Phật học – Thư đi Tin lại (V)


Phật Học – Thư đi Tin lại (Lần thứ 5)

Tiếp theo Phật Học-Thư đi Tin lại (IV)

Muốn xem các lần trước xin vào
Lần thứ 1 - 
Lần thứ 2 - 
Lần thứ 3 - 
Lần thứ 4 - Tác giả Phật Học là Cư sĩ Hoằng Hữu Nguyễn văn Phú (1927-2013)
101 - Cúng dàng trai tăng nghĩa là gì ? Trai nghĩa là không ăn 
thịt cá, chỉ ăn rau quả, đọc chệch đi thành chay. Thụ trai là 
ăn chay. Trai tăng là mời chư tăng (ni) thụ trai. Cúng dàng trai 
tăng là làm cơm chay, cỗ chay, mời chư tăng (ni) đến ăn. Người 
đứng mời cơm chay, cỗ chay, là trai chủ. Trai đường là phòng ăn 
của chư tăng, ni.

Cúng dường Pháp y và Trai tăng

Cúng dường Pháp y và Trai tăng

Chớ lầm với trai phòng (phòng ở đây là đề phòng, không cho điều 
ác len vào) là nói về người tu hành ăn chay vàsống thanh tịnh.
102 - Đạo Đức Kinh Sau khi đọc thư của đạo hữu, tôi có hỏi mượn 
được cuốn A Buddhist Bible. Quả thật, trong đó có dịch Đạo đức 
kinh của Lão tử. Mời đạo hữu coi lại lời giải thích của cuốn sách 
đó, người ta nói rằng Đạo đức kinh không phải là kinh của Phật 
giáonhưng vì Phật giáo Trung Hoa có liên hệ nhiều với Lão giáo nên 
người ta đặt Đạo đức kinh vào đó cho tiện tra cứu mà thôi.

Chúng tôi không biết cách phiên âm chữ Hán ra chữ Anh. Chỉ xin đạo 
hữu lưu ý rằng cách phiên âm mới gọi là pin yin tức là bính âm 
(Liên Hiệp quốc công nhận) khác với cách phiên âm cũ. Bắc Kinh nay
 là Beijing không phải là Peking hay Pékin nữa.
 
Hai chữ vô minh và vô danh cùng phiên âm là wu míng, thế mới phiền.
Lối phiên âm này có cả dấu sắc, dấu huyền ! Thí dụ mệnh danh là 
mìngmíng. Vô minh (ignorance) là chữ của đạo Phật, còn vô danh 
(nameless, without a name) là chữ của đạo Lão.

Tôi hỏi mấy vị cao niên thì biết Mo-Ti là Mặc Địch.
103 - Niết Bàn Trong cuốn "The Buddha and What Buddhists believe" 
của đại đức Narada, do Phạm Kim Khánh dịch ra tiếng Việt , có đoạn 
nói về Niết-bàn , xin chép ra đây :« ...Niết bàn có thể thành tựu 
trong chính kiếp sống này. Đứng về phương diện luân lý, Niết bàn là 
hoàn toàn tận diệt tham, sân, si. Về phương diện tâm lý, Niết bàn là 
tận diệt tự ngã, cái được gọi là Ta. Về phương diện siêu hình đó là 
sự chấm dứt tiến trình « trở thành » hay hoàn toàn giải thoát ra mọi 
hình thức đau khổ.».
 
Bát-niết-bàn do chữ phạn parinirvana, nghĩa là tịch diệt, nhập diệt 
(nói về một vịThánh chết đi). Người ta thường nói nhập Niết bàn, nói 
vậy có thể gây cảm giác rằng Niết bàn là một nơi chốn nên người ta có 
thể « vào ».Thật ra, Niết bàn là một trạng thái của tâm với ba điều 
do Narada trình bày trên đây. Đại Bát-niết-bàn là tên quyển kinh mà đức 
Phật thuyết trước khi tịch diệt (Mahaparinirvana Sutra).
104 - 1/ Credo là tiếng la-tinh, nghĩa là tôi tin. Credo viết với chữ 
C hoa,là các tín điều căn bản của Thiên chúa giáo, về sau nghĩa rộng 
ra, credo là tóm tắt các niềm tin của một tôn giáo.
 
2/ Không có ai là ông Khổng Minh Không cả. Có ông Khổng Minh (Gia Cát 
Lượng) ở bên Tàu. Bên ta có ngài Nguyễn Minh Không, cao tăng đời nhà 
Lý, pháp danh là Không Lộ. Người ta nói ngài có nhiều pháp thuật. Nghề 
đúc đồ đồng thờ ngài làm tổ vì ngài đã đúc quả chuông lớn gọi là chuông 
Phả Lại ở chùa Phả Lại thuộc huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh. Tự điển 
Trịnh Vân Thanh nói rằng chuông đó là một trong « An Nam tứ đại khí », 
nhưng tôi nghĩ rằng trong tứ đại khí, đó là quả chuông Quy Điền đúc vào 
thời chùa Một Cột (tức là chùa Diên Hựu) nhưng to quá không treo lên được.
Chùa Phả Lại thờ Ngài Minh Không

Chùa Phả Lại thờ Ngài Minh Không


3/ Câu « Duy tuệ thị nghiệp » nghĩa là lấy trí tuệ làm sự nghiệp của 
mình, trích trong kinh Bát đại nhân giác, nghĩa là Tám điều giác ngộ của 
bậc đại nhân. Đạo hữu nhớ trường đại học Vạn Hạnh hay sao ? đó là mấy 
chữ mà trường chọn. Nay trường ấy đã đi vào quá khứ rồi và ông viện 
trưởng được đồng đạo gọi là « duy danh thị nghiệp ». Tôi nghĩ rằng mỗi 
người có tự do chọn lối đi chính trị của mình và chịu trách nhiệm về cái 
nghiệp mà mình gây ra. Riêng tôi thì nghĩ chỉ đến các kinh tạng Pali mà 
ổng đã có công dịch ra tiếng Việt (dù rằng chưa thật hay).
105 - Không nên lẫn hai chữ Phật sống (hay Hoạt Phật) và sinh Phật. Chữ 
Phật sống hay Hoạt Phật dùng để chỉ đức Đạt-lai Lạt-ma là giáo chủ Lạt-
ma-giáo Tây Tạng. Lạt-ma-giáo là hình thức Phật giáo ở Tây Tạng. Theo cụ 
Đoàn Trung Còn thì tiếng Tây Tạng Đạt-lai là người trỗi thắng, Lạt-ma là
nhà sư. Hiên nay, đức Đạt-lai Lạt-ma lưu vong ở Ấn Độ sau khi Trung Cộng 
dùng võ lực chiếm nước Tây Tạng mà họ nhận là đất của họ.

Chữ sinh Phật rất ít thấy (riêng tôi thì chưa nghe bao giờ, lúc mới nghe 
tôi cũng hiểu là Phật sống), có lẽ chỉ các nhà nghiên cứu mới biết. Tôi 
hỏi một giáo sư Việt văn thì được biết : « vạn gia sinh Phật » nghĩa là 
«ông Phật sống của mọi nhà » là tên đặc biệt mà dân chúng dành cho ông tể 
tướng Tư Mã Quang bên Tàu sau khi ông chết, vì ông trị dân khéo nên mọi 
nhà được an vui. Theo nghĩa rộng, « vạn gia sinh Phật » là người có đức 
độ lớn.
106 - 1/ Tôi không tán thành dịch tâm là lòng và thể là vóc. Trong các bài 
về Phật học, nên giữ nguyên hai chữ tâm và thể. «Thưa quý đạo hữu, hôm nay 
tôi xin nói chuyện về cái lòng » nghe hơi kỳ ! Trong « bản thể » và « thể, 
tướng, dụng » thì nên để chữ thể. Tâm = Mind, Esprit. Thể = Nature, Essence. 
Quý độc giả có ý kiến khác, xin cho biết.

 2/ Đạo Phật quan niệm rằng đời sống bắt đầu từ khi bào thai hiện hữu, nên 
Phật tử tránh phá thai để giữ giới thứ nhất.
Lục tổ Huệ Năng

Lục tổ Huệ Năng

3/ Lục tổ có hai nghĩa : một là sáu vị tổ 
của Thiền tông, hai là vị tổ thứ sáu của 
Thiền tông, tức là ngài Huệ năng. Hành trạng 
của ngài Huệ năng được ghi trong phần đầu 
của kinh Pháp Bảo Đàn (đã có bản dịch tiếng 
Anh và tiếng Pháp). Đạo hữu nên coi cuốn 
Lục tổ Huệ Năng do TT Trí Quang viết, Phật 
học viện Quốc tế ở California in lại.
107 - 1/ Một thứ mà nhiều tên nên thật là 
khổ. Núi Grdhrakùta phiên âm là Kỳ-xàquật. 
Núi này có nhiều chim đại bàng (con ó), 
đỉnh núi giống đầu con đại bàng nên người 
ta gọi là Thứu sơn, Thứu Phong, Thứu đầu, 
Linh Thứu, Linh Sơn, Linh Thứu Sơn (Mont 
des Vautours). Đức Phật Thích-Ca thuyết pháp ở đó. Ta vẫn nghe « Nam mô.
.. Linh Sơn hội thượng Phật, Bồ tát ». Còn một tên nữa là Kê Túc Sơn, 
vì chân núi hình giống như chân gà (Từ điển Minh Châu-Minh Chí). Có 
sách nói rằng đỉnh núi có ba ngọn chót vót như chân gà (Thích Tinh Vân, 
dịch giả Như Đức, sách Thập đại đệ tử, ấn tống 1997, tr.190) Đạo hữu 
nào hành hương Phật tích về, xin cho chi tiết, tôi đang ngồi đáy giếng !
Đưòng lên núi Linh Thứu

Đưòng lên núi Linh Thứu

2/ Đếm hơi thở được đức Phật dạy trong kinh Quán niệm. Phương pháp đơn 
giản nên người mới tu cũng như người tu lâu rồi thường áp dụng. Xin đạo 
hữu tìm kinh đó để coi và thực hành, chép ra đây dài quá.

3/ Theo Phật học từ điển Đoàn Trung Còn thì : tổ sư thiền là phép thiền do 
chư vị tổ sư truyền thụ, còn Như Lai thiền là phép thiền nương theo các 
Kinh, Luật, Luận đã thuyết. Muốn biết sự khác nhau, phải hỏi các vị đã thực 
hành thiền rồi.
108 - 1/ A-lại-da (phạn : alaya) là thức thứ tám, tham dự vào sự tái sinh. 
Còn rất nhiều tên nếu kể hết ra thì ... sợ lắm : a-lại-da-thức, bát thức, 
đệ bát thức, tạng thức, căn bản thức, hàm tàng thức, Như Lai tạng thức ..

 2/ Tam tạng (pali : tipitaka, skt : tripitaka, Trois Paniers, Three Baskets) 
gồm có Kinh, Luật và Luận. Nhớ ba chữ đó dễ hơn, tìm nữa mệt lắm. Luận là 
Abhidhamma (pali), Abhidharma (skt), phiên âm là A-tì-đạt-ma, A-tì-đàm. Còn 
chữ hán việt là đại pháp, vô tỷ pháp, đối pháp. Người ta nói rằng có nơi dịch 
là Métaphysique tức là Siêu hình học, Hình nhi thượng học, Huyền học. Đạo hữu 
ơi, « bơi » vô biển danh từ làm gì cho mệt cái thân già. Một nhà sư già tại 
một chùa nghèo gần Saigon bảo tôi rằng : « Mấy ông dùng trí nhiều quá, hãy 
dùng tâm đi ».
109 - Kinh A Di Đà đã nói đến 1250 vị tỳ kheo. Chuyện ấy như sau : Khi đức 
Phật đi dọc theo sông Ni-liên-thuyền, gặp tín đồ phái thờ Thần Lửa, ngài hóa 
độ được ba anh em ông Ca-Diếp (không nên lẫn với ngài Đại Ca-Diếp, sau sẽ làm 
tổ thứ nhất, thay Phật cầm đầu Giáo hội) cùng với 1000 đệ tử. Rồi đức Phật 
tới thành Vương Xá, thủ đô nước Ma-kiệt-đà, hóa độ vua Tần-bà-sa-la. Nơi này, 
có hai ông Xá-Lỵ-Phất và Mục-Kiền-Liên là người ngoại đạo rất nổi tiếng vì 
thông minh tài trí. Một hôm, ông Xá-Lỵ-Phất gặp và hỏi chuyện một đệ tử của 
đức Phật. Sau khi nghe một bài kệ ngắn, ông Xá-Lỵ-Phất tỏ ngộ, về báo tin cho 
ông Mục-Kiền-Liên rồi hai ông cùng nhau xin quy y Phật, cùng chứng quả A-la-hán.
250 đệ tử của hai ông cũng xin quy y Phật luôn. Do đó, có con số 1250 
(1000 + 250).

Ghi chú. Bài kệ mà ngài Xá-Lỵ-Phất được nghe như sau : « Các pháp do nhân
  duyên sanh, Cũng theo nhân duyên mà diệt, Nhân duyên sanh diệt này, Như Lai
  hằng tuyên thuyết. » Và : « Các hạnh vô thường, Là pháp sanh diệt, Sanh diệt
 diệt rồi, Tịch diệt là vui. »
110 - Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên cho nhóm ông Kiều-Trần-Như gồm năm
người. Theo đại đức Narada Maha Thera thì năm vị đó là : Kondanna, Bhaddiya,
 Vappa, Mahanama và Assaji (sách Cuộc đời đức Phật, chùa Bửu Môn, Port Arthur,
 TX, USA, ấn tống, PL.2534, tr. 48).
 Theo Từ điển Đoàn Trung Còn, Ngũ tỳ-kheo đó là : Ajnata Kaundinya, Asvajit,
 Bhadrika, Dasabala-Kasyapa (hoặc là Vàshpa) và Mahamanna-Kulika [chữ ghi khác
 nhau có thể là vì trên ghi theo pali, dưới ghi theo sanskrit] tức là A-nhã Kiều-Trần-
 Như, Át-Bệ, Bạt-Đề, Thập-lực Ca-Diếp (hoặc là Bà-sa-ba) và Ma-nam Câu-lỵ.
Kiều Trần Như. Ngũ vị Tỳ kheo

Kiều Trần Như. Ngũ vị Tỳ kheo

 Từ điển Phật học Hán Việt ghi trong mục Ngũ tỳ-khiêu : Kiều-Trần-Như, Ngạch-Bề,
 Bạt-Đề, Thập lực Ca-Diếp, Ma-nam-câu-lỵ.
 Trong sách Đường xưa mây trắng, quyển 1, trang 225, tác giả Nhất Hạnh ghi tên
 năm vị ấy là : Kondanna, Mahanama, Bhaddiya, Vappa, Assaji (Vậy là giống Narada).
 [Ghi chú : Kiều-Trần-Na cũng là Kiều-Trần-Như].

111 - Tôi hết sức đồng ý với đạo hữu là phải có một cơ quan nào đó đủ thẩm 
quyền để điển chế các danh từ, thuật ngữ Phật giáo cho thống nhất, ngõ hầu các 
thế hệ sautiến vào dễ dàng và hoằng dương Phật pháp hữu hiệu. Còn dùng cả 
« đống » danh từ cho một ý thì chỉ có hại mà thôi. Vấn đề là tổ chức nào lo? 
đoàn thể nào có đủ người ? Các vị học rộng tài cao ra đi dần dần, các vị còn 
lại thì sao ? Nói thẳng ra là còn nhiều vướng mắc lắm, đặc biệt là về .. 
chính trị.

Đạo Phật có khá được hay không là do tăng ni và Phật tử.
 Có một câu chuyện như sau này : « Một con sư tử kia, già ốm rồi chết. Không 
một con thú nào trong rừng dám đến ăn thịt chúa sơn lâm đó vì chết mà nó 
vẫn oai. Thế mà xác nó rồi cũng tan. Vì sao ? Vì chính vi trùng trong xác ấy 
đục khoét nó, phá tan nó. Nó tan do từ trong phá ra chứ không phải từ ngoài 
đánh vào! ». Đạo hữu thấy áp dụng chuyện ấy vào Phật giáo Việt Nam có được 
không ?

112 - 1/ Tôi cũng nghe nói rằng : Duy thức học là tâm lý học của Phật giáo. 
Kinh Lăng Nghiêm là luận lý học của Phật giáo. Điều thứ nhì này không chắc 
đâu vì Phật giáo có luận lý học riêng gọi là Nhân minh học.
 2/ Không nên xếp chung Phật giáo nguyên thủy và Tiểu thừa. Có Phật giáo 
nguyên thủy trước đã. Sau chia nhiều bộ phái gọi chung là Tiểu thừa, rồi mới 
đến Đại thừa. Bộ sách mà HT Quảng Độ dịch từ tiếng Nhật (qua chữ Hán) gồm 
3 quyển : Nguyên thủy Phật giáo, Tiểu thừa Phật giáo, Đại thừa Phật giáo 
tư tưởng luận.
113 - Đạo hữu thắc mắc : Vũ trụ rộng lớn bao la như vậy, làm sao xác định 
phương hướng mà kinh Di-Đà lại nói là Tây phương Cực lạc quốc ? Tôi nghĩ 
tạm như vầy : Nói đơn giản, phương Tây là đối với người ở trái đất, phía 
mặt trời lặn. Nói tượng trưng, phương Tây hình dung cho một cái gì đang tàn
như là ngày đang hết, ánh sáng đang tắt. Người sắp chết là đời sắp hết, nên 
đi về hướng Tây. Còn phương Đông, mặt trời mọc, tượng trưng cho một thứ gì 
mới sinh, đang lớn. Phía Đông đó, có đức Phật Dược Sư tức là Đông Phương giáo
chủ cũng có tịnh độ của ngài, chúng sinh có thể xin vãng sanh về đó được, 
nhưng người ta có thói quen xin về với đức Di-Đà, chỉ khi nào đau yếu mới cầu 
xin đức Dược Sư để mau lành bệnh. Đó là một cách nghĩ thôi, độc giả có ý kiến 
gì thêm, xin vui lòng lên tiếng.
[Các phi hành gia giữ phương hướng bằng cách dùng các định tinh trên trời, ấy 
là một bạn nói với tôi vậy, chứ tôi thuộc loại « cổ lai hy rồi », khỏi học 
cách tìm phương hướng vì làm đơn xin vô đoàn phi hành gia vũ trụ tốn sức lắm ! ]

114 - Câu chuyện người mù sờ voi rồi mỗi người nói một cách, đúng là chuyện 
trong kinh Phật (lấy ở Tiểu bộ kinh, phần Udàna). Người mù sờ chân voi, nói 
con voi nó như cái cột, ngưới mù khác sờ tai voi, nói con voi nó như cái quạt..
. « Thế rồi bọn họ ai cũng cho mình là phải. Con voi nó như thế này, con voi 
nó như thế nọ. Họ cãi nhau om sòm. Sau cùng, không anh nào chịu anh nào, họ 
quay ra ẩu đả nhau. Nhà vua thấy vậy lấy làm đắc ý và cười nhiều »

Chúng ta coi chuyện ấy, nghĩ rằng mỗi người chỉ nắm được một phần sự thật, mỗi
 người nói đúng nhưng chưa đủ. Bài học rút ra là cần phải biết sự thật toàn vẹn, đừng
 nghĩ rằng mình nắm sự thật, người nói khác mình là sai. Tuy nhiên, linh mục 
Trần Thái Đỉnh của viện Đại Học Huế lại viết đại khái như sau: Nhà vua trên đây
chính làđức Phật, ngài « nhìn thế sự mà buồn cười », thái độ của Phật trước 
những tranh biện là : « cười ». Cười là thái độ bất can thiệp. Linh mục trích 
dẫn kinh : « Các tỳ khưu ơi, ta không tranh luận với người đời. Nhưng người đời
 lại cứ đòi tranh biện với ta. Hễ ai noi theo Pháp của ta, thì cũng không tranh 
biện với người đời » (Samyutta Nikàya, III, 138).
 Tôi nghĩ rằng đức Phật có tranh luận nhiều với các ngoại đạo.
115 - Khi viết về cuộc đời các vị thánh, người ta hay thêm các chi tiết có vẻ 
hoang đường, đọc lên thấy ý vị, hư hư thực thực, nhưng chúng ta có thể bỏ qua 
nếu thấy không hợp với thời đại này. Thí dụ : Khi đức Phật nhập diệt, ngài 
Ca-Diếp đang đi hoằng pháp nơi xa, được tin thì vội về nơi làm lễ trà tỳ. Lúc 
ấy nhục thể đức Phật đã được quấn kỹ, thế mà khi ngài Ca-Diếp về tới, có một 
bàn chân Phật thò ra ngoài cho ngài Ca-Diếp thấy.
Tổ Ma Ha Ca Diếp

Tổ Ma Ha Ca Diếp

Sau đây là một chi tiết liên quan đến ngài Ca-Diếp : 
Ngài Ca-Diếp nhận y bát từ Phật Thích-Ca, đảm nhận 
việc điều khiển Giáo Hội lúc tuổi đã cao, khoảng 
trên bảy,tám chục tuổi. Khi ngài trên một trăm tuổi, 
cảm thấy đến lúc nhập Niết-bàn, ngài bèn giao phó 
mọi việc cho ngài A-Nan rồi bay lên hư không, tới 
tám chỗ thờ xá-lợi Phật để lễ bái. Sau đó ngài đến 
từ biệt vua A-xà-thế nhưng gặp lúc vua đang ngủ, 
ngài bèn lên núi Linh Thứu. Núi tách ra, ngài bước 
vào trong, tức thì núi khép lại. Vua A-xà-thế và 
ngài A-Nan cùng đi tới núi Linh Thứu tìm ngài. Núi 
lại tách ra, hai người thấy ngài Ca-Diếp ngồi nhập 
định, chung quanh rắc đầy hoa. Khi hai người đảnh 
lễ xong thì núi khép lại.

Ta nên nhớ rằng đức Phật hết sức quý trọng ngài Ca-Diếp. Ngài Ca-Diếp tu 
hạnh đầu đà, nên ăn mặc rách rưới. Khi ngài đến thăm đức Phật, nhiều người 
có ý coi thường ngài. Đức Phật dùng tha tâm thông biết được điều ấy, bèn 
ngồi xích sang một bên, lên tiếng mời ngài Ca-Diếp tới ngồi bên cạnh. Nhưng 
ngài Ca-Diếp không dám. Đức Phật nói cho đại chúng hiểu công phu tu tập của 
ngài Ca-Diếp và bảo rằng dù không có Phật tại thế, ngài Ca-Diếp cũng thành 
đạo quả.

116 - Chữ phạn SùnyatàSùnya dịch là tánh khôngkhông.
 Chữ Không có hai nghĩa : 1/ các pháp duyên khởi (nói nôm na cái gì do nhiều 
thứ hợp lại) thì chẳng có bản thể, ta gọi chúng là không). 2/ toàn thể các 
pháp trong vũ trụ cùng chung nhau một bản thể, cái bản thể đó gọi là Không.
Chớ hiểu không là không có gì. Nhưng có thể hiểu không là chẳng có bản thể 
theo nghĩa thứ nhất.
 Nay người Anh và người Pháp để nguyên chữ Sùnyatà mà không dịch, trước đây 
họ dùng Void, Emptiness ; Vide, Vacuité.

117 - Pháp sư không phải là thày pháp làm bùa ngải, thày cúng ! Pháp sư là do
chữ thuyết pháp sư nói gọn lại, có nghĩa là người giảng kinh sách. Luật sư 
trong đạo Phật không phải là ông thày cãi mà là người tinh thông, giảng giải 
giới luật. Luận sư là người am hiểu, giảng giải Luận. Tinh thông cả ba thứ 
gọi là Tam tạng pháp sư.

118 - Trong các danh từ sắc, thọ tưởng, hành, thức tức là ngũ uẩn thì chữ hành 
khó hơn cả. Hành (ở ngũ uẩn) có nghĩa là những sự tạo tác của tâm thức, bao 
gồm tất cả các hoạt động của ý chí, xấu hay tốt, chính chúng gây ra nghiệp. 
Còn theo nghĩa rộng thì hành là bất cứ cái gì do nhân duyên hợp lại mà thành,
đó là chữ hành trong « chư hành vô thường ». (coi lại số 82).

119 - Tại sao gọi là Bát thập tụng luật ? Sau khi đức Phật nhập Niết bàn 
khoảng tám tháng thì ngài trưởng lão Ca-Diếp triệu tập cuộc kết tập pháp để 
định rõ những lời đức Phật đã dạy, tránh tình trạng làm sai lạc đi. Ngài A-Nan 
thuyết phần Kinh, ngài Ưu-Bà-Ly đọc phần Luật và ngài Ca-Diếp tụng phần Luận 
(khơng chac lam), không ghi chép trên giấy tờ gì cả. Ngài Ưu-Bà-Ly đọc đi đọc 
lại các điều giới luật tới 80 lần, khiến cho mọi người thuộc lòng. Vì thế gọi 
là Giới Luật đã được đọc 80 lần, tức Bát thập tụng Luật.
Chúng ta nên biết rằng ngài Ưu-Bà-Ly là một trong mười đại đệ tử của đức Phật,
mệnh danh là « trì giới đệ nhất ». Ngài xuất thân từ giai cấp thủ-đà-la là giai
 cấp thấp nhất của Ấn-Độ thời bấy giờ, làm nghề thợ cạo. Vì lành nghề nên được 
ở ngay trong hoàng cung để cắt tóc cho các vương tôn công tử. Khi mấy công tử, 
trong số ấy có ngài A-Nan, xuất gia theo Phật thì ngài Ưu-Bà-Ly theo luôn và tu
hành tinh tấn,trì giới rất nghiêm, trở thành một đại đệ tử của đức Phật.

120 - Tại Trung Quốc, có bốn ngọn núi nổi tiếng gọi là Tứ đại danh sơn : núi 
Phổ Đà là một hòn đảo nhỏ ở phía Đông (tượng trưng Thủy, nước) thờ ngài Quán 
Âm, núi Nga Mi ở phía Tây (tượng trưng Hỏa, lửa) thờ ngài Phổ Hiền, núi Ngũ 
Đài ở phía Bắc (tượng trưng Phong, gió) thờ ngài Văn Thù, núi Cửu Hoa ở phía 
Nam (tượng trưng Địa, đất) thờ ngài Địa Tạng. Đất, nước, gió, lửa là bốn đại 
nói trong Phật học.

(Ghi chú : tứ sơn, bốn núi, là nói về sinh, già, bệnh, chết).
 An Nam tứ đại khí là : tháp Báo Thiên ở Hà Nội, chuông Quy Điền ở Hà Nội, 
đỉnh Phổ Minh ở Tức Mạc, Nam Định và Tượng Quỳnh Lâm ở Đông Triều, nay không 
còn.

121 - Mâu Bác hay Mâu Tử là người Tàu, trước theo Lão giáo, bỏ nước loạn, chạy
 sang Giao Chỉ, học đạo Phật và trở nên một Phật tử thuần thành. Ông đã viết 
tác phẩm đầu tiên (về Phật giáo) bằng chữ Hán, đó là cuốn Lý Hoặc luận vào 
cuối thế kỷ II. Vì lẽ đó, người ta nghĩ rằng đạo Phật được truyền vào Việt 
Nam trễ lắm là trong thế kỷ đó.
 Lý thuyết cho rằng Phật giáo đến Việt Nam trước khi đến Trung Quốc có thể 
tin được vì các tăng sĩ Ấn Độ theo thuyền buôn đến nước ta rất sớm.

122 - Văn-Thù-Sư-Lỵ cũng là Mạn-Thù-Thất-Lỵ, hai chữ ấy phiên âm từ chữ phạn
 Mansjuri. Lấy nghĩa mà xét thì tên ngài dịch là Diệu Cát Tường, và nhiều nữa! 
Xá -  Lỵ-Phất phiên âm từ chữ pali Sariputta, chữ skt Sariputra. Lấy nghĩa mà 
xét thì sari là một loài chim có mắt đẹp, mẹ ông Xá-Lỵ-Phất có mắt đẹp như mắt 
chim sari nên được đặt tên là Sari, còn putta nghĩa là con. Vì thế tên ông cũng
là Xá-Lỵ-Tử tức là con bà Sari. Thật là rắc rối, chỉ có một cái tên mà vừa 
phiên âm vừa dịch nghĩa !
Tại sao lại đọc là Văn-Thù-Sư-Lợi, Xá-Lợi-Phất ? Bởi vì vị anh hùng đất Lam Sơn
 có tên là Lê Lỵ nên khi ngài đuổi được quân Minh và lên ngôi vua (vua Lê Thái 
Tổ) thì phải kiêng chữ Lỵ, đổi tất cả thành Lợi. [ Italie là Ý đại lỵ đổi thành
ra Ý đại lợi, sau nói gọn lại thành nước Ý, tiện quá chừng chừng !]. Xin coi 
chú thích số 171, trang 238, cuốn Quốc Triều Hình Luật của Nguyễn Ngọc Huy, 
Viet Publisher, 1989.

123 - Theo sách vở thì người ta xếp tượng ngài Ca-Diếp và ngài A-Nan đứng ở hai
 bên đức Phật Thích Ca. Ngài Ca-Diếp già, ngài A-Nan trẻ. Riêng tôi, không được
coi nhiều chùa, nhưng những chùa mà tôi đã coi thì không thấy hai tượng ấy.
 Trong các hình và tượng, người ta thấy ngài Văn Thù ngồi trên lưng một con sư 
tử, ngài Phổ Hiền ngồi trên một con voi, ngài Địa Tạng ngồi trên một con lân. 
Trong một cuốn từ điển, tôi thấy hình đức Phật A-Di-Đà ngồi trên tòa sen, tòa 
sen đặt trên bệ, dưới bệ có mấy con công.
Chùa Non Nước

Chùa Non Nước

124 - Thuở nhỏ, còn « đi sói con », tôi đã có dịp lên chùa Non Nước ở Ninh Bình,
 trên núi Dục Thúy sát bờ sông Đáy. Về sau, khi ở Saigon, tôi có dịp ra Đà Nẵng
 nên được đi thăm chùa Non Nước cách thành phố không xa. Vậy là có hai chùa Non
 Nước. Đạo hữu nào biết chùa Non Nước khác, xin cho biết ngay, đa tạ.

TB. Vị sư nào đó cho gửi thư đi khắp nơi nói rằng « đã đạt đại trí huệ vượt 
28 tầng trời », tôi không tin đâu, đạo hữu ơi.

125 - Đế nghĩa là sự thật, chân lý. Trong giáo pháp của đức Phật, có hai tầng 
chân lý là chân đế và tục đế. Chân đế là tầng cao dành cho hàng thánh. Tục đế 
dành cho hàng thiên, nhân, phàm. Cần hiểu như vậy mới không bỡ ngỡ, thí dụ 
trong Tâm kinh có nói « không đắc » rồi ở dưới sau đó vài dòng lại nói « đắc 
a-nậu-đa-la tam-miệutam-bồ- đề ». Ở trên là chân đế (không đắc), ở dưới là 
tục đế (đắc). Chân đế còn gọi là đệ nhất nghĩa đế, thắng nghiã đế. Tục đế còn 
gọi là thế đế.

Ghi chú. A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề (anuttara-samyak-sambodhi) là quả vị
 Phật, vô thượng chánh đẳng chánh giác.
____________________________________________________________________________
                                                                 (Còn nữa)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s