Nỗi Đau Thăng Long


Lời nói đầu - Sau hai lần góp mặt với Vườn Đào ( ), nữ sĩ Phạm Thảo
 Nguyên lại trở lại với chúng ta.Như chúng ta đã biết Phạm
 Thảo Nguyên xuất thân là một nhà giáo (dậy Toán), đã tự học
 chữ Hán để đọc và thưởng thức những thơ văn cổ xưa. Nói đến
 thơ văn cổ là phải nói đến nhà đại thi hào NguyễnDu. Phần
 lớn người Việt Nam chỉ biết đến Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân
 Thanh) viết bằng chữ Nôm. Thực ra nhà thơ Nguyễn Du còn là
 tác giả của hàng trăm bài thơ chữ Hán, bao gồm Thanh Hiên Thi
 Tập gồm 78 bài, Nam Trung Tạp Ngâm gồm 40 bài, và Bắc Hành Tạp
 Lục gồm 131 bài.

Nguyễn Du là một thi sĩ - không phải để "ru với gió, mơ theo
 trăng và vơ vẩn cùng mây" - mà là một nhà thơ đầy cảm súc, thấu
 hiểu thâm sâu được những nỗi lòng đau khổ gửi trong tiếng đàn.
 Ông đi tìm hiểu và kể cho ta nghe tường tận trong bài Long Thành
 Cầm Giả Ca.

Phạm Thảo Nguyên, với Nỗi đau Thăng Long dưới đây, không phải để
 nói về nỗi đau Thăng Long của chính Nguyễn Du, một người con luân
 lạc thương nhớ quê xưa, hay là những tình cảm sâu xa giữa hai người
 bạn tri kỷ xa nhau ngoài hai thập niên: giữa ông và Nàng Cầm, đệ
 nhất nghệ sĩ gẩy đàn tại đây. Mà to lớn hơn nhiều, đó là nỗi đau
 của con dân Thăng Long, bị cấm đoán không được nói ra, hay than thở
 nhắc lại sự việc xảy ra và của chính thành Thăng Long cổ xưa yêu dấu.

                                                                                                                Đào Viên

***
Nỗi Đau Thăng Long
(Trích đoạn: Nguyễn Du,Cuộc Đời Trong Thơ)

Năm 1813, Nguyễn Du đang làm quan dưới triều Nguyễn Gia Long, tại kinh đô 
Thuận Hoá (Huế), được thăng Cần Chánh điện học sĩ, làm Chánh sứ đi Trung 
Hoa triều cống. Trên đường đi sứ đoàn ghé qua Bắc Thành (tên mới của thành 
Thăng Long), nhìn núi Tản sông Lô hùng vĩ, thi hào vui mừng hào hứng bộc lộ
 trong hai câu đầu bài thơ Thăng Long:

Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng              Núi Tản sông Lô mãi mãi đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long           Bạc đầu còn được thấyThăng Long!

Ôi Thăng Long! Ôi Thăng Long thành xưa!

Người Thăng Long nào mà chẳng muốn nhìn lại thành xưa, những nơi đẹp đẽ của
 quá khứ, may ra còn vương lại chút gì chăng? Năm 1793, thời Tây Sơn, thi hào
 rời Thăng Long, lúc ấy Thăng Long của chàng thanh niên sinh ra và lớn lên ở 
đó, còn nguyên vẹn:
Này đường về phố cũ. Này đường về ô xưa
  Nét xưa ngàn năm mờ phai khi tàn mơ
 (Thăng Long Hành Khúc, Văn Cao)
Văn Cao, người thời nay không sinh trưởng tại đây, còn nhớ Thăng Long như thế, 
nữa là người thời xưa, nữa là chàng Chiêu Bẩy Nguyễn Du! (Chiêu Bẩy là biệt 
danh cuả thi hào, vì ông là con trai thứ bẩy của quan đại thần nhà Lê, tể tướng 
Nguyễn Nghiễm). Nhưng, lạ thay, tại sao Văn Cao lại viết câu sau “Nét xưa ngàn 
năm mờ phai khi tàn mơ”? Bà huyện Thanh Quan cũng viết bài Thăng Long Thành Hoài 
cổ, như sau:
...Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
  Cảnh cũ lâu đài bóng tịch dương
  Đá cũng trơ gan cùng tuế nguyệt
  Nước còn cau mặt với tang thương...
Nguyễn Văn Siêu trong Phương Đình Dư Địa Chí cho biết (1): Năm Gia Long thứ 4, 
1805, phá thành cũ do nhà Lê xây, đắp thành mới. (Nguyễn Văn Siêu, là quan nhà 
Nguyễn nên không dám viết thêm cho rõ ràng hơn. Hiện nay nhiều nhà khảo cổ đã 
có kết luận rằng tất cả những dấu tích cuả Thăng Long xưa từ thời nhà Lý đã bị 
xoá sạch, từ đàn Nam Giao đến các cung điện thành quách).

Theo cuốn Hoàng Thành Thăng Long, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Viện Khảo Cổ, viết sau khi đã đào sới dưới đất khu thành cổ Hà Nội 2006, trang 18 (2), cho biết: Tại thời Lê, quy mô Hoàng Thành khoảng 140 ha. Thành Hà Nội thời Nguyễn thu nhỏ lại (còn) khoảng 100 ha. (Thêm lệnh cấm nói tới Tây Sơn, và cả tới các chúa Trịnh, cùng tất cả các tấm bia cũ phải mài đi, nên con dân Lạc Việt thời nay không còn nhớ biết gì vê dĩ vãng, về 200 năm thịnh trị của các chúa Trịnh, về những chiến công vĩ đại của Quang Trung Nguyễn Huệ, đánh tan 50 vạn quân Xiêm, sau đó mới đến trận đuổi sạch 29 vạn quân Tàu ở Thăng Long).
 Còn Nguyễn Du viết hai câu thực bài thơ Thăng Long, về những cảnh tượng ngay trước
 mắt:

Thiên niên cự thất thành quan đạo     Ngàn năm dinh thự thành đường cái
 Nhất phiến tân thành một cố cung!    Một giải thành xây mất cố cung!
Có nghĩa “Dinh thự ngàn năm (nhà ta xưa ở đó), bây giờ đã bị phá đi, xây đường cái 
đè lên cho xe cộ, người, vật đi lại suốt ngày đêm rồi. Còn cung điện các triều đại
 xưa cũ? Bị đập nát, vùi đi, dựng một bức thành mới lên trên đó!”

Mà ai phá? Chính vua nhà Nguyễn chứ ai! Việc này là do lệnh Gia Long (1805), không 
phải do chiến tranh. Lệnh thời bình từ một triều đình người Việt, phá tan cả một 
nền văn hoá dài ngàn năm, do bao nhiêu tổ tiên triều trước xây dựng nên trên đất 
nước mình.

Hơn nữa, theo phong thuỷ, phá thành cũ xây đường cái lên, dựng thành mới đè lên cố 
cung của vua chúa cũ, là cách yểm đất để vùi dập tất cả tương lai. (Anh Nguyễn Khản
, em Nguyễn Ức chuyên về kiến trúc, Nguyễn Du không thể không biết về phong thuỷ). 
Chắc chắn Nguyễn Du hiểu rõ khi viết ba chữ một cố cung.Một” nghĩa là vùi lấp, là
 chìm mất, là chết, là hết, là không còn, là “mai một”.

(Thế mà khi đi sứ về, Nguyễn Du không sợ, dám phát hành tập Bắc Hành!).
Tuyên phủ Nguyễn Huỳnh Đức

Tuyên phủ Nguyễn Huỳnh Đức

Thế rồi tới điểm cuối cùng của chuyến ghé Long Thành là đêm tiệc chiêu đãi sứ đoàn
 của đương kim tuyên phủ Bắc Thành Nguyễn Huỳnh Đức. (Tuyên phủ đầu tiên nhà Nguyễn
 là Nguyễn Văn Thành, lúc này, đã đổi vào kinh Thuận Hóa làm việc, (trước khi xảy 
ra vụ án diệt công thần của Gia Long 1816).
Sau hai mươi năm xa vắng, Nguyễn Du dưới mũ áo quan chánh sứ khâm sai đại thần, bước
 vào dự đêm đại tiệc chiêu đãi chính ông, người Thăng Long cũ trở về viết:“ Kế văn, 
cầm thanh thanh việt, quýnh dị thời khúc, tâm dị chi“(Bất chợt nghe thấy vút lên một
 tiếng đàn trong trẻo, khác hẳn các khúc nhạc đương thời. (Nguyễn Du, Tiểu Dẫn của 
Long Thành Cầm Giả Ca (3)).

Ôi, Khúc đàn xưa xuất hiện! Vừa lọt tai, lắng tiếng, lòng người đã tràn ngập nhớ 
thương! Có lẽ nào! Chính khúc đàn xưa ông đã từng say mê, đang rung lên trong không
 gian, đang nức nở đánh thức tâm tư sâu thẳm của người nghe, kêu gọi tới nơi tận 
cùng của ý tứ, của những niềm riêng đã từ lâu im ắng. Người nghệ sĩ Nguyễn Du thưởng
 thức âm nhạc bằng cả tâm hồn mình, đã nhận rõ từng uẩn khúc: Diễm ảo mà kỳ lạ thay:
 Âm thanh du dương thánh thót kia ẩn dấu giọt lệ tủi hờn. Lập tức trong sâu thẳm 
lòng ông, tiếng đàn năm xưa nổi lên cùng tiếng đàn đêm nay ẩn hiện chập trùng: Quá 
khứ, hiện tại trộn lẫn vào nhau không phân biệt, mang mang đưa người vào cơn mơ 
siêu thực trong Long Thành đã trở thành hư ảo. Thi hào viết:

 Cựu khúc thanh thanh ám lệ thuỳ
 Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
 Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự
 Giám hồ tịch trung tằng kiến chi…
                                         Khúc xưa thánh thót ẩn lệ rơi
                                         Tai nghe lắng tiếng dạ bồi hồi
                                         Bỗng nhiên nhớ lại chuyện 20 năm trước
                                         Hồ Giám đêm hát từng thấy rồi
(Tuy lúc này thi hào còn lầm tưởng rằng người tấu đàn ngồi kia đêm nay là đào nương
 tàn tạ nhan sắc tàn úa không trang điểm, mình chưa từng biết.)
Thật bất ngờ, quá khứ không đợi mà về, trùng trùng không dứt, tung lên dạt xuống, 
dày vò kẻ tha hương vừa trở lại. Tất cả quá khứ hiện tại, hiện tại quá khứ suốt hơn
 hai mươi năm biến động bỗng như trộn lẫn vào nhau, cùng biểu hiện: Quá khứ thời 
Tây Sơn khi ông lần đầu được nghe khúc đàn do Nàng Cầm tấu, và quá khứ của quá khứ 
vì khúc đàn đó chính là khúc Cung Phụng của Đại Nội triều Lê xưa. Thế rồi thành quách
 cơ nghiệp oai hùng của triều đại Tây Sơn, tướng tá hào hoa… thoắt chốc vỡ nát hết, 
tiêu tan hết, chỉ còn một đào nương tàn tạ ngồi kia đang tấu khúc đàn xưa làm nhân 
chứng:
Thành quách suy di nhân sự cải      Thành quách tàn đi, người thay đổi
 Kỷ xứ tang điền biến thương hải    Bao nhiêu ruộng dâu thành biển khơi
 Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong    Cơ nghiệp Tây Sơn tan tành hết
 Ca vũ không di nhất nhân tại        Đào nương còn đó, một nàng thôi.

Người nghệ sĩ trong ông rung động theo tiếng đàn, chơi vơi giữa bây giờ và ngày ấy. 
Sự tinh tế đã lên đến tuyệt đỉnh của cả người tấu nhạc lẫn người nghe. Hình như lúc
 ấy trong toà thành mới xây, có hai người tri âm đang trùng phùng trong từng tiếng 
đàn thánh thót tràn ngập xúc động tự ngày xưa.

Đêm hát qua đi, tiếng đàn vẫn lẩn khuất đâu đây trong không gian, và trong hồn người
 lữ khách mới trở về. Khiến quan chánh sứ phải tìm người dò hỏi: “tức kỳ nhân dã“
(“thì ra người ấy!“, Nguyễn Du, Tiểu Dẫn). Niềm thương xót dâng trào, mắt thơ đầm 
đìa những lệ. Kiệt tác văn chương Long Thành Cầm Giả Ca được thi hào viết ra trên 
đường đi sứ tiếp theo. Bút pháp tuyệt vời của Nguyễn Du như nhẩy múa, như chao đảo.
 Tiếng thơ vang lên như cơn say:

Thuấn tức bách niên năng kỷ thì    Trăm năm thoáng chốc đáng bao nhỉ
 Thương tâm vãng sự lệ triêm y     Đau lòng ướt áo lệ trào mi

Hai câu kết là:
 Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng
 Khả liên đối diện bất tương tri.
                                   Đôi mắt trừng trừng không tưởng nổi
                                   Thương ôi, đối mặt chẳng biết gì!
Đúng là trong buổi tiệc Nguyễn Du đã không nhận ra Nàng Cầm, và đúng là Nguyễn Du 
không biết rằng: Nàng Cầm đã nhận ra Nguyễn Du!

 Đêm nay, cô được giáo phường gọi tới đàn giúp vui tiệc chiêu đãi khâm sai đại thần
 cùng sứ đoàn. Cả thành ai cũng biết, cũng xì xào vì quan chánh sứ là người Thăng 
Long cũ, con em quan tham tụng, tể tướng thời vua Lê chúa Trịnh xưa, tên là Nguyễn 
Du! Ôi chàng trẻ tuổi Nguyễn Du xưa, nếu không phải người tình thời niên thiếu, thì 
cũng là người bạn tri âm của Nàng Cầm thuở ấy. Cuộc đời một đào nương được mấy tri 
âm? Làm sao mà quên được? Phải chăng nàng vẫn trông ngóng đợi chờ người đó từ bấy 
đến nay?

Nhưng Nàng Cầm tài giỏi xinh đẹp khả ái ngày xưa, một “Hoạt tố Tràng an vô giá bảo“,
 báu vật vô giả của kinh thành Thăng Long cũ, trong đêm tiệc chiêu đãi quan chánh sứ
 tại Long Thành, đã xuất hiện rất khác lạ dưới mắt khách quan của Nguyễn Du trong 
thơ như sau:

...Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa...    Cuối chiếu có nàng tóc pha bạc
 Nhan xấu thần khô hình lược tiểu        Võ vàng nhỏ bé mặt ủ ê
 Lang tạ tàn mi bất sức trang            Sắc tàn mi úa không trang điểm...
Vẻ khác lạ đó lại được tả kỹ càng, tỉ mỉ hơn nữa trong bài Tiểu Dẫn:
 “ Thị kỳ nhân nhan xấu thần khô, diện hắc, sắc như quỷ, y phục tịnh thô bố, bại bôi 
sắc, đa bạch bố, mặc toạ tịch mạt, bất ngôn diệc bất tiếu, kỳ trang đãi bất kham giả 
bất phục tri vị thuỳ hà“ (Người gầy gò, vẻ tiều tuỵ, mặt đen, xấu như quỷ, áo quần 
toàn vải thô, bạc thếch thêm nhiều mảnh vá trắng, ngồi im ở cuối chiếu, không nói cũng
 không cười, hình dáng thật khó coi), khiến cho Nguyễn Du trông thấy mà hoàn toàn không
 nhận ra bạn cũ.
Việc này thật lạ thường, trên đời, xưa cũng như nay, không một đào nương ca sĩ nào 
khi đi biểu diễn tại các nơi quan khách cấp nhà nước, mà không làm đẹp, không ăn mặc
 lộng lẫy chải chuốt, mà trái lại, dám phục sức lem luốc như thế. Nhất là những mảnh
 vải trắng vá đụp(!) hiện ra lồ lộ trên xống áo như đập vào mắt mọi người. Chúng tôi
 nghĩ rằng giáo phường phải được biết trước. Họ đã đồng ý cho phép, hay đồng loã che
 chở cho Nàng Cầm phục sức như vậy. Nếu không, cô đã không thể đi tới được buổi tiệc,
 hay bị đuổi ra khỏi dinh ngay từ đầu.

Người nghệ sĩ với cây đàn Nguyệt

Người nghệ sĩ với cây đàn Nguyệt

Thêm nữa, thật ra Nàng Cầm chưa hề già! Thi sĩ gập cô lần đầu sau khi Tây Sơn đại phá
 trận Đống Đa, chiếm Thăng Long, Nguyễn Nể đi sứ Tầu về, vào năm 1790. Lúc đó cô mới 
được “tam thất chính phương niên“ (Ba lần bẩy, tức 21 tuổi). Tới 1813, tức 23 năm sau,
 cô 44 tuổi, tuổi chín tới của một người đàn bà. Cô là đào nương có tuyệt kỹ chơi đàn
 Nguyệt, nổi tiếng không ai bì kịp. Giáo phường vẫn biết trọng tài nghệ của cô. Cô vẫn
 được mời đi tấu nhạc. Nếu không được vinh quang như ngày xưa kia, thì cũng không đến
 nỗi ba đào lênh đênh. Không có lý do gì làm cô tiều tuỵ nhanh như thế! Ai cũng biết 
người đàn bà Á Đông thường trẻ lâu hơn tuổi. Vi vây, phải chăng cô cố ý hoá trang, cố
 ý ăn mặc tang thương như đang để tang Thăng Long? Phải chăng vì cô muốn Nguyễn Du 
biết tới nỗi đau Thăng Long, của người Thăng Long? của thành Thăng Long? Hành động của
 cô như muốn gửi đi một thông điệp. Có thể như sau:
Hỡi chàng thi sĩ ngày xưa nghèo khổ, sống đời giang hồ trốn tránh ngoài bãi sông, 
được anh ruột làm quan cho Tây Sơn bao bọc che chở. Hôm nay vinh hiển trở về. Nghe 
tiếng đàn xưa của ta, có nhớ thời xưa, người xưa chăng tá?

 Ngày xưa anh luân lạc phù Lê, bây giờ anh phù ai? Phù cái triều đình đã đập phá tan
 tành thành Thăng Long của chúng ta đấy ư? Anh có biết dân chúng Thăng Long khổ như 
thế nào không?“
Đồng thời, cô là một nghệ sĩ bậc nhất, một người đàn bà nhan sắc, có cá tính rất mạnh
 (theo Tiểu Dẫn). Từ khi biết khách chính đêm tiệc là Nguyễn Du, cô muốn đựơc gập, 
được thấy lại chàng thi sĩ của ngày xưa. Cô hiểu đây là một đặc ân tuyệt diệu, một cơ
 hội đẹp nhất mà cuộc đời dành lại cho cô: Được đàn cho Nguyễn Du, người tri âm cũ
 nghe một lần cuối trong đời.

 Cho nên, cô mang hết tuyệt kỹ, hết lòng mình gửi vào khúc Cung Phụng để tặng người, 
và cũng để người hiểu nỗi đau Thăng Long, một lần cuối này thôi.

Cho nên, tiếng đàn mới “nức nở” nhường ấy, mới “ẩn lệ rơi” nhường ấy.

 Vì thế, người nghệ sĩ Nguyễn Du, dù chưa nhận ra cô, mới nghe tiếng đàn, đã hiểu thâm
 sâu hồn người tấu nhạc, đã lập tức cảm thấy lòng đầy bi thương (tâm trung bi),với 
hình ảnh lồng lộng diễm ảo của Nàng Cầm thời quá khứ:
Giám hồ tịch trung tằng kiến chi…    Hồ Giám đêm hát từng thấy người
Và thi hào đã tiếc nuối tột cùng khi hiểu được người đánh đàn là ai:

…Nam hà quy lai đầu tận bạch              Nam hà trở lại ta trắng tóc
 Quái để giai nhân nhan sắc suy           Lạ gì người đẹp sắc phai đi
 Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng Đôi mắt trừng trừng không tưởng nổi
 Khà liên đối diện bất tương tri .       Thương ôi! Đối mặt chẳng biết gì!

Đêm hát kết thúc, Nàng Cầm lặng lẽ theo giáo phường ra về. Cô đã thực hiện được 
điều cô không bao giờ dám mơ ước trong suốt hai mươi năm trời vắng bóng “người 
ấy” ở Thăng Long. Còn Nguyễn Du, sau khi biết người tấu nhạc chính là cô bạn cũ
 Nàng Cầm, đã “cảm thương vô hạn” (Tiểu Dẫn). Thi hào viết bài thơ Long Thành 
Cầm Giả Ca, để lại cho hậu thế chúng ta những câu thơ thần sầu, xúc động nhất tập 
Bắc Hành, kỳ lạ nhất của văn chương Việt Nam
Khi sứ đoàn về nước, Nguyễn Du đã cho phát hành khắp nơi tập thơ BẮC HÀNH (theo Đại
 Nam Chính Biên Liệt Truyện (4)). Như vậy, Nàng Cầm chắc đã được đọc bài thơ này, đã
 biết được sự an ủi vô cùng từ người bạn tri âm ngày xưa cũ. Và nhất là hành động có
 chủ ý chứng tỏ nỗi đau của Nàng, của người Thăng Long, của thành Thăng Long đã được
 Nguyễn Du thấy, hiểu, viết ra, kể lại cho người đọc cả nước, và cho hậu thế chúng 
ta hay. Vì đó là lời tố cáo mạnh mẽ việc tàn phá THÀNH THĂNG LONG của triều đình nhà
 Nguyễn, đó là lời tôn vinh NÀNG CẦM, một kỳ nữ có thật của chúng ta.
Sau đó it năm, Nguyễn Hành, con Nguyễn Điều, khổ hơn chú Du nhiều khi trở về Bắc 
Thành không còn gập một người quen. Ngỡ ngàng cay đắng thấy mình chỉ là một thằng 
rách rưới không ai biết đến ngay tại nơi quê hương kinh đô cũ. Nơi đã hoàn toàn 
thay đổi, không còn tới một vật xưa, trong bài thơ sau đây:
Bắc Thành Lữ Hoài            Tha Thẩn Bắc Thành

Ngã diệc vi hà giả?         Ta là thằng nào đây? 
Tịch liêu lai thử thành     Lủi thủi tới thành này 
Nhãntrungvôcố vật.          Chẳng thấy một vật cũ
Tâmthượng hữu dư tình       Lòng nặng tình quắt quay…
 
Với hai câu kết: 
Tích niên quý công tử,       Năm xưa quý công tử.
 Kim dã lão thư sinh.        Lão đồ già, ngày nay.
____________________________________________________________

Thư Mục

(1) Nguyễn Văn Siêu (1799 – 1872) Phương Đình Dư Địa Chí , Bản chữ Hán, in năm 1900, niên hiệu Thành Thái thứ 12. Bản dịch của Ngô Mạnh Nghinh, giáo sư Đại học Văn Khoa Saigon. Nhà xuất bản Văn Hóa- Thông Tin in lại năm 2001, quyển 5, trang 2a: Năm 1805, Gia Long thứ 4, phá thành cũ do nhà Lê xây, đắp thành mới (lớn hơn cấm cung nhưng nhỏ hơn thành cũ nhiều).
(2) Hoàng Thành Thăng Long, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Viện Khảo Cổ. NXB Văn hóa Thông Tin, Hà Nội 2006. Trang 18.
(3) Tiểu Dẫn, Nguyễn Du
(4) Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, nxb Khoa Học Xã Hội, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc học, Huế 1993. Tr 335

Lời người dịch:

Bài Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du đã có nhiều bản dịch, phần nhiều theo thể song thất lục bát hay lục bát theo âm hưởng Truyện Kiều,và có một ít bản theo thể thất ngôn trường thiên. Nhưng thời nào vẫn có những tìm kiếm, những cách viết mới, cách hiểu mới, hứng thú mới. Bài dịch này là một thí dụ
PTN

Chú Thích:

Trước bài Long Thành Cầm Giả Ca, Nguyễn Du có viết một bài Tiểu Dẫn văn xuôi. Trong đó thi nhân mô tả sắc đẹp, tính cách nàng Cầm và những lần ông gập gỡ nàng: Ngoài hai lần đầu và cuối tả trong bài thơ, còn có những lần được nghe nàng đàn hát ở nhà Nguyễn Nể, anh ông, đang làm quan cho nhà Tây Sơn ở Thăng Long. Sau cùng là những xúc động khi gập lại Nàng Cầm tiều tụy bây giờ, khiến ông làm bài thơ này. Vì bài dịch văn xuôi Tiểu Dẫn của Đào Duy Anh rất xuất sắc, chúng tôi xin được trích dẫn một phần trong bài viết này.

龍城琴者歌 – 阮攸 Long Thành Cầm Giả Ca

1-龍城佳人 Long Thành giai nhân,
2-姓氏不記清 Tính thị bất ký thanh.
3-獨擅阮琴 Độc thiện Nguyễn cầm (1),
4-舉城之人以琴名 Cử thành chi nhân dĩ Cầm danh.
5-學得先朝宮中供奉曲 Học đắc tiên triều cung trung Cung Phụng khúc
6-自是天上人間第一聲 Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh.
7-余憶少年曾一見 Dư ức thiếu thời tằng nhât kiến,
8-鑑湖湖邊夜開宴 Giám hồ(2) hồ biên dạ khai yến.
9-其時三七正芳年 Kỳ thời tam thất chánh phương niên,
10-紅裝晻曖桃花面 Hồng trang yểm ái(3) đào hoa diện.
11-酡顏憨態最宜人 Đà nhan hám thái tối nghi nhân,
12-歷亂五聲隨手變 Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến.
13-緩如疏風渡松林 Hoãn như sơ phong độ tùng lâm,
14-清如隻鶴鳴在陰 Thanh như song hạc minh tại âm.
15-烈如薦福碑頭碎霹靋 Liệt như Tiến Phúc bi(4)đầu toái phích lịch,
16-哀如莊舄病中為越吟 Ai như Trang Tích(5) bệnh trung vi Việt ngâm.
17-聽者靡靡不知倦 Thính giả mi mi bất tri quyện,
18-便是中和大內音 Tiện thị Trung Hoà(6) đại nội âm.
19-西山諸臣滿座盡傾倒Tây Sơn chư thần mãn tọa tận khuynh đảo
20-徹夜追歡不知飽 Triệt dạ truy hoan bất tri bão.
21-左拋右擲爭纏頭 Tả phao hữu trịch tranh triền đầu,
22-泥土金錢殊草草 Nê thổ kim tiền thù thảo thảo.
23-豪華意氣凌王侯 Hào hoa ý khí lãng vương hầu,
24-五陵少年不足道 Ngũ lăng(7) thiếu niên bất túc đạo.
25-并將三十六宮春 Tính tương tam thập lục cung xuân,
26-活做長安無價寶 Hoạt tố Trường An vô giá bảo.
27-此席回頭二十年 Thử tịch hồi đầu nhị thập niên,
28-西山敗後余南遷 Tây Sơn bại hậu, dư nam thiên.
29-咫尺龍城不復見 Chỉ xích Long Thành bất phục kiến,
30-何況城中歌舞筵 Hà huống thành trung ca vũ diên,
31-宣撫使君為余重買笑 Tuyên phủ (8) sứ quân vị dư trùng mãi tiếu,
32-席中歌妓皆年少 Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu.
33-席末一人髮半華 Tịch mạt nhất nhơn phát bán hoa,
34-顏瘦神枯形略小 Nhan sấu thần khô, hình lược tiểu,
35-狼藉殘眉不飾妝 Lang tạ tàn my bất sức trang,
36-誰知就是當時城中第 Thùy tri tựu thị đương thời thành trung đệ 一妙 nhất diệu
37-舊曲新聲暗淚垂 Cựu khúc tân thanh ám lệ thùy,
38-耳中靜聽心中悲 Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi,
39-猛然億起二十年前事 Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự,
40-鑑湖席中曾見之 Giám hồ tịch trung tằng kiến chi.
41-城郭推移人事改 Thành quách thôi di nhân sự cải,
42-幾處桑田變滄海 Kỷ xứ tang điền biến thương hải,
43-西山基業盡消亡 Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong,
44-歌舞空遺一人在 Ca vũ không di, nhất nhân tại
45-瞬息百年能幾時 Thuấn tức bách niên năng kỷ thì,
46-傷心往事淚沾衣 Thương tâm vãng sự lệ triêm y.
47-南河歸來頭盡白 Nam hà (9) quy lai đầu tận bạch,
48-怪底佳人顏色衰 Quái để giai nhân nhan sắc suy.
49雙眼瞪瞪空想像 Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng,
50-可憐對面不相知 Khả liên đối diện bất tương tri.

Thơ dịch PTN: Bài Ca Nàng Cầm Ở Long Thành

Người đẹp Long Thành
Tên họ chẳng ghi lại rõ rành
Giỏi nhất đàn Nguyễn cầm
Người trong thành gọi Nàng Cầm, nên danh
Học được trong cung triều xưa khúc Cung Phụng
Trên trời dưới thế tuyệt vời âm thanh
Nhớ xưa tuổi trẻ từng thấy đến
Bên bờ Hồ Giám đêm tiệc yến
Áo hồng chìm dưới mặt hoa đào
Mới vừa hai mốt mùa xuân điểm
Yêu sao má rượu đỏ hây hây
Thoắt chuyển năm cung tay lướt biến
Tiếng khoan như gió thoảng rừng thông
Trong như đôi hạc kêu đêm không
Mạnh như sét đánh bia Tiến Phúc
Buồn như Trang ốm Việt ngâm nồng
Người nghe say sưa hồn thu hút
Đúng là Trung Hoà Đại Nội Cung Phụng Khúc
Quan khách Tây Sơn thoả thích ngồi ngất ngây
Say sưa mê đắm năm canh suốt
Tả hữu tranh nhau gieo thưởng tiền
Bạc vàng như đất quăng như rác
Hào hoa sang cả át vương hầu
Thiếu niên Ngũ Lăng thấm vào đâu!
Mình nàng ba mươi sáu cung chung đúc
Lung linh vô giá Thăng Long bảo châu
Đêm tiệc đã qua hai mươi năm
Tây Sơn thất bại, ta vào Nam
Gang tấc Long Thành chẳng thấy lại
Nữa là Hồ Giám chiếu ca ngâm
Đêm nay, Tuyên phủ vì ta mở tiệc mua vui, vời ca kỹ
Đầy chiếu đào nương tuổi xuân thì
Cuối chiếu có nàng tóc pha bạc
Võ vàng nhỏ bé mặt ủ ê
Sắc tàn mi úa không trang điểm
Ai biết ngày xưa tài hoa bậc nhất chốn Kinh kỳ?
Khúc xưa thánh thót ẩn lệ rơi
Lọt tai, lắng tiếng, dạ bồi hồi
Bỗng nhớ chuyện xưa hai mươi năm về trước
Hồ Giám chiếu hát từng thấy người
Thành quách tàn đi, người thay đổi
Bao nhiêu ruộng dâu thành biển khơi
Tây Sơn cơ nghiệp tan tành hết
Đào nương còn đó một nàng thôi
Trăm năm thoáng chốc đáng bao nhỉ?
Đau lòng ướt áo lệ trào mi
Nam Hà trở lại, ta trắng tóc
Lạ gì người đẹp sắc phai đi
Đôi mắt trừng trừng không tưởng nổi
Thương ôi, đối mặt chẳng biết gì!

PTN

Chú Thích

Long Thành là tên gọi khác của thành Thăng Long. Từ khi vua Quang Trung đại phá quân Thanh, Phú Xuân trở thành kinh đô cả nước. Thăng Long có tên là Bắc Thành.

(1) Nguyệt cầm: Đàn nguyệt.
(2) Giám hồ: Hồ ở khu Quốc Tử Giám, Văn miếu. Xưa kia vùng này có một loạt hồ thông nhau, tổng cộng rộng hơn Hồ Tây. Hiện nay hãy còn di tích hồ Văn thuộc Giám.
(3) Yểm ái : Ám mạo, nghĩa là bị mờ đi
(4) Tiến Phúc bi: Bia chùa Tiến Phúc, Giang Tây, chữ đẹp nổi tiếng, sau bị sét đánh vỡ tan.
(5) Trang Tích: Người gốc Việt, thời Bắc Thuộc, làm quan cho nước Sở, khi ốm vẫn ca ngâm bằng tiếng Việt.
(6) Trung Hoà Đại Nội: Cung điện của các vua nhà Lê xưa, thuộc nội thành Thăng Long, rất huy hoàng tráng lệ. Chắc rằng khi Nguyễn Du còn nhỏ, ông đã được nhìn thấy những cung điện của Thăng Long cổ, trước khi những cuộc chiến tranh tàn khốc xảy ra, nhất là lệnh vua Gia Long phá Thăng Long xây thành mới, 1806.
(7) Ngũ Lăng: Khu mộ nhà Hán, nơi bọn tài tử trẻ tuổi thường đến chơi.
(8) Tuyên Phủ: Quan trấn thủ Bắc Thành.
(9) Nam Hà: Phía nam của sông Cái, sông Hồng, chỉ Thuận Hoá, nơi Nguyễn Du đang làm quan với nhà Nguyễn.

Phạm Thảo Nguyên

___________________________________________________________________
(Tháng Năm, 2016)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s