những phần đất-đai chưa khai-thác đầy-đũ và còn xử dụng được tại miền Nam, với những phương tiện rất thiếu-thốn, cả về mặt nhân-lực cũng như tài-nguyên lúc bấy giờ.

Ông Trần lê quang (năm 2012)

Ông Trần lê quang (năm 2012)

Vấn-đề an-ninh, xã-hội cũng rất phức tạp. Không biết bao-nhiêu tổ-chức tự-vệ như nhóm Bình-Xuyên, giáo-phái Hoà-Hảo, Cao-Đài, v.v., tự coi mình như một “Quốc-gia tự-trị” trong Quốc Gia Việt-Nam. Họ khai thác những sòng bạc, những nơi ăn chơi trụy-lạc, khắp Saigon và Chợ-Lớn, lộng-hành buôn bán thuốc phiện, vàng, bạc, đá quí, kể cả súng đạn, qua các biên-giới với hai nước láng-giềng Kampuchéa và Lào. Tình-thế chính-trị rối loạn không biết sẽ bùng nổ lúc nào !

Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm được sự ủng-hộ của chính-phủ Mỹ, đang thay thế chính-phủ Pháp tại miền Nam Việt-Nam. Tổng-Thống Diệm thành-công diệt-hạ bằng quân-lực nhóm Bình-Xuyên. Ông cũng khôn-khéo đưa một vài lãnh-tụ của các tổ-chức giáo-phái Hoà-Hảo và Cao-Đài vào vòng quy-luật và kiểm-soát của Ông.

Giữa 2 năm 1954 và 1956, Tổng-Thống Diệm thật-sự đã cải-tổ chính-phủ nhiều lần, trước khi bãi-nhiệm Ông Trần-Văn Mẹo và đề-cử tôi thay-thế Ông Mẹo tại Bộ Công-Chánh, ngày 12 tháng 9 năm 1956 như nói trên. Tôi tham-gia Chính-phủ Ngô-Đình-Diệm kể từ ngày đó cho tới ngày 2 tháng 11 năm 1963, tổng cộng hơn 7 năm.

Trong suốt thời-gian đó, chẳng những Tổng-Thống Diệm phải đương-đầu với kháng-chiến Việt-Cộng đang tìm đũ mọi cách để phá-hủy thể-chế của Ông, mà Ông còn phải giải-quyết những bất đồng ý-kiến trong nội bộ giữa Ông và một số đảng phái, chính-trị gia và tướng lãnh trong Quân-Đội, vì họ cho rằng những chính-sách của Ông có phần chuyên-chế.

Quân-Đội bất-bình với những ưu-thế mà Tổng-Thống Diệm giao cho họ-hàng gia-đình của Ông. Nhứt là cho Ông em Ngô-Đình-Nhu, Cố-Vấn Chính-Trị tối-cao của Tổng-Thống. Cũng như đối với Ông anh của Tổng-Thống, Đức-Cha Ngô-Đình-Thục, Tổng Giám-Mục tại Vỉnh-Long. Đức-Cha là một bức tường không ai đi vòng qua được tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu-Long. Cũng như em của Tổng-Thống, Ông Ngô-Đình-Cẫn, không khác nào như một “Phó-Vương” đầy uy-quyền tại miền Trung Việt-Nam.

Ba anh em ông Ngô Đình Diệm (Nhu, Thục, Diệm)

Ba anh em ông Ngô Đình Diệm (Nhu, Thục, Diệm)

Nhưng sự bất-bình chủ yếu về việc Tổng-Thống Diệm bổ-nhiệm nhiều nhân-sự dân-chính cũng như quân-đội vào những chức-vụ quan-trọng, không am-hiểu sự việc, không có kinh-nghiệm hay khả-năng tối-thiểu về nhiệm-vụ giao-phó. Đa số chỉ căn-cứ trên sự trung-thành, ngoan-ngoãn, ít ra là bề ngoài, với Tổng-Thống.

Trong tình-trạng nghi-kỵ, bất đồng ý-kiến nội bộ nói trên, Tổng-Thống Diệm phải trải qua một cuộc đảo-chánh đầu tiên ngày 11 tháng 11 năm 1960, do một tiểu-đoàn nhảy-dù đóng gần Saigon với một số sĩ-quan nhảy-dù trẻ tuổi chủ mưu. Nhờ một vài sự-kiện may-mắn và thuận-lợi, T.T. Diệm thắng được cuộc đão-chánh nầy.

Không may cho tôi, trong số sĩ-quan nhảy-dù trẻ tuổi chủ-mưu, lại có 2 người em cột-chèo của tôi, Trung-Tá Vương-Văn-Đông và Trung-Tá Nguyễn-Triệu-Hồng. Trung-Tá Hồng bị tử-nạn khi cuộc đảo-chánh tiến-hành. Đó là một trong những lý-do khiến cho cuộc đảo-chánh thất bại. Các sĩ-quan chủ-mưu cuộc đảo-chánh trốn thoát được qua Kampuchéa.
Ngay hôm sau cuộc đão-chánh thất bại, Tổng-Thống Diệm cải-tổ sâu rộng Chính-phủ. Tôi đang lo là thế nào Ông cũng hạ-lịnh bắt tôi bỏ tù. Hoặc ít nữa, không cần tới sự cộng-tác của tôi nữa. Theo sự suy-đoán phiến-diện của dư-luận bên ngoài, rõ-ràng tôi có liên-hệ gia-đình với hai sĩ-quan chủ-mưu của cuộc đảo-chánh!

Trung Tá Vương Văn Đông

Trung Tá Vương Văn Đông

Tôi rất ngạc-nhiên khi nghe Tổng-Thống Diệm yêu-cầu tôi tiếp-tục cộng-tác với Ông, tham gia trong chính-phủ mới cải-tổ. Ông đề-nghị trao cho tôi một Bộ Ông vừa thành-lập, gồm nhiều Bộ của chính-phủ trước, sát nhập lại dưới tên là “Bộ Đặc-Trách Cải-Tiến Nông-Thôn”. Bộ nầy gồm Bộ Canh-Nông, Bộ Cải-Cách Điền-Điạ, Ngân-Hàng Nông-Nghiệp và Phủ Tổng-Ủy Dinh-Điền (trước kia trực-thuộc Phủ Tổng-Thống). Bộ mới thành-lập nầy quan trọng, nhiều trách-nhiệm hơn Bộ Công-Chánh tôi phụ-trách trước đây.

Trong trường hợp khó xử của tôi lúc bấy giờ, với hai người em trong Mặt Trận Giải-Phóng Miền Nam, hôm nay lại thêm hai người em cột-chèo suýt nữa lật đổ chính-phủ trong một cuộc đảo-chính không thành, tôi không thấy có cách nào thối-thác trong giai-đoạn nầy được như tôi đã từng suy-nghĩ và hy-vọng trước đây. Tôi buộc phải chấp-nhận tham-gia chính-phủ Ngô-Đình-Diệm một lần nữa, thêm 3 năm cho tới ngày 2 tháng 11 năm 1963.
Trong chức-vụ mới, Cải-tiến Nông-thôn, tôi phải cố-sức học-hỏi thêm để am-hiểu và quản-trị nhiều kỹ-thuật và dự-án canh-nông, rất xa-lạ với những sự hiểu biết trước kia của tôi về công-chánh và cầu-đường ! Người ta thường nói: “Nhiều khi trong rủi-ro, có sự may-mắn”!

Tìm hiểu thái-độ của Tổng-Thống Diệm

Trong đoạn kế-tiếp sau đây, tôi sẽ cố-gắng tìm hiểu tại sao Tổng-Thống Diệm có vẻ khoan-hồng đối với tôi, trong nhiều giai-đoạn cực-kỳ nguy-hiểm cho tánh-mạng, cũng như cho chính-phủ do Ông lãnh đạo.

Không lâu, sau cuộc đảo-chánh không thành ngày 11-11-1960, Tổng-Thống Diệm lại phải đương-đầu với một vụ ám-sát hụt tại Dinh Độc-Lập. Ngày 27 tháng 2 năm 1962, hai sĩ-quan không-quân Phạm-Phú-Quốc và Nguyễn-Văn-Cử, với hai máy bay đầy bom đạn được lịnh đi rãi bom trên chiến-khu Việt-Cộng tại vùng Bắc Saigon. Hai đương-sự lại quay máy bay trở lại thủ-đô, và nhiều lần bay thấp xuống trên không-phận Dinh-Độc-Lập, thả bom xuống lầu phiá bên tay mặt của Dinh, nơi cư-ngụ của gia-đỉnh Ông Cố-Vấn Ngô-Đình-Nhu.

Lầu phiá bên tay mặt của Dinh Độc-Lập sập nát. Hai vợ chồng Ông Cố-Vấn Ngô-Đình-Nhu may thoát nạn, chỉ bị vài trầy-trụa sơ-sài. Vụ bỏ bom nầy rõ-ràng nhắm vào Cố-Vấn Ngô-Đình-Nhu, vì Tổng-Thống Diệm thường ngày làm việc trong giờ đó tại từng lầu bên tay trái của Dinh Độc-Lập, rõ-ràng Ông không phải là mục-tiêu của vụ ám-sát.

Dinh Độc Lập bị phá xập với bà Ngô Đình Nhu

Dinh Độc Lập bị phá xập với bà Ngô Đình Nhu

Sau vụ ám-sát này, Tổng-Thống Diệm không cải-tổ chính-phủ. Ông chỉ thay đổi một vài tướng-lãnh và sĩ-quan Quân-Đội có liên-hệ và cho củng-cố an-ninh phòng-vệ Phủ Tổng-Thống chặt chẻ hơn nữa.

Dinh Độc-Lập bi hư hại nhiều nên phải phá-hủy toàn-vẹn để xây mới trở lại. Công-trình tái-thiết giao cho Kiến-Trúc-Sư Ngô-Viết-Thụ. Công-tác xây cất Dinh phải mất hơn 2 năm. Trong thời-gian chờ đợi xây cất Dinh Độc-Lập, tư dinh và văn-phòng của Tổng-Thống phải tạm-thời dời về Dinh Gia-Long, không cách xa cho mấy đối với Dinh Độc-Lập.

Chính tại Dinh Gia-Long, Tổng-Thống Diệm lại bị một cuộc đảo-chánh mới nữa, ngày 1 tháng 11, năm 1963. Cuộc đảo-chánh nầy do Đại-Tướng Dương-Văn-Minh cầm đầu với nhiều tướng lãnh khác tham-gia. Nhưng lần nầy, Tổng-Thống Diệm không được may-mắn như mấy cuộc đảo-chánh trước. Cả hai Anh Em, Tổng-Thống Diệm và Cố-Vấn Ngô-đình-Nhu bị thảm-sát trong trường-hợp với nhiều ưẩn-khúc vẫn chưa được sáng tỏ.

Đó là mốc thời-gian chấm-dứt sự tham-gia của tôi với Chính-phủ Ngô-Đình-Diệm.

Kỷ niệm cá nhân với Tổng-Thống Diệm

Sau đây là vài kỷ-niệm của riêng tôi, trong thời-gian hơn 7 năm nói trên.

1/- Vụ ám-sát hụt Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm tại Bammethuot.
Tôi còn nhớ rõ sự việc nầy, suýt chút nữa đã chấm dứt sự-nghiệp của Tổng-Thống Diệm, trước những cuộc đảo-chánh của Quân-Đội Việt-Nam tôi vừa kể lại ở trên.
Tổng-Thống Diệm tổ-chức một buổi lễ long-trọng để khai-trương Chương-Trình Dinh-Điền tại Bammethuot trên Cao-Nguyên, vào cuối năm 1956. Ngày nào tôi không còn nhớ rõ, tôi vừa nhậm chức-vụ Bộ Trưởng Giao-Thông Công-Chánh không lâu. Cùng với nhiều Bộ Trưởng và viên-chức quan-trọng khác trong chính-phủ, tôi tháp tùng Tổng-Thống trong buổi lễ khai trương nói trên tại Bammethuot.

Tôi không rõ tổ-chức an-ninh buổi lễ như thế nào, vì việc đó ngoài vòng trách-nhiệm của tôi tại Bộ Công-Chánh. Một cán bộ Việt-Cộng đã trà-trộn vào được trong phái-đoàn tới dự lễ. Đương-sự, khi tới gần Tổng-Thống Diệm, rút khẩu súng lục nhắm vào Tồng-Thống và nhả ra một loạt đạn, rồi súng bị kẹt. Rất may cho Tổng Thống, những viên đạn đầu tiên không trúng Ông, mà lại trúng Ông Bộ Trưởng Cải-Cách Điền-Điạ Đổ-Văn-Công, đi sau Tổng-Thồng và trước tôi chỉ vài bước. Ông nhận lãnh mấy viên đạn, khiến bị thương-tích suýt nguy cho tánh mạng của Ông !

Bắt giữ kẻ ám sát hụt T.T. Diệm

Bắt giữ kẻ ám sát hụt T.T. Diệm

Sự việc nầy chứng-tỏ tổ-chức an-ninh của chính-phủ chưa được chặt-chẽ và cần được cải-tiến để được hiệu-quả hơn nữa. Rất may, việc nầy không thuộc trách-nhiệm của tôi.

2/- Phát triền giao-thông tại Việt-Nam
Tổng-Thống Diệm thường yêu-cầu tôi phát-triển mở mang thêm nhiều đường-xá và kinh-ngòi tại miền Nam Việt-Nam. Mục-đích chính-trị thường chi-phối mục-đích kinh-tế. Nhiều dự-án là để đi tới các điạ-điểm dinh-điền mà Tổng-Thống quyết-định xây dựng khắp lãnh-thổ miền Nam Việt-Nam, nhứt là dọc theo ranh-giới với 2 nước láng giềng Lào và Kampuchéa, trên Cao-Nguyên cũng như tại Đồng-Bằng Sông Cửu-Long.
Chiến-lược của Tổng-Thống Diệm chủ-yếu là phải tranh-thủ và thành-lập tại những nơi hiện nay ít dân cư, dọc theo ranh-giới với các nước láng giềng nói trên. Mục-đích là để ngăn chặn, không cho đối phương lợi dụng những điạ-điểm xa-xôi ít dân cư đó để thành-lập những chiến-khu hoạt-động chống Chính-phủ miền Nam.

Nhưng theo nhận xét vấn-đề của riêng tôi, cũng như của Bộ Công-Chánh, là việc phát-triển một hệ-thống giao-thông để đi tới những điạ-điểm xa-xôi đó không phải dễ-dàng thực-hiện.

– Trứớc hết là phải huy-động một số lượng lớn nhân-sự và phương-tiện chuyên môn tới các điạ-điểm đó. Nhưng muốn huy-động nhân-sự và phương-tiện, là phải xử-dụng một hệ-thống giao-thông nào có sẵn để đi tới các điạ-điểm xa-xôi đó. Việt-Nam không có phương-tiên chuyên-chở bằng máy bay hay trực-thăng những dụng-cụ cơ-giới công-chánh thường nặng-nề. Do đó, nếu chưa có sẵn một hệ-thống giao-thông đường bộ tối-thiểu, thì vấn-đề rất nan-giải!

Xe ủi đất Komatsu mang lên Cao Nguyên

Xe ủi đất Komatsu mang lên Cao Nguyên

– Bài toán thứ hai là muốn xây cất bất-cứ một hạ-tầng cơ-sở giao-thông nào thì cũng cần phải có một vài dữ-kiện về điạ-hình trên mặt đất và điạ-chất dưới mặt đất. Đối với một nước chậm tiến và trong tình-trạng chiến-tranh như Việt-Nam lúc bấy giờ, những dữ-kiện tiên-quyết đó ít khi có được.

Do đó, Bộ Công-Chánh ít khi có được cơ-may hội đủ được những điều-kiện tiên-quyết cần-thiết trước khi khởi-công những dự-án giao-thông tại các điạ-điểm dinh-điền do Tổng-Thống Diệm đề-nghị. Đối với phần lớn các dự-án là phải gác lại những lề-lối kỹ-thuật căn-bản, để “tùy-cơ ứng-biến” !

Tôi xin lấy thí-dụ điển-hình sau đây. Tổng-Thống Diệm yêu-cầu tôi xây cất tại điạ-điểm trước kia gọi là “3-ranh-giới” (3-Frontières), trên Quốc-Lộ 14 đi từ Saigon tới Cao-Nguyên qua Thủ-Dầu-Một, Đồng-Xoài, 3-ranh-giới, Bammethuot, v.v.

Lúc bấy giờ tại miền Nam Việt-Nam, muốn đi từ Saigon lên Cao-Nguyên không có cách nào khác là phải đi vòng quanh theo Quốc-lộ 14, qua các tỉnh lỵ và điạ-điểm nói trên cho tới Bammethuot. Rồi từ đó mới có thể tiếp-tục đi xa hơn nữa về phiá Bắc, tới Pleiku, Kontum, v.v. Đường đi rất vất-vả khó-khăn.

Chỉ sau đó hơn 4 năm, tôi mới thực-hiện được với chương-trình viện-trợ Mỹ hai quốc-lộ mới, cả trăm cây số qua nhiều đèo núi, nhưng có đầy đủ đặc-điểm kỹ-thuật của một xa-lộ với 2 lằn xe. Một lộ đi từ Ninh-Hoà tới Bammethuot và một lộ đi từ Qui-Nhơn tới Pleiku, trên Cao-Nguyên.

Trở lại dự-án “3-ranh gìới”, mục-đích do Tổng-Thống Diệm chỉ-định là nối Quốc-Lộ 14, tại điạ-điềm “3-ranh gìới” nói trên, với 2 điạ-điểm Dinh-Điền “Gia-Nghiã” và “Nghi-Xuân” mà Tổng-Thống vừa thành-lập cách đó vào khoảng 10 cây-số, giữa rừng rậm tại điạ-phương.
Vùng “3-ranh-gìới” khá nhiều núi-non, có chỗ thông-thoáng cỏ tranh, nhưng có nơi rừng-rậm, cây cao cả chục thước. Những điạ-đồ có được, như loại điạ-đồ Pháp thuộc để lại gọi là “Điạ-Đồ Tham-Mưu với tỷ-lệ 1/100.000”, có đường cao-độ cách-nhau khoảng 25 cms. Nhưng vùng Cao-Nguyên có nhiều điạ-điểm mà những đường cao-độ nói trên không được bảo-đảm chính-xác.

Các điạ-đồ đều được thành-lập căn-cứ trên ảnh chụp từ máy bay. Các đường cao-độ, nếu có, chỉ là cao-độ của các ngọn cây, vì mặt đất không thấy được rõ từ máy bay trên không. Do đó, các dự-án đường lộ, khi căn-cứ trên các điạ-đồ đó để ước-định những khối đất cần đào-xới và di-chuyển, nhứt là tại những nơi có nhiều sỏi đá, lắm khi sai-lầm cả chục, cả trăm ngàn thước khối! Đó là những sai-lầm quá lớn đối với những phương-tiện cơ-giới chúng tôi có được tại Việt-Nam lúc bấy-giờ.

Nhưng khó-khăn hơn nữa, tại vùng “3 ranh-giới”, là những bản đồ “Tham-Mưu tỷ-lệ 1/100.000” của Pháp thuộc để lại không có đường cao-độ nào hết! Thú-thật, chúng tôi chỉ còn phương-pháp “tùy-cơ ứng-biến”, lắm khi hơi “phiêu-lưu” một chút !
Trên thực-tế, chúng tôi thu-xếp thực-hiện với hai chiếc máy ủi-đất (buldozers), đi từ hai điểm đầu đường. Máy nầy và máy kia dùng kim-chỉ-nam để đại-khái tự hướng dẫn mình. Khi 2 máy ủi đất tới gần nhau, thì căn-cứ trên tiếng cây-cối mà mỗi máy hạ xuống giữa rừng êm-lặng và âm-u, để tự hướng dẫn tới chỗ gặp nhau giữa rừng. Sau đó, khi 2 máy ủi đất đã gặp nhau, chúng tôi mới thấy rõ được điạ-thế ra sao rồi mới điều-chĩnh lại đồ-án để tôn-trọng một vài đặc-điểm kỹ-thuật căn bản tối-thiểu. Với lối thực-hiện dự-án hơi “phiêu-lưu” đó, chúng tôi ước-mong không gặp phải những trường-hợp vô-phương cứu-chửa !

Lẽ cố-nhiên, phần lớn các dự-án đường lộ đi tới các địa-điểm dinh-điền trên Cao-Nguyên chỉ là đường đất, chưa tráng đá và tráng nhựa, vì không đũ phương tiện và thiếu thời-giờ. Tôi không biết ngày nay các con đường thô-sơ đó còn tồn tại hay không, dưới những trận mưa dầm của thời-tiết nhiệt-đới tại Việt-Nam.

3/- Dự-án thủy-điện Danhim
Vào năm 1958/1959, theo chỉ-thị của Tổng-Thống Diệm, tôi liên-lạc với Chính-phủ Nhựt-Bổn để thảo-luận về việc xử-dụng số tài-nguyên Bồi-Thường Chiến-Tranh Thế-Chiến thứ II của Nhựt Bổn dành cho Việt-Nam. Chúng tôi tới kết-luận xây dựng một hệ-thống thủy-điện tại Dran gần Đà-lạt, trên một chi-nhánh nhỏ của Sông Đồng-Nai, tên Danhim.

Đập Danhim (Dran)

Đập Danhim (Dran)Guồng nước thải sau đập

Kỹ-sư Trưởng của Hảng Tư-Vấn Nhựt-Bổn Nippon Koei, Ông Kubota, là một Kỹ-sư lớn tuổi, có nhiều kinh-nghiệm và khả-năng kỹ-thuật, với tánh-tình ôn-hoà dễ thương. Sư giao-dịch giữa tôi với Ông rất thân-mật, vì hai người thông-cảm với nhau về kỹ-thuật công-chánh. Tôi với Ông nhiều khi họp và thảo-luận với nhau tại Bộ Công-Chánh cả buổi sáng, về Dự-Án Danhim.

Chúng tôi đồng-ý xây dựng một đập đất ngang sông Danhim, tại Dran, để hình-thành một hồ nước với một khối lượng đủ để sản-xuất điện-lực cho thành-phố Saigon trong mùa hạn-hán. Một đường giây điện cao-thế 160 kilo-volts sẽ đưa năng-lực điện về tới Saigon, trên 300 cây số, băng qua rừng rậm giữa nhà máy thủy-điện tại chân núi Phan-Rang cho tới vùng Saigon.

Mục-đích là để chấm dút, sớm được chừng nào tốt chừng nấy, sự khai-thác các nhà máy nhiệt-điện tại Saigon, từ xưa tới nay sử-dụng than đá Hòn-Gay. Nay miền Nam không còn được tiếp-tế than Hòn-Gay nữa vì sự phân chia lãnh-thổ Việt-Nam ra đôi sau Hiệp-Định Genève, nên việc tiếp-tục khai-thác các nhà máy nhiệt điện Saigon rất tốn kém vì phải nhập-cảng than đá từ ngoại-quốc, tốn không biết bao nhiêu ngoại-tệ.

Ngoài mục-đích sản-xuất điện-lực cho vùng Saigon, dự-án thủy-điện Danhim còn có mục-đích sử-dụng khối nước bổ-túc chuyển từ lưu-vực Sông Đồng-Nai qua lưu-vực đồng-bằng Phan-Rang. Mục-đích là để canh-tác, cải-tiến tình-trạng khô-cạn thiếu nước của vùng đồng-bằng nầy, hằng năm chỉ nhận được không đầy 900 mms nước mưa, so với 1.500 mms tại vùng đồng bằng Sông Cửu-Long, và hơn 2.500 mms nước mua tại vùng Huế. Rất tiếc là cho tới nay 2008, mục-đích xử-dụng khối nước bổ-túc nói trên chưa đuợc chính-phủ VN thu-xếp để thực-hiện.

Dự-án thủy-điện Danhim kết-thúc vào cuối năm 1964, khi tôi từ-giả Việt-Nam để ra nước ngoài tìm việc làm. Tuy nhiên vùng Saigon lúc bấy giờ vẫn chưa nhận được một kilowatt điện-lực nào cả của dự-án Danhim vì đường giây cao-thế trên 300 cây-số băng rừng bị phá-hoại liên-tục. Chỉ tới hơn 10 năm về sau, khi chiến-tranh chấm dứt, đường giây cao-thế nói trên mới sửa-chữa lại được và vùng Saigon mới tiếp nhận được điện-lực của Dự-án Danhim.

Để kết-thúc kỷ-niệm của tôi đối với Dự-án Danhim, mà nay tôi còn lưu-luyến với nhiều tình-cảm đặc biệt, tôi xin nhắc lại một vài sự-việc mà có lẽ ít người được biết.
Ngày khai-trương công-trình xây-cất đập đất tại Dran, tôi cố-ý muốn tổ-chức một cuộc lễ có duyên-dáng và tính-cách đặc-biệt, khác hơn là môt cuộc cắt băng khánh-thành như thường-lệ, không ý-nghiã. Tổng-Thống Diệm tới công-trường sẽ đọc một diễn-văn quan-trọng nói về chương-trình phát-triển kinh-tế nước nhà trong năm qua và các năm sấp tới.

Tôi thu-xếp với Kỹ-sư Kubota, chuẩn bị một hộp bằng bê-tông. Khi Tổng-Thống Diệm đọc xong bài diễn-văn, tôi lấy bài diễn-văn đặt vào hộp bê-tông, chôn vùi vào khối đất, để sau nầy nằm trong cả triệu thước khối đất và bê-tong của Đập Dran, một cách vĩnh-viễn.
Tôi cũng yêu-cầu Kỹ-sư Kubota giúp cho tôi một đặc-ân: Vì có được khí-hậu mát mẻ của vùng Dran, tôi xin Kỹ-sư Kubota giúp trồng trên đập đất Dran, phiá hạ lưu, một số cây Hoa-Đào Nhựt-Bổn, để nhớ lại tình hữu-nghị giữa Việt-Nam và Nhựt-Bổn sau nầy.

Tôi từ giã Việt-Nam để đi nước ngoài làm việc cuối năm 1964. Hồi tháng 8 năm 2004, tức là hơn 40 năm sau, tôi có cơ-hội trở lại thăm viếng Việt-Nam. Trong thời-gian đó, tôi đi một vòng vùng Dalat, Nhatrang, Phan-Rang, để xem lại những dự-án mà tôi đã đóng-góp xây-dựng trong mấy năm làm việc với Tổng-Thống Diệm.

Tại nhà máy Thủy-Điện Phan-Rang, tôi hân-hạnh được Ông Giám-Đốc cho phép thăm viếng các chi-tiết nhà máy. Tôi rất vui nhận thấy Dự-Án Danhim hôm nay hoạt-động rất tích-cực và hữu-hiệu. Ông Giám-Đốc cũng xác-nhận với tôi rằng hệ-thống thủy-điện Danhim thật-sự chỉ hoạt-động sau năm 1975 khi đường giây cao-thế được sửa-chửa lại.

Tôi vui và rất cảm-động nhận thấy trên một bản lưu-niệm trong nhà máy, có ghi tên hai kỹ-sư Việt-Nam trẻ tuổi mà tôi bổ-nhiệm phụ-trách công-trường dự-án thủy-diện Danhim lúc bấy-giờ: Kỹ-sư cầu-đường Trần-Ngọc-Oành, phụ-trách thực-hiện đập Dran, và Kỹ-sư điện-lực Dương-Kích-Nhưỡng, phụ-trách thi-công nhà máy thủy-điên tại chân núi Phan-Rang. Kỹ-sư Oành, không may bị tử-nạn tại Thái-Lan khi vượt biển sau tháng 4 năm 1975. Kỹ-sư Dương-Kích-Nhưỡng hiện nay còn mạnh khoẻ và đang cư-ngụ tại Mỹ.
Khi viếng thăm đập đất Dran, tôi hơi thất-vọng không thấy các cây Hoa-Đào Nhựt-Bổn mà tôi yêu-cầu Kỹ-sư Kubota giúp trồng trên đập đất. Tôi không biết lý-do tại sao ? Có thể vì lý-do kỹ-thuật: Rễ của cây có thể làm mất sự bền vững của đập đất.

4/- Nhà Máy Xi-Măng Hà-Tiên
Miền Nam Việt-Nam khi xưa không có nhà máy sản-xuất xi-măng. Xi-măng được cung-cấp từ các nhà máy ở miền Bắc. Sau khi lãnh thổ VN bị chia cắt, nhu cầu tiêu-thụ xi-măng tại miền Nam lại gia-tăng liên-tục, nên xi-măng phải nhập-cảng từ ngoại-quốc, tốn kém rất nhiều ngoại-tệ !

Muốn sản-xuất xi-măng phải có nguyên-liệu đá vôi, với một khối lượng đáng kể ! Khốn nỗi, miền Nam Việt-Nam rất ít nguyên-liệu đá vôi. Vùng Đà-Nẳng có một hòn núi cỏn-con gọi là Hòn Núi “Cẩm-Thạch”, xưa nay dân-chúng điạ-phưong khai-thác để điêu-khắc những tượng đá và đồ trang-trí thô-sơ. Chúng tôi không dám đề-nghị hủy-bỏ hòn núi cẩm-thạch đó để lấy đá vôi làm xi-măng, vì các thế-hệ hậu-sinh có lẽ không bao giờ tha-thứ chúng tôi về việc hủy-diệt những kỳ-quan tại Đà-Nẳng, như hòn núi cẩm-thạch.

Vùng Rạch-Giá/Hà-Tiên có một vài hòn đá vôi cỏn-con, rải-rác trên cánh đồng mênh-mông ngập nước. Riêng tôi, tôi còn nhớ các hòn núi đá vôi đó khi tôi sống tại Hà-Tiên thời thơ-ấu.
Tổng-Thống Diệm rất vui-mừng và chấp-thuận dự-án sản-xuất xi-măng tại vùng Hà-Tiên, vì ý-kiến đó đúng với chiến-lược của Ông, là thiết-lập những khu kinh-tế mới tại những nơi hiện nay dân cư còn thưa-thớt, với mục-đích để tranh-thủ chống lại việc lập chiến-khu của cộng-sản miền Bắc.

Nhưng khi xây dựng một nhà máy xi-măng tại vùng Hà-Tiên, việc khó-khăn đầu tiên là vấn-đề chuyên-chở. Thật vậy, xi-măng sản-xuất phải chở từ Hà-Tiên tới vùng tiêu-thụ Saigon, trên hơn 600 cây số, bằng đường sông-rạch của đồng bằng Sông Cửu-Long, mà an-ninh lúc đó chưa được bảo-đảm cho lắm. Nếu một xà-lan xi-măng bị phục-kích chìm giữa một kinh rạch nhỏ nào đó, thì sự chuyên chở có thể bị bế-tắc trong một thời-gian lâu vì Việt-Nam lúc bấy giờ không có phương tiện cần-trục đủ năng-lực để kéo lên một xà-lan đầy xi-măng đóng cục, nặng cả ngàn tấn.

Để giải-quyết sự khó-khăn chiến-lược về chuyên-chở nói trên, chúng tôi đề nghị chia đôi chương-trình kỹ-thuật sản-xuất xi-măng tại hai nhà máy khác nhau. Tại nhà máy Hà-Tiên, sản-xuất giai-đoạn đầu: nghiền đá vôi với đất sét, nung ra thành “clinker”. Kế-đó chở “clinker” về tới vùng Saigon, bằng xà-lan thông-thường, không cần bao-gói gì cả. Giai-đoạn kế-tiếp, tại nhà máy vùng Saigon, là xây nghiền “clinker” ra bột, trộn thêm một vài vật-liệu bổ-túc cần-thiết để thành xi-măng, cho vào bao giấy, sẵn-sàn để phân-phối trên thị-trường.
Lý-do giải-quyết sự khó-khăn chuyên-chở như nói trên, là lợi dụng đặc-tính kỹ-thuật của chất nửa-chừng “clinker”. Vật-liệu nầy như sỏi đá, nếu có bị chìm trong nước, không đóng cục lại như xi-măng, và có thể lấy clinker ra khỏi xà-lan, với một cần-trục nho-nhỏ thông-thường, từng khối vài trăm kilos một. Như vậy có hy-vọng lấy lên cả trọng-lượng clinker trong xà-lan bị chìm, rồi sau đó đem cả xà-lan trở lên mặt nước để giải-quyết sự bế-tắc kinh rạch trong thời-gian sớm nhứt.

Dự-án xi-măng Hà-Tiên đã thực-hiện như dự-định, với một nhà máy “clinker” đặt tại Kiên-Lương, trên bờ Kinh Hà-Tiên/Rạch-Giá, và một nhà máy xây nghiền clinker ra thành xi-măng, đặt tại Thủ-Đức. Cả hai nhà máy nầy tới nay hoạt-động hữu-hiệu và đã đóng góp cho kinh-tế Việt-Nam một phần lợi-tức rất đáng-kể.

Tuy-nhiên, sự khó-khăn chuyên chở xi-măng từ Hà-Tiên về tới Saigon ngày nay không còn nữa. Nhà máy sản-xuất xi-măng tại Thủ-Đức ở một vị-thế và choán một diện-tích rất đáng kể tại ngoại-ô sát cạnh Saigon. Nhà máy gây ra nhiều bụi-bặm ô-nhiểm cho khu dân-cư đông-đảo vùng Thủ-Đúc. Các xe tải chở xi-măng ra vào nhà máy làm gia-tăng số xe lưu-thông trên Xa-Lộ Saigon-Biênhoà, hiện nay gần tới mức tối-đa chịu-đựng, không còn thêm được nữa.

Diện-tích đất đai của nhà máy xi-măng Thủ-Đức, nếu giải-tỏa và thu-hồi xử-dụng lại được, sẽ có một giá-trị rất quí về mặt kinh-tế và dân-sinh, chẳng hạn như để xây cất trường-học, hay nhà thương công-cộng. Vậy Việt-Nam có nên thu-xếp đề dời nhà máy xi-măng Thủ-Đức trở về cạnh nhà máy clinker ở Kiên-Lương/Hà-Tiên, hay không? Thời-thế đã thay đổi. Kinh-tế nước nhà cần phải thay-đổi theo thời-thế mới là hợp-lý !

5/- Dự-Án Kỹ-Nghệ An-Hoà/Nông Sơn
Miền Nam Việt-Nam rất hiếm về nguyên-liệu năng-lượng (ressources naturelles énergitiques). Trong mấy năm Tổng-Thống Diệm đương quyền, và nhiều năm sau đó nữa, miền Nam Việt-Nam chưa tìm ra được nguyên-liệu năng lượng, như than-đá hoặc dầu-khí. Những bước đầu tiên tìm được dầu-khí tại bờ biển Vũng-Tàu chỉ biết được vào khoảng năm 1974, gần 10 năm sau thời-kỳ của Tổng-Thống Diệm.
Tuy nhiên, việc phát-triển kinh-tế miền Nam Việt-Nam đem lại nhu cầu càng ngày càng gia-tăng, chẳng những về mặt năng-lượng điện-lực, mà về những vật-dụng khác, thường căn-cứ trên nguyên-liệu có nguyên chất than (carbon) như than-đá hay dầu-khí để sản-xuất, chẳng hạn như phân bón có chất đạm (engrais azotés).

Ông Trần Lê Quang tại Bonn

Ông Trần Lê Quang tại Bonn

Lúc bấy gìờ, tôi phụ-trách Bộ Cải Tiến Nông-Thôn. Tôi rất cần có nhiều phân bón có chất đạm. Trong khi chưa có dầu khí, chúng tôi nghĩ tới sản-xuất phân bón có chất đạm từ nguyên-liệu than-đá. Việt-Nam có một ít than-đá loại anthracite, không được trong sạch cho lắm, tại mỏ Nông-Sơn. Trong khi không có nguyên-liệu nào khác thuận-lợi hơn đề sản-xuất phân bón đạm, thôi thì tạm dùng than-đá Nông-Sơn trong thời-gian chờ đợi.
Sự khó-khăn đầu tiên là mỏ than Nông-Sơn nằm tại một chân núi tỉnh Quảng-Nam, cách Quốc-Lộ số 1 và đường Hoả-Xa hơn 50 cây số. Hơn nữa, Nông-Sơn là một vùng ít dân-cư, đối-phương đang xử-dụng làm chiến-khu.

Theo chiến-lược của Tổng-Thống Diệm, Ông bắt buộc đặt các nhà máy của Khu Kỹ-Nghệ tại Nông-Sơn, thay vì gần Đà-Nẳng. Vì không có sẵn những phương-tiện giao-thông, Bộ Công-Chánh bắt-buộc phải thực-hiện một đường-lộ và một đường-sắt mới, 50 cây số, để nối liền Mỏ Nông-Sơn với Quôc Lộ 1 và đường sắt, cả hai nằm gần bờ biển.

Nghiên-cứu kỹ-thuật Khu Kỹ-Nghệ giao cho Hảng Tư-Vấn Pháp Sofremines. Những máy móc và dụng cụ cho Dự-Án được giao thầu sản-xuất cho 8 Công-Ty tại nước Đức và nước Pháp. Tài-nguyên cần thiết, Chính-phủ Việt-Nam vay-mượn chính-phủ Đức. Ngày 19 tháng 7 năm 1963 — lúc bấy giờ tôi phụ-trách Bộ Cải-Tiến Nông-Thôn — Tổng-Thống Diệm chỉ-định tôi hướng-dẫn một phái-đoàn Việt-Nam tới Bonn (lúc bấy giờ còn là thủ-đô của Cộng-Hoà Liên-Bang Đức) để ký khế-ước vay nước Đức 16 Triệu Mỹ Kim dùng đài-thọ các chi-phí sản-xuất máy-móc và dụng-cụ cho Khu Kỹ-Nghệ An-Hoà/Nông-Sơn.

Không đầy 4 tháng sau đó, xẩy ra cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, do một số các tướng lãnh chủ mưu và Tổng Thống Diệm bị thảm sát. Kế đó, cuộc chiến tranh tại Việt-Nam ngày càng gia-tăng ác-liệt. Quân viễn-chinh tác-chiến Mỹ đổ bộ tại miền Trung. Chính-phủ Mỹ yêu-cầu Việt-Nam ngưng dự-án Khu Kỹ-Nghệ An-Hoà/Nông-Sơn.

Chính phủ Mỹ không bao-giờ tha-thiết và ủng-hộ Dự-án An-Hoà/Nông-Sơn. Có thể là vì đó là một dự-án do Việt-Nam lấy sáng-kiến và đang thực-hiện, với những phương-tiện và sự hiểu-biết của nhân-viên và kỹ-sư Việt-Nam, không có sự liên-hệ nào của người Mỹ về mặt kỹ-thuật, cũng như tài-chánh.

Mấy lần tôi có dịp thảo-luận với đại-diện và chuyên-viên Mỹ. Họ nêu lý-do rằng nếu Việt-Nam cần phân bón, loại nào và bao nhiêu bất cứ, họ cũng có thể sẵn-sàn cung-cấp dễ-dàng được. Tại sao phải xây-dựng một khu Kỹ-Nghệ tại một nơi hẻo-lánh như Nông-Sơn ? Chắc-chắn thế nào rồi cũng đòi-hỏi nhiều đơn-vị quân-đội để gìn-giữ an-ninh mà Mỹ phải phụ-trách, hoặc phải đóng-góp.

Nếu Việt-Nam mất đi vài chục triệu Mỹ Kim trong giá-trị những máy-móc và dụng-cụ đã lỡ mua tại Âu-Châu, việc mất-mát đó không có ý-nghiã gì đối với Chính-phủ Mỹ, khi họ đang phải chi-tiêu cả trăm triệu Mỹ Kim mỗi ngày trong trận-chiến Việt-Nam, sau Tổng-Thống Diệm không lâu!

Những máy móc và dụng cụ của Dự-án Khu Kỹ-Nghệ chở từ Âu-Châu về tới Việt-Nam, rốt cuộc phải đem tạm-thời tồn-trữ tại Thủ-Đức, trong khuôn viên sở trước kia tôi sản-xuất ống bê-tông cho dự-án cấp nước Đồng-Nai về tới Saigon. Sau đó, dụng-cụ và máy-móc đều bị sét-rĩ, trộm-cắp, tiêu-tan mất hết. Dự-Án Khu Kỹ-Nghệ An-Hoà/Nông-Sơn chấm dứt với một sự thất-bại hoàn-toàn.

         (còn nữa)

____________________________________________________________

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s