Phật Học – Thư Đi Tin Lại (I)


Lời giới thiệu- Cách đây một năm, chúng tôi đã có dịp giới thiệu với quý bạn đọc Vườn Đào ba bài Vấn Đáp về Đạo Phật (I) →, Vấn Đáp về Đạo Phật (II) → và · Vấn Đáp về Đạo Phật (III) → của ông Hoằng Hữu Nguyễn văn Phú tại Gia Nã Đại. Ông Phú đã qua đời tháng Hai, 2013 tại Montreal. Trong khi còn tại thế, ông Phú còn giữ mục Thư Tín của hai tập san Liên Hoa va Pháp Âm. Với tính cách này, ông Phú đã có dịp trao đổi thư tín với các đạo hữu của hai tập san để cùng nhau học tập, mà ông gọi là “trau dồi đôi chút về Phật học, ít nhất cũng trên phương diện chữ nghĩa chứ không dám nói về tu tập”. Ông Phú đã gom góp những thư tín này trong một tập sách nhỏ với tựa đề “Thơ Đi Tin Lại”.

Nhận thấy những bài viết trong Thơ Đi Tin Lại này có nhiều giá trị cho những ai muốn hiểu biết thêm về Phật giáo cũng như những tập tục lễ nghi của người Việt, chúng tôi xin trân trọng với bạn đọc ít bài trong Thơ Đi Tin Lại của ông Hoằng Hữu Nguyễn Văn Phú dưới đây.

Vì tài liệu này khá dài, chúng tôi phải đăng tải làm nhiều kỳ. Đây là kỳ thứ nhất của “Thơ Đi Tin Lại”

LỜI NÓI ĐẦU

Ông Hoằng Hữu Nguyễn văn Phú

Ông Hoằng Hữu Nguyễn văn Phú

Từ nhiều năm nay, các đạo hữu giao cho chúng tôi giữ mục Thư Tín của tập san Liên Hoa chùa Liên Hoa (Brossard, Canada) và tập san Pháp Âm của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trên Thế Giới. Lúc đầu, nghĩ rằng công việc không lấy gì làm nặng nên chúng tôi hoan hỷ nhận lời. Lúc vào thực tế mới thấy quả là khó khăn vất vả, lý do đơn giản là chúng tôi thiếu khả năng. Vì phải tìm tòi trong sách vở và học hỏi các thiện trí thức, dần dần chúng tôi thành quen, do đó được dịp trau dồi đôi chút về Phật học, ít nhất cũng trên phương diện chữ nghĩa chứ không dám nói về tu tập.

 
Nay tập san Liên Hoa đã ngưng hoạt động, chỉ còn tập san Pháp Âm ấn hành ba tháng một lần, nên chúng tôi có thì giờ coi lại những câu đã trao đổi với bạn đọc, nhân đó sửa lại cho nghiêm chỉnh hơn. Chúng tôi nảy ra ý gộp lại những lời đáp vào một tập cho khỏi tản mác.
 
Trong việc làm này, chúng tôi :
1/ bỏ tên các bạn đọc mà tôi đã trả lời trong « hộp thư » vì nay không cần thiết nữa.
2/ bỏ những chỗ trùng lặp, nghĩa là trả lời hai lần một câu hỏi hoặc hai câu hỏi tương tự.
3/ bỏ những câu chỉ có tính cách thời sự hoặc xã giao.
4/ nói rõ hơn những chỗ trước kia phải thu gọn vì khuôn khổ tập san
có hạn.
5/ thêm vào nhiều câu trước đây chỉ trả lời bằng thư riêng, những chuyện bổ túc cho các bài nói của tôi và một số khá nhiều câu mà các đạo hữu nêu ra khi gặp nhau ở chùa.
 
Ước ao rằng các bạn tôi, các đạo hữu của tôi cũng như mọi người thân của tôi được vui phần nào khi coi tập sách nhỏ này. Nếu « đạo giải thoát » của đức Thế Tôn được thêm một số người tìm hiểu và áp dụng tu tập thì tôi vô cùng hoan hỷ.
 

Montréal, 29- 8 – 2005.

Hoằng Hữu NGUYỄN VĂN PHÚ

***

Xin chú ý : con số đi theo sau mỗi mục dùng để chỉ số thứ tự các mục chứ không phải để chỉ số trang.

A-dục 211     A-du-đà quốc 241      A-Đề Phật 128          A-Hàm 265
A-la-hán 31   A-lại-da 108          An Thế Cao 257         A-na-luật 212
A-Nan 43, 84, 138                   A-Nan nằm mộng 149     A-tăng-kỳ 25 
A-tu-la 3     Ách 23                Áo vuông 163           A-xà-thế 86, 215                     Ấn 180Ấn Độ giáo 246          Ấn giáo 44

Ba thân 234      Ba vợ 210           
Ba-tư-nặc 173    Ba-la-mật 51      Ba-xà-ba-đề 83       Bà-la-môn 42
Bạc-câu-la 208   Bách Trượng 59    Bạch Cư Dị 81        Bạch-mã-tự25,263 
Ban-nhược 141    Bàn Đặc 126       Bánh vẽ 183          Bát 59
Bát chánh đạ52   Bát công đức thủy 20Bát-niết-bàn 103   Bát thập tụng 119
Bảy chúng 152    Bắc tông 36        Bất nhị 225         Bích-chi-phật 31
Bích quán 148   Bích quán Bà-la-môn 299 Bình-sa 215  Bố Đại hòa thượng 218 
Bốn chúng 152   Bốn loài 34             Bồ-đề        Bồ lao 16
Bồ-đề-đạt-ma 13 Bông hồng 147           Bọt nước 279  Bưng bát dầu 237 
Brahmà 199      Bùa 180

Ca-Chiên-Diên 168  Ca-Diếp 50        Cá lội 206        Các thừa 160
Cái 23             Căn 82            Cấm phòng 178     Cấu 23
Cầu siêu 256       Cha lành 34       Chân đế 125       Chân ngã 139
Chân như 28        Chân tâm 184      Chày kình 16      Chiền 57
Chổi quét 126      Chùa Diên Hựu 243 Chùa Một Cột 243  Chùa Non Nước 124
Cnùa Phổ Minh 259  Chú 180, 235      Chú Dược Sư 294   Chú Tâm Kinh 295
Chú vãng sanh      Chư thiên 322,93  Con rùa mù 177    Cõng cô gái 24
Cồ-Đàm 12      Cưu-ma-la-thập 228,229  Cửu lưu 9       Credo 104
Cúng dàng 269

Da-du-đà-la 78   Dấu chân voi 175    Di Lặc 61, 6      Diêm phù 35
Diệu Hiền 50     Diogène 145         Du-già 73         Dục giới 27
Duy thức 73      Duy thức học 112    Duyêngiácthừa 31  Duy-ma-cật 47

Đạibát-niết-bàn103 Đạibổn DiĐà 205   Đại ngã 73       Đại Nhật Như Lai 128 
Đại đức 94         Đại thừa 36       ĐạiTùng Lâm 127  Đạo 38
Đạo Nhất 249       Đạo tràng 19      Đau Khổ 42       Đầu đà 67
Đế Thích 200       Đế thích 44       Đề-bà-đạt-đa 86   Để tang 4
Điển chế 111       Độ 51             Độc giác phật 31  Đôn Hoàng 171
Đốt hai cánh tay 261                 Đường tam tạng 3

Già-lam 71      Giải không 49          Giáo điều  75    Giết Phật  161
Giết rận 262    Gió thổi lá phướn 224  Giới định đạo 153

Haipháinăm dòng 92 Hạnh đầu đà 268        Hàn Dũ 260          Hành 82
Hoa tạng 169       Hoa tạng huyền môn 201 Hòa thượng 94       Hòa-nam 169
Hoặc 23            Hoan hỉ nhật 179       Hoang đường 115     Hoài Nhượng 249
Học kinh 150       Hơi cơm 47             Hữutình thếgian 282  Huệ Năng 13

Kệ 37         Kệ của HuệNăng 223  Kệ của Thần Tú 223    Kết 23
Kết hạ 176    Khất thực 59        Khí thế gian 282       Khổ 52
Không 77,116  Không già 264       Không làm,không ăn 255 Khuyển nho 145
Kiếp 25       Kiều-Trần-Như 52,110Kiều-Đàm 83            Kim Cang 69
Kim trần 82   Kinh 74              Kinh Viên Giác 278    Kinh Bát Niết Bàn 276 
Kinh42chương,281 Kinh HoaNghiêm 272 KinhLăngGià TâmẤn 277KinhLăngNghiêm 271
Kinh Đại BátNhã 273               Kinh Pháp Bảo Đàn 274  Kinh pali 74
Kinh Pháp Hoa 58, 88, 219         Kinh Phổ Môn 300       Kinh sanskrit 74
Kỳ quặc 250  Kỳ thị 96            Kỳ Viên 292            Kỳ-xà-quật 107

Lâm-tì-ni 171       Lân trần 82       Lậu 23                 La-hán 31
Lá bồ đề 131        Lá bối 131        Lễ Phật 4              Lỵ, Lợi 122
Liễusinh thoáttử 89 Linh Sơn 107      Lương Hoàng Sám 63,79  Long Hoa 61
Lương Thế Vinh 130  Lưới Đế châu 200  Lục hòa                Lục nan 177
Lục sư 172          Lục thông 88      Lục tự chân ngôn 295   Ly dị 233
Lý Quốc Sư 288

Mã Tổ 249          Mái cong 244     Mạt pháp 238       Mãn Giác 258
Mạn-đà-la 180      Mất đầu 181      Mê tín 10,132      Minh Không 104
Mộtniệm sailầm 207 MụcKiềnLiên 9,68 Mườiba danh hiệu46 Mườicảnh giới 27
Mười haibộ kinh 66 Mười hai xứ 82   Mười tám giới 82 

Năm sứ giả 204 Nam Phương 65, 252   Nam Tông 36          N am vô 141
Ngày vía 97    Người mù sờ voi 114  Ngón tay 174          Ngũgia thấttông 92 
Ngũ nhãn 56    Ngũ thừa 31          Ngũthờithuyếtpháp 93  Ngũ thường 64
Nguyễn Bỉnh Khiêm 259               NguyễnTrãithiềnsư 285 Nhân minh học 112
Nhật-Liên 53   Nhà Như Lai 154      Nhà Trần 226          Nhiễm 23
Nho & Phật 286 Nhục thân khô 287    Như Lai 28, 165       Như Lai thiền 57
Như,Như như 28 Niêm hoa 185         Niệm Phật 187         Niệm Phật 230
Niết bàn 103, 129                   Nước tám công đức 20  Núi Tu di 35

Ô Sào 81

Pali 1    Phá thai 106             Phạm, Phạn 267        Phạm thiên 199
Phạm thiênvương 42 Phản quang 231  Pháp 40               Pháp ấn 40
Pháp Hiền 284      Pháp môn 52     Pháp môn bất nhị 220  Pháp nạn 247
Pháp tánh 7, 300   Phật Ấn 296     PG nguyên thủy 112    Phật như như 213
Phật pháp ngoạiđạo 202             Phật sống 105         Phật tâm tông 57
Phật tánh 7, 300   Phệ-đà 172      Phihữu phikhông 169   Phiên âm 102
Phiền não 22       Phổ Hiền 133    Phương Đông 113       Pin-yin 231
Pratyeka 171

Quả báo 72           Quan Bích 65, 252  Quán niệm 107     Quỷ vô thường 204

Rằm tháng bẩy 275    Rinpoche 231

Sa-môn 94         Sám hối 63       Sangha, Samgha162     Sanskrit 1
Sáu căn 82        Sáu Tổ 245       Sắc giới 27            Sĩ Nhiếp 253
Singha 162        Số luận 73       Sổ tăng tịch 156       Sông Hằng 170
Soutra 2          Suối GiảiOan 186 Sutta 2                                     Sử 23

Ta-bà-ha 4        Tam bảo 10        Tam chướng 21
Tam cương 64      Tam cú 280        Tam giáo 38         Tam giới 27
Tam học 10        Tam Kinh 166      Tam mật 180         Tam pháp ấn 40
Tam quy 159       Tam tạng 3, 108   Tam thân 135        Tam thiên 33
Tam thiên 95      Tam thú độ hà 24  Tam xa 24           Tâm bồ-đề 17
Tăng già 60       Tâm Kinh 298      Tâm tông 57         Tần-bà-xa-la 215
Tây du ký 3       Tây vực ký 3      Tha lực 10          Thặng 24
Thái cực 38       Thanh văn thừa 31 Thảo Đường 65       Thần Tài 290
Thần thông 87,205 Thân trung ấm 254 Thập hiệu 45        Thập sử 29
Thế đế,tục đế 125 Thế Thân 239      Thi lâm 97          Thích-Ca 12
Thích đề hoàn nhân 200              Thiền 73, 222       Thiền tông 57
Thiền-Na Phật 128 Thiện căn 157     Thoáitâm đạithừa 242Thoát sinh tử 217
Thuần-đà 55       Thủy Sám 63, 79   Thừa 2              Thực tướng ấn 40 
Thượng tọa 94     ThườngTịchQuang 143Tịnh Danh 270      Tịnh Phạn 18
Tiểu ngã 73       Tiểu thừa 36      Tìm con dê 136      Tìm Phật 297
Tính Không 116    Tìniđa-lưu-chi 65 Tổ sư thiền 57      Tô Đông Pha 296
Tốithượng thừa 36 Tống Nho 130      Trần 82             Trần TháiTông 14, 203
Trần ThánhTông 209Trai tăng 101     Trí Khải 93         Triền 23
Trúc Lâm 137     Trúc Lâm tam tổ 15 TrúcLâm Yêntử 15,252 Tu-Bồ-Đề 49, 76
Tuệ 104          TuệTrung thượngsĩ 283 Tu-la 30          Tứ chúng 152
Tứ diệu đế 52    Tứ đại 8, 170      Tứ đại danh sơn12    Tứ đại khí 120
Tứ đức 167       Tứ quả 164         Tứ sanh 34           Tứsinh cửuhữu 201 
Tứ sơn 120       Tứ vô thường 40    Tứ y 80              Từ Đạo Hạnh 289
Tự 25            Tự điển Phật học 5 Tỳ-kheo 85           Tỳ-kheo, sa-môn 266 
Tỳ-kheo-ni 85

Ưu-bà-di 85     Ưu-bà-tắc 85

Vạn Hạnh 258    Vãng sanh 251     Văn-Thù 47        Vi Đà 142
Vi trần 82      Vị trần 82        Voi sáu ngà 58    Vọng tâm 184
Vô học 170      Vô Ngôn Thông 65  Vô sắc giới 27    Vô thượng bồ-đề 17
Vô Trước 73,240 Vô vi 70,100      Vu Lan 68         Vua Quang Trung 155

Xá-Lợi-Phất 9   Xá-lỵ 221

Y pháp,bất y nhân 7  Y vương 8    Yết-đế 180       Yoga 73, 23

Thơ Đi Tin Lại

Chữ Sanscrit

Chữ Sanscrit

1 – Đức Phật Thích Ca chỉ nói pháp chứ không viết. Khi thuyết pháp, ngài dùng tiếng pali, một thứ tiếng bình dân ở Ấn độ, tiếng pali này là một hình thức của tiếng sanskrit (hay sanscrit) cao cấp hơn, dùng trong văn chương và giới quý phái. Chữ sanskrit gọi là chữ Phạm, gọi chệch đi là Phạn. Về sau, người ta ghi lại những lời dạy của đức Phật (các bài pháp gọi là Kinh, các lời dạy về giới luật gọi là Luật) và các lời bàn rộng (gọi là Luận) bằng tiếng pali, còn lưu truyền ở Tích Lan, do Nam tông (Tiểu thừa) dùng. Còn những bản bằng tiếng sanskrit (Phạn ngữ) thì lưu truyền ở Tây Tạng, do Bắc tông (Đại thừa) dùng. [Kinh, Luật, Luận gọi chung là Tam Tạng, les Trois Corbeilles, les Trois Paniers, the Three Baskets, pali : Tipitaka, sanskrit : Tripitaka].

2 – Hai chữ sutta và sutra nghĩa như nhau, đó là Kinh. Sutta là tiếng pali, còn sutra là tiếng sanskrit. Tiếng Pháp ghi là soutra. Chúng ta học Phật, gặp khó vì vấn đề danh từ : có khi phiên âm (Trung Quốc phiên âm trước, mình đọc chữ của họ theo  âm Việt), có khi dịch, mà mỗi người dịch một khác. Thí dụ : ngài Ananda, phiên âm là A-nan-đà, ngắn hơn là A-nan, dịch là Khánh Hỷ, tiếng Pháp là Toute Joie. Chúng ta sẽ còn gặp những khó khăn khác dính líu đến phiên âm chữ Hán. Bắc Kinh phiên âm là Pékin (Pháp), Peking (Anh), nay là Beijing, đây là phiên âm được Liên Hiệp Quốc công nhận chính thức, cách này gọi là pin yin (= bính âm). Chúng ta coi tài liệu của trường Viễn Đông Bác Cổ chẳng hạn, thì chắc chắn là phiên âm theo kiểu cũ tiếng Pháp rồi!

3 – Tam Tạng là tên chung chỉ Kinh, Luật và Luận. Khi nói Đường Tam Tạng thì không phải là bộ Tam Tạng thời nhà Đường bên Tàu, mà là nói ngài Huyền Trang, một nhà sư Trung Quốc vượt vô vàn khó khăn đi đường bộ sang Ấn Độ thỉnh Tam Tạng kinh điển, gọi ngắn là đi thỉnh kinh. Khi về, ngài có viết Tây Vực ký kể lại chuyến thỉnh kinh đó. Nhà văn Ngô Thừa Ân tưởng tượng ra truyện Tây Du ký với nhiều tình tiết ly kỳ rất hấp dẫn, với Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới … Đại chúng nhớ truyện Tây Du ký hơn là Tây Vực ký, mà bộ sau mới đích thực là có nhiều tài liệu quý giá. Ngài Huyền Trang họ Trần sinh năm 602, tịch năm 664. Đi sang Ấn độ thỉnh kinh mất 17 năm, từ 629 đến 645. Về nước, ngài cùng nhiều nhà sư khác dịch rất nhiều kinh, nổi tiếng nhất là bộ Duy Thức Luận, vì thế người ta tôn ngài là Giáo tổ dịch giả của Pháp tướng tông (một trong 10 tông phái Trung Quốc). Xưa kia, Ấn Độ được gọi là Tây Trúc, Thiên Trúc, Tây Vực…

4.

. Tang cha mẹ là 2 năm, sau 2 năm ấy trong vòng 3 tháng thì xả tang (vì thế nói rằng để tang ba năm). Đó là theo tục lệ của chúng ta. Đạo Phật không đặt lệ nào cả. Xem ngày để xin xả tang cũng là do sự tin tưởng có ngày tốt ngày xấu, hạp hay không hạp. Đạo Phật không kiêng ngày giờ gì hết. Đạo hữu hỏi ý riêng của tôi thì tôi xin dùng câu của các cụ : « có kiêng có lành ».

  1. Đi viếng đám tang, lễ bàn thờ Phật trước (3 lễ), rồi mới lễ bàn thờ vong (Lễ hai lễ, hai vái). Tang chủ lễ cảm tạ một lễ, ý nghĩa là xin nhận một lễ cho vong. Khách vái lại.
  2. Lễ bàn thờ Phật : ba lễ, ý nghĩa là lễ Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng)[ Ghi chú : Lễ bàn thờ gia tiên : bốn lễ, ý nghĩa là lễ bốn đời vì có câu « ngũ đại mai thần chủ », năm đời không lễ nữa. Tuy nhiên, cũng có những cách giải thích khác].
  3. Trong kinh nói, khi làm lễ cầu siêu, vong linh chỉ nhận được có một phần bẩy công đức mà thôi (kinh Địa Tạng). Vậy gia chủ phải lễ hết sức thành tâm và cẩn thận.
  4. Đạo Phật không nói đến lễ 100 ngày vì quan niệm rằng 49 ngày là thời gian tối đa để đi tái sinh (đầu thai) rồi. Người Việt mình cúng 100 ngày cho « chắc ăn » vì e rằng vong chưa « được đi đầu thai ».

5 – Ta-bà-ha do chữ Phạn svaha phiên âm ra. Còn phiên âm là : ta-ha, sá-ha, sa-bà-ha, tát-bà-ha, ta-phạ-ha… Chữ này đặt sau các câu chú, và cũng như các câu chú, người ta không dịch, muốn giữ lại tính linh ứng của câu chú. Phật học từ điển Đoàn Trung Còn ghi nghĩa của chữ đó là : thành tựu, kiết tường, tiêu tai tăng phước, viên tịch vô trụ, kính giác chư Phật chứng minh công đức. Đạo hữu lười quá, bắt tôi tìm cả chữ amen của Thiên chúa giáo. Ngay trong tự điển Larousse, đã có rồi mà, sao đạo hữu không chịu coi : amen (mot hébreux) ainsi soit-il, đại khái nghĩa là « cầu được  như thế ».

Từ Điển Phật Học Việt Nam

Từ Điển Phật Học Việt Nam

6 – Bạn bè mới cho chúng tôi một cuốn Từ điển Phật học Việt Nam, tác giả là Thích Minh Châu, Minh Chí, dày trên 800 trang, in ở trong nước. Đạo hữu chớ nên chờ đợi gì nhiều ở cuốn này, trừ vài địa danh, nhân danh Việt Nam (mà cũng thiếu). Từ điển của Đoàn Trung Còn mà đạo hữu đang có trong tay còn khá hơn. Đạo hữu ở ngay Thủ đô Ánh Sáng, thiếu gì các loại từ điển Phật học trong các thư viện. The Shambala Dictionary of Buddhism and Zen, nhà xb Shambala, Boston, 1991, tốt lắm. Địa chỉ : The Shambala Publications, Inc., Horticultural Hall, 300 Massachussetts Avenue, Boston, MA 02115, USA; tôi không nhớ giá, chừng 20 US$.

7

  1. Chúng tôi cũng nghe và thấy nhiều chuyện « bê bối » như đạo hữu kể trong thư, có khi còn nhiều hơn nữa! Tuy vậy, Phật đã dạy « y pháp bất y nhân », họ gieo nhân xấu, sẽ được quả xấu; còn mình theo Phật, cứ y theo Pháp của ngài mà tu học. Thấy ai xấu thì lánh đi, đừng tiếp xúc làm chi, thêm mệt ra! Một vị sư lớn tuổi bảo tôi rằng : « Chỉ có người mạt thôi, chứ Pháp thì mạt sao được ! ». Tôi thấy câu này hay, gửi tặng đạo hữu.
  2. Hãy nhường cho các nhà khoa học nghiên cứu nguồn gốc của vũ trụ, của trái đất và của con người. Đức Phật không làm các việc đó. Ngài đã dạy : « Như nước biển chỉ có một vị mặn, đạo của ta chỉ có một vị, đó là vị giải thoát » (giải thoát khỏi mọi khổ đau, khỏi sinh tử luân hồi). Đạo hữu hỏi tôi kinh sách có chỗ nào nói về Big Bang không, tôi xin chịu, kinh sách ngàn vạn quyển. Xin đạo hữu nhớ kỹ câu :« mọi thứ đều do duyên sinh » (nhân + duyên). Tuy nhiên có một thứ không do duyên sinh, đó là bản thể của vạn pháp, đó là Pháp tánh, Phật tánh. Cái ấy là tuyệt đối, không thể dùng ngôn ngữ thường ngày mà diễn tả ra được.

8 – Đức Phật là y-vương, chữa bệnh khổ cho chúng sinh. Đạo của ngài là đạo thoát khổ, đạo giải thoát. Không cần nêu lên rằng ngài đi trước các nhà khoa học, nhìn thấy vi trùng trong bát nước từ 25 thế kỷ nay mà không dùng đến kính hiển vi! Nếu có ai chê rằng kinh nói « thân người do tứ đại giả hợp » là thiếu sót quá thì đạo hữu trả lời vắn tắt rằng; « không nên hiểu tứ đại (đất, nước, gio,ù lửa) theo nghĩa đen mà phải hiểu đất là những thứ dắn, nước là những thứ lỏng, gió là hơi thở, lửa là thân nhiệt v.v… ».

9 – Trước khi gặp đức Phật Thích-Ca, hai ngài Xá-Lợi-Phất và Mục-Kiền-Liên đã tu theo ngoại đạo. Hai ngài hẹn với nhau rằng ai tìm được chân sư trước thì phải về rủ người kia. Một hôm, ngài Mục-Kiền-Liên gặp ngài A út-Bệ (Asvajit) là một nhà hoằng pháp của đức Phật Thích-Ca, ngài được chỉ dạy bốn câu sau này : « Chư pháp do nhân duyên mà sinh ra, Cũng theo nhân duyên mà diệt mất, Đức Phật của ta, ngài Đại Sa Môn, Thường hay chỉ dạy lý thuyết như vậy ». Ngài Mục-Kiền-Liên giác ngộ ngay, báo cho ngài Xá Lợi Phất. Hai ngài quy y Tam Bảo. [Ngài Mục-Kiền-Liên, gọi ngắn là Mục-Liên, có nơi vì tôn xưng mà ghi là Đại Mục-Kiền -Liên hay Ma-ha Mục-Kiền-Liên (sanskrit : Maudgalyàyana, Moggalàna) là bậc thần thông đệ nhất trong 10 đệ tử lớn của đức Phật. Ngài Xá-Lợi-Phất (sanskrit : Sariputra, pali : Sariputta) là bậc trí huệ đệ nhất trong 10 đệ tử lớn của đức Phật].

Điều quan trọng nhất mà ta học ở chỗ này là bốn câu in chữ nghiêng trên đây, lý duyên sinh là một lý hết sức đặc biệt của Phật giáo

10

  1. Nói rằng : « Pháp môn Tịnh độ dựa vào tha lực để cầu giải thoát thì cũng chẳng khác gì phương pháp nhờ tha lực để cầu được cứu rỗi như Thiên chúa giáo » đúng một phần, nhưng phải nhớ rằng vẫn cần tự lực đấy chứ! Không chuyên cần và tinh tấn thì làm sao mà thành công được. Tu thiền cũng cần tha lực chứ, lúc nhập thất, ai mang cơm cho ? Tự lực và tha lực là nói một cách tương đối thôi. Dù sao, thanh niên và người Tây Phương ngày nay có khuynh hướng về Thiền nhiều hơn, có lẽ họ nhận thấy ít nghi thức, nhất là gần đây có người « sáng chế » ra vài thứ « là lạ » (và buồn cười như thiền ôm chẳng hạn)
  2. Đạo hữu nói : « Kinh kệ có chỗ mê tín dị đoan », thật ra phải nêu ra chỗ nào là mê tín dị đoan, rồi tìm lời giải thích thỏa đáng. Khi nói « niệm đức Quán Âm thì nhảy vào lửa, mà không bị lửa đốt » thì phải hiểu lửa này là lửa ham muốn, tham dục đang thiêu đốt trong lòng ta, nếu biết tu thì lửa ấy xẹp đi, đấy là một thí dụ thôi, còn nhiều điều cần bàn lắm.

11

  1. Đạo hữu làm tôi ngạc nhiên : đạo hữu nói « tu về môn tụng kinh » nghe đã lạ tai rồi, « sáng tụng Địa Tạng, tối tụng Pháp Hoa » lại lạ tai hơn. Tôi đề nghị: đạo hữu cố gắng đến một chùa nào gần nhất, tìm gặp một vị sư rồi thỉnh ý về thể thức tu tập một cách đơn giản, rồi xin thỉnh vài cuốn kinh do vị sư ấy chỉ dẫn. Thí dụ đạo hữu chọn pháp môn Tịnh độ thì dùng kinh chính là kinh A Di Đà, trong đó có đủ nghi thức tụng kinh và đạo hữu hãy chịu khó niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh độ. Phải có người chỉ dẫn mới được, đừng thực hành bừa bãi, không kết quả mà có khi hại nữa.
  2. Tam học khác Tam Bảo nhiều lắm : Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng còn Tam học là giới, định, huệ. Khi đức Thích-Ca mới thành Phật dưới cây bồ đề thì chỉ có Nhị Bảo thôi là Phật và Pháp, lúc đó chưa có Tăng (Tăng-Già = Sangha, đoàn thể chứ không phải cá nhân).

12

  1. Phật Thích Ca Mâu Ni

    Phật Thích Ca Mâu Ni

    Có hai đức Phật cùng mang tên là Thích-Ca Mâu-Ni. Vị thứ nhất làmột vị cổ phật, tức là Phật đời quá khứ, cách đây vô lượng kiếp. Vị thứ nhì là đức Phật mà chúng ta thờ trong các chùa, đó là đức Phật hiện hữu trong lịch sử loài người. Ngài là một hoàng tử có vợ con, xuất gia tu thành Phật, ngài là giáo chủ của đạo Phật ngày nay.

  2. Tên đức Phật : họ là Cồ-Đàm (Gotama hay Gautama), tên là Tất-Đạt-Đa hay Sĩ – Đạt-Đa (Siddhartha), thuộc về bộ tộc Thích-Ca (Sakya hay Shakya hay Cïakya). Thích-Ca Mâu-Ni (Sakya Mouni) nghĩa là nhà minh triết của bộ tộc Thích-Ca (le Sage du clan des Sakyas. Ghi thêm : có chỗ dịch là « le Parfait de la race des Héros » vì Sakya có nghĩa là Mạnh mẽ, Năng lực, Puissant).
  3. Năm sinh và năm mất của ngài mỗi sách nói một khác, tuy nhiên Phật giáo thế giới nhận hai năm 623 và 543 trước Tây lịch làm năm đản sinh và năm nhập diệt của ngài. Năm ngài nhập diệt được kể là năm 1 của Phật lịch. Năm 2000 Tây lịch là năm 2544 Phật lịch. Lây Tây lịch cộng với 544 thì ra Phật lịch.

13

Tổ Bồ Đề Đạt Ma

Tổ Bồ Đề Đạt Ma

  1. Ngài Huệ Năng (Hui-neng, 638-713, người Trung Quốc) nhận y bát từ Ngũ tổ, nên ngài là Lục tổ (sơ tổ là ngài Bồ-đề-đạt-ma). Sau Lục tổ, không có lệ truyền y bát nữa. Người ta không biết rõ y và bát mà ngài Huệ Năng giữ nay ở đâu.
  2. Ngài Bồ-đề-đạt-ma [Bodhidharma, Pu-ti-ta-mo, 470-543(?) ] là tổ thứ 28 của Phật giáo, ngài là người Ấn độ, sang Trung Quốc lập ra Thiền Tông nên được coi là sơ tổ Thiền Tông, còn gọi là sơ tổ Đông độ (Trung Quốc ở phía Đông, Ấn Độ ở phía Tây).

14 – Vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) đúng là vua đầu tiên của nhà Trần, do vợ là Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho vào năm 1225. Đạo hữu cho rằng vua đầu tiên thì tên phải là Trần Thái Tổ mới hợp. Xin trả lời : nhà Trần coi thân phụ của Trần Thái Tông như là thượng hoàng nghĩa là coi ổng đã làm vua rồi nên dùng chữ Thái Tông mà không dùng chữ Thái Tổ. Nhận xét : đạo hữu dùng chữ « tên » vua. Xin nói rõ : tên húy của vua là Trần Cảnh, lên ngôi lấy niên hiệu là Kiến Trung 1225-1231, Thiên Ứng Chính Bình 1232-1250, Nguyên Phong 1251-1258. Khi vua băng vào năm 1258, thì miếu hiệu là Trần Thái Tông.

  1. Vua Trần Thái Tông là tác giả Khóa Hư Lục và nhiều sách về đạo Phật rất hay cả về đạo vị lẫn văn chương. Nhưng nhà vua không phải là người xuất gia (nhà vua trốn lên núi Yên Tử định đi tu nhưng bị chú là Trần Thủ Độ bắt về tiếp tục làm vua).

15

  1. « Trúc lâm tam tổ » nghĩa là ba vị tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Ba vị là : sơ tổ Hương Vân đại đầu đà tức là Điều Ngự Giác Hoàng (vua Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, 1258-1308 ), nhị tổ Pháp Loa (Đồng Kiên Cương, 1284-1330) và tam tổ Huyền Quang (Lý Đạo Tái, 1254-1334)
  2. Thiền phái này hoàn toàn do người Việt Nam lập ra và điều khiển, đó là một điều hãnh diện của chúng ta. Thiền phái này không nhận y và bát từ đâu cả.

16

  1. « Vẳng bên tai một tiếng chày kình », tiếng chày kình là tiếng chuông chùa. Chày là đồ dùng để giã, như chày giã gạo. Trong trường hợp mà chúng ta đang nói đây thì chày là cái dùi đánh chuông trong chùa. Kình là con cá kình. Có lời truyền sự tích rằng : con bồ lao ở biển rất sợ con cá kình, khi thấy cá kình là nó kêu to lên. Người ta đúc quai để treo chuông chùa theo hình con bồ lao và đẽo dùi chuông theo hình con cá kình. Làm như thế với dụng ý sau này : Khi đánh chuông thì chuông kêu to, hệt như lúc con bồ lao gặp con cá kình vậy.
  2. Thắp ba nén nhang, thỉnh ba tiếng chuông, lạy ba lạy… các con số ba đó dính líu đến Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng. Le Bouddha, sa Doctrine et sa Communauté). Thường, thì nói đánh chuông. Vào chùa, nói thỉnh chuông. Có một ông bảo tôi rằng mình phải lịch sự, mời (thỉnh) cái chuông nó kêu. Nói xong, ông đó cười cho nên tôi không biết có đúng không ! Cũng có người nói đấm chuông, thí dụ « đem chuông đi đấm nước người » nhưng riêng tôi thì ít nghe nói đấm chuông.
  3.  Bây giờ đến lượt tôi hỏi đạo hữu nhé. Hai câu « Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông, Chúng bảo nhau rằng ấy ái uông » là của ai ?

17

  1. Bồ-đề phiên âm từ chữ pali và sanskrit bodhi, nghĩa là giác ngộ (éveillé, illuminé, awakened).
  2. Cây bồ-đề là một cây lớn tên là cây pippala, phiên âm thành tất-bát-la. Thái tử Tất-Đạt-Đa ngồi thiền dưới cây đó, sau thành đạo. Từ đó cây này được gọi là cây bồ-đề. Ngày nay cây này vẫn còn sống. Những người đi hành hương các Phật tích hay nhặt lá bồ đề về làm quà cho bà con.
  3. Tâm bồ-đề dịch chữ sanskrit bodhicitta, cũng viết là bodhichitta, coeur d’éveil,awakened mind. Phát tâm bồ-đề là phát tâm cầu được giác ngộ, được thành Phật. Đắc bồ-đề nghĩa là diệt hết phiền não, chứng Niết bàn. Đắc Vô thượng bồ-đề nghĩa là thành Phật.

18 – Mấy cuốn sách mà tôi biết đều ghi thân phụ của thái tử Tất Đạt Đa là vua Tịnh Phạn, hay Tịnh Phạn vương, tên sanskrit là Suddhodana (người Pháp viết là Souddhodana) Chữ ấy có nghĩa là bố thí một cách trong sạch nên người ta dịch là Tịnh Phạn. Phiên âm thì Suddhodana thành ra Thủ-đồ-đà-na. Vua Tịnh Phạn lấy hai chị em : bà Ma-gia và bà Ba-xà-ba-đề. Hoàng hậu Ma-gia chết sau khi sinh thái tử Tất-Đạt-Đa. Thái tử được dì ruột nuôi, coi như con. Bà Ba-xà-ba-đề là nữ đệ tử xuất gia đầu tiên. Sau, bà cầm đầu Giáo hội tỳ-kheo-ni. [Ngài A-nan phải năn nỉ đức Phật mấy lần mới được đức Phật thuận cho phái nữ đi tu. Trong số các tỳ-kheo-ni, có cả bà Da-du-đà-la là vợ của thái tử Tất Đạt Đa].

Bodhi Gaya, Ấn Độ

Bodhi Gaya, Ấn Độ

19 – Đạo tràng hay đạo trường (sanskrit : bodhimandala) nghĩa đen là khoảng đất đạo, nghĩa rộng là nơi đức Thế Tôn thành đạo, dưới cây bồ-đề (còn gọi là đạo thụ hay đạo trường thụ, đạo tràng thọ), nơi rừng Già-da (Gaya), gần sông Ni-liên-thiền (Nairanjana). Mấy đạo hữu đi thăm Phật tích bên Ấn Độ về, nói rằng hiện nay địa điểm ấy có tên là Bodh Gaya. Chúng ta thường nghe nói rõ hơn : Bồ đề đạo tràng. Tự điển Đoàn Trung Còn ghi thêm : Về sau, người ta dùng chữ đạo tràng mà gọi những chỗ dưới đây : 1/ Chánh điện của nhà chùa. 2/ Chỗ tụng kinh hàng ngày. 3/Chỗ pháp sư giảng đạo, truyền đạo. 4/ Chỗ thanh tịnh nơi ấy vị sư tu luyện, tham thiền.

20

  1. Chủ trương của « tòa soạn » chúng tôi là tránh bình luận việc làm của cá nhân và của các chùa khác. Điều mà đạo hữu kể đó, chúng tôi cũng đã coi trong vidéo. Đạo hữu chỉ cần tự nhủ rằng : mình và gia đình con cái mình nếu gặp cảnh tung tiền lúc Tết đó thì đừng có cúi nhặt, hay tranh cướp, mất tư cách.
  2. « Bát công đức thủy » tức là « nước có tám công đức », xin thưa tám công đức ấy là : lắng sạch, trong mát, ngọt ngon, nhẹ dịu, nhuần trơn, an hòa, trừ đói khát, bổ khỏe.
  3. Cuốn A Di Đà sớ sao giải thích kinh A Di Đà tường tận từng chi tiết một, coi mấy tháng chưa hết ! Phật học viện Quốc tế ở California, USA, xuất bản năm 1983.

21 – « Nguyện tiêu tam chướng, trừ phiền não » . Chướng là chướng ngại, ngăn che. Tam chướng là ba chướng. Hiểu đơn giản thì đó là tham, sân, si. Tuy nhiên, tham sân si thường được gọi là tam độc, nên phải hiểu tam chướng kỹ hơn. Đó là : 1/ Phiền não chướng gồm tham sân si và mọi thứ tùng theo tham sân si. 2/ Nghiệp chướng tức là những chướng ngại do ác nghiệp gây ra. 3/ Báo chướng (báo là quả báo) như bị đọa ba đường ác : địa ngục, ngã quỷ, súc sinh. Cũng có thể sinh ở cõi nhân hay cõi thiên nhưng không có đức tin, khiến cho bị chướng ngại, che bít cái thiện căn thành đạo thì cũng gọi là báo chướng.

22 – Chữ phiền não (sanskrit : klesa. Passions. Pain, afflictions, distress) rất thôngdụng trong đạo Phật. Theo nghĩa thường thì phiền não là buồn phiền, sầu não, thí dụ: phiền não vì làm ăn thất bại luôn. Trong Phật học, nghĩa rộng hơn : phiền não là đau khổ, buồn phiền, tất cả những gì làm cho thân, tâm người ta xao xuyến, sầu muộn, lo lắng, không yên. Chữ đồng nghĩa : cấu, lậu, nhiễm, kết, sử, hoặc, triền, cái, ách… Chữ đối nghĩa : bồ-đề, niết-bàn. Ba phiền não chính là tham, sân, si. Có sách kể 6 phiền não : tham, sân, si, mạn (kiêu căng), nghi (nghi ngờ không có căn cứ), ác kiến (ý kiến sai trái, xấu xa, bất thiện). 10 phiền não là những gì ? Là tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến hay ngã kiến (chấp tấm thân này là ta), biên kiến (ý kiến cực đoan), tà kiến (ý kiến sai lệch, không nhận lý nhân quả chẳng hạn), kiến thủ kiến (khư khư giữ ý kiến của mình), giới thủ kiến (giữ những giới sai lầm hay giữ giới một cách cứng nhắc).

23 – Đạo hữu tưởng tôi là quyển tự vị hay sao mà hỏi « dữ » quá vậy ! Lần sau tôi chẳng dại gì mà chua thêm chữ đồng nghĩa và phản nghĩa nữa, quý đạo hữu lấy « cớ » mà « truy » thêm, lại phải ngồi tra cứu, có khi quên cả bữa cơm… mặn ! May mà tôi không nói 108 phiền não, 84000 phiền não. Cấu (saleté, crasse, impureté, souillure) là dơ bẩn, các thứ phiền não làm cho thân tâm dơ bẩn … Lậu (suinter, couler) là rò rỉ, làm cho dơ dáy, các phiền não làm cho dơ dáy thân, tâm. Nhiễm (imbiber, tacher, contaminer) là thấm, thí dụ ô nhiễm. Kết (entraves, chaýnes, lier, unir) là trói buộc, các thứ phiền não trói buộc con người ta vào vòng luân hồi. Sử (donner l’’ordre, commander, conduire) là sai khiến, các phiền não sai khiến người ta phạm tội lỗi, gây nghiệp. Hoặc (erreur, illusion) là lầm lẫn, các phiền não dẫn người ta đến các sai lầm. Triền (lier, encercler) là trói buộc, bao vây. Cái (obstruer, cacher) là che lấp. Ách (joug, contrainte, esclavage) ví phiền não như

Bò đeo gông kéo xe

Bò đeo gông kéo xe

cái ách mà trâu bò phải đeo.

24 – Tam xa là ba cỗ xe : xe do dê kéo, xe do hươu kéo, xe do bò kéo. Nói gọn là xe dê, xe hươu, xe bò. Đó là để gợi lại ý trong kinh Pháp Hoa, nói về « tam xa xuất trạch », ba xe ra khỏi nhà lửa. Ba xe ấy tượng trưng cho ba thừa : thanh văn thừa, duyên giác thừa, bồ tát thừa. Sau rút lại thành một thừa thôi, gọi là Phật thừa. (thừa hay thặng có nghĩa là cỗ xe, véhicule. Đại thừa, Tiểu thừa dịch là Grand Véhicule, Petit Véhicule, nhưng nay người ta để nguyên chữ sanskrit Mahayana và Hinayana). « Tam thú độ hà » nghĩa là ba con thú qua sông. Con thỏ, con ngựa và con voi cùng qua sông. Con thỏ vờn vờn trên mặt nước, con ngựa vẫy vùng giữa nước nhưng sâu hơn, con voi đạp xuống tận đáy sông. Ý nói có sự khác biệt, nông sâu khác nhau. Câu này cũng dùng để nói ba thừa kể trên.

25 – Tự nghĩa là chùa. Về nguồn gốc của chữ này thì Phật học Từ điển Đoàn Trung Còn viết : « Nguyên thuở đời vua Minh Đế nhà Hán, năm 68 dương lịch, Thích Ma Đằng dùng con ngựa trắng chở kinh Phật từ Tây Vực (Ấn Độ) về triều, ban sơ đậu đỡ tại Hồng lô tự (tòa quan Hồng lô). Sau nhân tòa Hồng lô cất lên làm viện tàng kinh, bèn lấy chữ tự đặt tên là Bạch mã tự (chùa Ngựa trắng). Bởi đó, đời sau, nơi thờ Phật hay là nơi tăng, ni ở tu đều gọi là tự ». Từ điển Phật học Hán Việt, mục Bạch mã tự, chép theo sách cũ Lạc Dương lam ký của Dương Huyễn như sau : « Chùa Bạch mã do Hán Minh Đế dựng nên, lúc đạo Phật mới bắt đầu vào Trung Quốc.. Vua nằm mơ thấy người vàng cao một trượng sáu, cổ có hào quang tựa như nhật nguyệt. Đó là vị thần của người Hồ (Ấn), gọi là Phật. Vua bèn sai sứ sang Tây Vực cầu Phật, mới được kinh Phật và tượng Phật. Bấy giờ dùng ngựa trắng thồ kinh mang tới, nhân đó đặt tên chùa là Bạch mã… Hòm kinh để trong chùa đến nay vẫn còn… thường tỏa hào quang sáng rực cả chùa… ».

(Còn nữa)

__________________________________________________



 

 

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s