Một dân tộc khôn ngoan


 

Peace cannot be kept by force. It can only be achieved  by understanding

— Albert Einstein

                                                                            Đào Viên

Lời nói đầu –

Đệ nhị Thế chiến, sau cái chết của Aldolf Hitler và Benito Mussolini, đã chấm dứt với hai quả bom nguyên tử dội xuống Hiroshima và Nagasaki ngày 6 và 8 tháng 8, 1945 . Sau hai Tòa Án quốc tế tại Nuremberg và Tokyo, kẻ ác nhân đã bi trừng phạt,  mọi người cho rằng Hoa Bình vĩnh cửa đã đến. Nhưng chẳng bao lâu, chiến tranh lại trở lại, không vì sự sinh tồn của các quốc gia mà là sự chia rẽ giữa người dân cùng trong một nước, vì ý thức hệ, vì bất đồng chánh kiến. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, nội chiến đã nổ ra giữa Xã Hội chủ nghỉa và Tư bản chủ nghĩa, giữa Cộng Sản độc tài và Dân chủ tự do.

Cảnh nồi da xáo thịt, nhiễu điều không còn phủ giá gương, đã gây ra cái chết cho hàng trăm ngàn người, ảnh hưởng lâu dài đến tương lai của dân tộc, vì nhiều thế hệ thanh niên ưu tú, tương lai của dân tộc, có khi cả vị thành niên, đã phải hy sinh trên chiến trường. Hết nội chiến, quốc gia sẽ tụt hậu vì hết nhân tài, còn lâu mới ngóc cổ lên được.

 Chúng ta hãy xem trường hợp một cuộc Nội chiến được coi là dài nhất trong lịch sử thế giới. Không phải là “hai mươi năm nội chiến từng ngày” như một nhạc sĩ đã hát, mà là một nửa thế kỷ (50 năm) giữa người Cộng Sản và người Quốc gia. Ấy thế mà đôi bên đã biết bỏ chống đối lẫn nhau, đi đến hòa giải, đem hòa bình cho đất nước. Họ là một Dân tộc khôn ngoan hơn nhiều dân tộc khác.

 Họ không ngu dại gì  mà phải  cầu viện ngoại nhân để chiến thắng. Những viện trợ này sẽ trở nên món nợ khổng lồ rất khó trả, sẽ không thể trả bằng hiện vật mà phải trả bằng quyền lợi quốc gia. Đời con cháu họ chưa chắc đã trả hết.

Họ cũng  đủ khôn ngoan để biết rằng, một khi hết chiến tranh, hòa bình chỉ có thể bền vững lâu dài bằng hòa giải thật sự, bằng thông cảm, bằng tình người, không thể bằng oán thù, bằng đầy đọa.

***

1)    Một ngày lich sử

Ông Timochenco

Hôm ấy là ngày thứ Ba 26 tháng 9, 2016, Tổng thống nước Colombia là ông Juan Manuel Santos, cùng toàn thể nhân viên trong Nội các đã gặp  ông Rodrigo Londono, người có bí danh là Timochenko, một lãnh tu cao cấp nhất của đội quân phản loạn FARC, chống chánh phủ

FARC là chữ tắt từ tiếng Tây Ban Nha Fuerzo Armadas Revolucionarias de Colombia, có thể dịch là Lực lượng Tác chiến Cách Mang Colombia hay Quân đội Cách mạng Colombia

Ông Timochenco lớn tiếng nói với mọi người, nhất là để nhằm vào quân đội mình:

Từ nay, giã từ vũ khí! giã từ Chiến Tranh!, hoan hô Hòa Bình

Continue reading

Một cuộc nội chiến bao giờ mới chấm dứt?


I appeal to all men and women, whether they be eminent orb humble,
to declare they will refuse to give any further assistance to war
                 or the preparation of war
                       ------ Albert Einstein

Đào Viên

1) Một thắng lợi chưa đi đến đâu

Một buổi sáng tháng Chạp năm 2016, một nhóm lính tráng đến đập cửa một căn nhà ở thành phố Phiá Đông Aleppo.

Aleppo là một tỉnh lớn thứ hai của nước Syria. Phiá Đông là địa bàn hoạt động của nhóm binh sĩ Chống đối chính quyền Trung Ương của Tổng thống Bashar al-Assad. Phía Tây Aleppo còn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Assad. Ở giữa là nơi chém giết của cả đôi bên. Phía bắc Aleppo là nơi có thủ phủ Raqqa của đạo quân Hồi giáo quá khích ISIS

Trong nhà có tiếng người đàn ông hỏi: “Các anh là ai?” Một người lính trả lời: “ Chúng tôi là quân đội Syria Arab đây. Bây giờ đã yên rồi. Anh có thể ra được rồi. Bọn chúng đi hết rồi

Syria Arab Army là đội quân của chính quyền trung ương tại thủ đô Damascus.

Cửa nhà bỗng mở rộng, một người đàn ông trung niên bước ra. Mặt mũi có vẻ cương quyết. Bộ quần áo rách mướp cũ kỹ, hàm răng ố vàng, mất vài chiếc. Anh ta có vẻ do dự, nhưng sau khi được mấy người linh khuyến khích, anh bước hẳn ra ngoài bước ra giữa đường phố. Anh nhìn khắp phương trời, úp tay vào mặt mà khóc. Anh nói với người lính Syria Arab của chính quyền Bashar  al-Assad là đã bốn năm rưỡi nay, chưa bao giờ anh mở cửa nhìn ra ngoài phố.

Continue reading

Phật học: Thư đi Tin lại – Mục lục


Lời nói đầu – Chúng tôi đã có nhiều dịp giới thiệu với quý độc giả Vườn Đào ông Hoằng Hữu Nguyễn văn Phú. Ông Phú sinh năm 1927 và đã qua đời năm 2013. Hồi còn tại Việt Nam, ông Phú là giáo sư viết sách và dạy Toán Trung học. Di cư sang Montreal Gia-nã-đại, ông Phú giữ mục Thư Tín của hai tập san Phật giáo Liên Hoa và Pháp Âm. Với tư cách này, ông Phú đã có dịp trao đổi thư tín với các đạo hữu của hai tập san để cùng nhau học tập. Ông Phú đã gom góp những thư tín này trong một tập sách nhỏ với tựa đề “Thơ Đi Tin Lại”. Tập sách này rất dài. Đến nay chúng tôi chỉ có thể trình bày 8 tập Thơ đi-Tin lại. Khi nào có nhiều thì giờ, chúng tôi sẽ giới thiệu thêm tập Thơ đi-Tin lại khác.

Ngoài ra, chúng tôi biết rằng đọc cả bài Thơ đi Tin lại – thường khá dài – đòi hỏi nhiều thì giờ. Đôi khi chúng ta chỉ cần tham cứu một vài vấn đề mà thôi. Bởi vậy chúng tôi đã lập ra bản Mục Lục (Index) này để tiện cho độc giả truy cứu.

Dưới đây là Muc lục của các bài viết trong tám (8) Tập Phật học-Thư đi Tin lại.

-          Tập(I)  Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 1 đến 25
-          Tập(II)  Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 26 đến 50
-          Tập(III) Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 51 đến 75
-          Tập(IV) Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 76 đến 100
-          Tập(V) Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 101 dến 125
-          Tập(VI) Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 126 đến 150
 -    Tập(VII) Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 151 đến 175
-     Tập(VIII) Thư Đi Tin Lại  có 25 mục đánh số từ 176 đến 200 

Xin chú ý : con số đi theo sau mỗi mục dùng để chỉ
số thứ tự các mục chứ không phải để chỉ số trang.

Quý vị độc giả muốn xem Mục nào trong các Tập nào, chỉ cần bấm 
(click) vào tên mục ấy là tự động Mục đó sẽ hiện ra trên màn hình, 
vì chúng tôi đã xếp đặt những kết nối (links) cần thiết để làm 
việc này

Continue reading

Image

Phật Học – Thư đi Tin lại (VIII)


           Tiếp theo Phật Học-Thư đi Tin lại (VII)

176176176  Khóa hạ tức an cư kết hạ là một thời kỳ tu tập chung của chư tăng (hay chư ni) kể từ 16 tháng tư đến 15 tháng 7 âm lịch.  Sau mỗi khóa hạ thì mỗi vị thêm một tuổi đạo, vì thế trong ngày rằm tháng 7, Phật tử mừng tuổi chư tăng ni (người thế tục mừng tuổi nhau ngày mùng 1 Tết), ngày đó đối với chư tăng ni là hoan hỷ nhật.  Trước khi kết thúc khóa hạ thì mỗi vị phải làm lễ tự tứ. tự ý nói ra những khuyết điểm của mình trước chư tăng (ni) cầu xin được chỉ bảo thêm và sám hối.  Kết hạ là một lệ có từ thời đức Phật.

177177177   « Được thân người là khó lắm », ý câu này như sau : chết rồi, phải tái sinh vào một trong sáu nẻo thiên, nhân, a-tu-la, súc sinh, quỷ đói, địa ngục ; nếu được tái sinh làm người thì khó, làm người sung sướng lại càng khó.  Trong sách có kể chuyện một con rùa mù sống dưới đáy biển, mấy trăm năm mới thò đầu lên mặt nước một lần.  Trên mặt biển, có một cái bọng với lỗ hổng ở giữa, trôi dạt theo sóng.  Con rùa trồi đầu lên có dễ trúng vào cái lỗ hổng của bọng không ?  Khó lắm lắm.  Được tái sinh làm người cũng khó như thế. Phật học có danh từ « lục nan » (sáu cái khó).  Đó là : khó gặp Phật ra đời, khó được nghe chánh pháp, khó sinh lòng lành, khó sinh ra nơi đô hội trung tâm, khó được thân người, khó được các căn trọn vẹn dù làm thân người. Phật tử chúng ta đi chùa đều đặn, đã thành một thói quen, đó là một thói quen tốt.  Tuy nhiên, nếu thói quen ấy không kèm thêm sự suy nghĩ về lời Phật dạy, về sự quay vào bên trong để tự xét mình rồi tu tỉnh sửa mình, chuẩn bị cho kiếp sau thì e rằng không kịp.

178178178  Theo chỗ tôi biết thì các tu sĩ Thiên chúa giáo hàng năm có tham dự « cấm phòng » nghĩa là ở riêng trong phòng một thời gian để tĩnh tâm, suy nghĩ về đạo lý, về tư tưởng và hành vi .. của mình.  Đối với Phật giáo thì danh từ « cấm phòng » mang ý nghĩa khác.  Phật học từ điển Đoàn Trung Còn ghi : Hồi xưa, chư tăng phạm  giới thì bị Giáo hội phạt ở luôn trong phòng không được bước chân ra, để ăn năn tội của mình ; bị phạt như vậy trong thời gian ít nhất là sáu ngày.

179179179  Đạo hữu lầm rồi đó.  Năm mới không phải là ngày Phật đản.  Năm mới của chư tăng ni là hoan hỷ nhật nhằm vào ngày rằm tháng bảy âm lịch.  Ngày đó là ngày giải hạ tức là kết thúc khóa hạ, mỗi vị thêm một tuổi đạo.  Còn ngày rằm tháng tư âm lịch là ngày Phật đản, theo lối nói bình dân là ngày Bụt sinh Bụt nở, Bụt sinh năm 623 trước Tây lịch, tịch năm 543 trước Tây lịch. Năm 543 ấy được chọn làm năm 1 của Phật lịch.

180180180   Đạo hữu đọc chú mà không hiểu thì cũng giống như mọi người.  Chú là những câu dài hay ngắn mang tính cách bí mật để giúp người tu học trong nhiều vấn đề như cầu an, đảo bệnh, chống ác thần, cầu vãng sinh, tránh tai ương v.v.. Người ta không dịch các câu chú vì nghĩ rằng âm thanh đã chọn sẽ có một tác dụng nào đó, thâu sức anh linh trong vũ trụ ; nếu đổi âm thanh thì sẽ mất linh ứng.  Nhờ tụng chú mà thâu đủ giáo pháp của Phật. Nhờ tụng chú mà tâm hết tán loạn.  Chú giúp giữ trọn vẹn cái thiện, ngăn cái ác.  Một số câu chú có được dịch nghĩa, thí dụ như chú đại bi « Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha » có nghĩa là : « Qua đi, qua đi, tất cả qua đi, qua mau đi, giác ngộ, viên thành ».   Chữ Phạn Dhàrani phiên âm là đà-la-ni, dịch là chú, thần chú, chân ngôn, tổng trì.  Chữ Phạn Mantra phiên âm là mạn-đà-la, mạn-trà-la, dịch là linh phù tức bùa linh, họa trên giấy hay trên gỗ, có khi vẽ trên hư không.  Linh phù thật lớn gọi là đàn hay đạo tràng. Chữ Phạn Mudrà phiên âm là mẫu-đà-la, dịch là ấn hay pháp ấn. Đó là các dấu hiệu bằng vẻ mặt, tay hay thân để tỏ một ý gì. Chú, bùa, ấn hay thần chú, linh phù, pháp ấn tức là đà-la-ni, mạn-đà-la, mẫu-đà-la gốc từ Mật giáo.  Ba thứ ấy liên kết chặt chẽ với nhau,  gọi là tam mật : thần chú là ngữ mật, linh phù là ý mật, ấn là thân mật. Tiếng Pháp : formules magiques, dessins magiques, gestes magiques.


181181181 </ –  Câu chuyện « mất đầu » là chuyện ở trong kinh Lăng Nghiêm.  Có một anh kia, tên là Diễn-nhã-đạt-đa soi gương thấy đầu mình, đến khi úp gương xuống thì không thấy đầu mình đâu cả.  Anh ta vội ôm đầu, vừa chạy vừa la : « Tôi mất đầu rồi ! ».  Chuyện này cho ta thấy rằng : cái mà anh ta mất chỉ là cái bóng chứ cái đầu thật của anh ta vẫn còn.  Người đời hay bấu víu vào những cái bóng, cái dáng mà quên mất rằng mình có một thứ thực, đó là chân tâm của mình.

182182182   Tôi xin chép hầu quý đạo hữu một đoạn ngắn mà tôi thấy xúc tích và dễ hiểu, trích từ bài của HT Mahasi :  « Trong mỗi sự thấy đều có ba yếu tố là nhãn căn (mắt), nhãn trần (vật được thấy) và nhãn thức (sự biết của mắt).  Khi sự biết của mắt phát sinh thì cảm giác yêu ghét phát sinh, tri giác về vật được thấy phát sinh, sự cố ý thấy cùng sự lưu tâm đến đối tượng phát sinh. Mắt và vật bị thấy là những tập hợp vất chất (sắc uẩn) mà chúng ta chấp lấy và coi là trường cửu, đáng yêu và là sở hữu của ta thực sự.  Cái biết của mắt cùng các cảm giác, tri giác (phản ứng của thọ, tưởng, hành, thức), cũng được chúng ta coi như trường cửu, đáng yêu và là sở hữu của ta.  Tóm lại, mắt và vật bị thấy là những tập hợp của vật chất (Sắc) và sự biết của mắt là tâm (Danh), chỉ có vậy thôi, không có gì khác.  Các hiện tượng tâm-vật lý này sẽ phát sinh mỗi khi ta nhìn, và mỗi tác động nhìn thì sinh ra rồi diệt ngay tức khắc.  Thế mà chúng ta cất giữ và xem là trường cửu bất biến.  Sự chấp giữ và cái nghiệp tạo ra chính là nguyên nhân của tái sinh.  Có tái sinh nên có đau khổ, già, chết.  Nếu không có luyến ái phát sinh thì nghiệp tạo ra bởi sự chấp thủ, ao ước một kiếp sống mới cũng dừng nghỉ. Kết quả là chấm dứt khổ đau, già, chết ».

183183183  Tìm hiểu những câu nói, tiếng hét, gậy đập.. của các thiền sư là một việc rất khó vì những điều ấy dành cho riêng hai thày trò, thày biết trò đã tu đến mực nào, chỉ cần mở một cái nút nào đó là xong.  Thơ văn của các vị thiền sư cũng vậy, ai tu đến một bậc nào đó thì hiểu, người phàm như chúng ta phải nghe giảng thì may ra nắm được chút ít. Xin lấy một thí dụ.  Ngài Pháp Loa hỏi ngài Điều ngự Giác hoàng rằng : « Thế nào là ý của Tổ ở Ấn Độ sang ?  Trả lời : Bánh vẽ ».  Khó hiểu thật.  Khi đu?c nghe giảng rồi thì m?i hiểu rằng : lời giảng dạy gì thì cũng chỉ là bánh vẽ, nghĩa là ăn không thể no được.  Học lời dạy của Phật, của Tổ mà chỉ nghe để đấy thôi thì bản thân chẳng được gì cả, phải quay vào trong mà tìm chân tánh, phải gắng tu hành, thí dụ tu thiền nhằm kiến tánh thành Phật.

184184184  Con người ta có hai thứ tâm : vọng tâmchân tâm.  Vọng tâm là cái tâm lăng xăng bám víu vào các cảnh bên ngoài và cho đó là thật.  Người ta thường nhận cái vọng tâm ấy là cái ta. Chân tâm mới đích thực là có thật.  Đức Phật ví vọng tâm như người khách ngủ trọ, qua đêm đến sáng lại ra đi.  Ông chủ nhà thì lúc nào cũng ở đó.  Người khách ấy ví như vọng tâm.  Ông chủ nhà ví như chân tâm.

185185185  Niêm hoa vi tiếu nghĩa là giơ hoa, mỉm cười.  Đây là nói đến việc truyền tâm ấn ở hội Linh Sơn.  Đức Phật giơ cao cành hoa lên, đại chúng yên lặng, không ai hiểu gì.  Riêng một mình ngài Ca-Diếp rạng rỡ mỉm cười.  Đức Phật nói : « Ta có chánh pháp nhãn tàng, Niết-bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, trao phó cho  Ma-ha Ca-Diếp ».  Từ điển Phật học Hán Việt, quyển 1, trang 1078, chép đại ý như sau: « Nhưng việc này chép ở kinh nào, do ai truyền thuật, các kinh trong Đại tạng đều không thấy nói đến.  Đến đời Tống, Vương An Thạch nói rằng coi thấy việc ấy trong Đại Phạm Vương vấn Phật quyết nghị kinh ».

Ghi chú.  Y bát truyền cho tổ thứ nhất là Ca-Diếp, tổ thứ nhì là A-Nan,… cho đến tổ thứ 28 là Bồ-đề-đạt-ma.  Tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Quốc lập ra Thiền Tông, ngài là sơ tổ, truyền đến tổ thứ sáu là Huệ Năng, đến đây hết truyền y bát.

186186 186  Mấy câu « Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng ; Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh ; Nhác trông lên ai khéo họa hình ; Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt  .. » lấy ở trong bài Hương Sơn phong cảnh (Phong cảnh chùa Hương) của Chu Mạnh Trinh.  Theo chỗ tôi biết thì còn một suối Giải Oan nữa ở chân núi Yên Tử.  Tục truyền rằng khi vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con để đi tu ở núi Yên Tử thì các cung nữ xin đi theo.  Đến chân núi, ngài ra lệnh cho mọi người trở về.  Các cung nữ này không chịu về, tự trầm ở suối cạnh đó.  Suối ấy gọi là suối Giải Oan, gần đó có chùa Giải Oan.

187187187  Đa số chúng ta chọn pháp môn Tịnh độ, niệm Phật cầu vãng sinh Cực lạc, dựa vào 48 lời nguyện của đức Phật A-Di-Đà và kinh A-Di-Đà.  Cứ đơn giản như thế mà làm, đồng thời tu tỉnh cho hết tham, sân, si, thanh tịnh hóa ba nghiệp.   Các thiền sư không quan niệm có một cõi Cực lạc ở nơi xa xôi, mà cho rằng ngay ở trong tâm mình, « tâm tịnh tức độ tịnh ».  Các thiền sư cũng không quan niệm có Phật A-Di-Đà ở Tây Phương mà cho rằng Phật A-Di-Đà chính là Phật tánh có sẵn trong mỗi người, « tự tánh Di Đà ».   Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây Phương.   Di-Đà là tính sáng soi, há phải nhọc tìm về Cực lạc.  Chúng ta không nên ngạc nhiên vì một đằng nhìn về sự, một đằng nhìn về lý.

188188188  Đó là một chuyện có mục đích đề cao pháp môn niệm Phật của Tịnh độ tông.  Chuyện như sau :  Có một nhà sư đau nặng, sắp chết, thần thức xuống âm phủ, thấy nơi điện của Diêm Vương có bàn thờ thiền sư Vĩnh Minh và Diêm Vương thường tới lễ bái.  Hỏi ra thì biết thiền sư Vĩnh Minh công đức tu niệm Phật quá cao nên khi tịch thì về thẳng Tịnh độ thượng phẩm thượng sanh, mà không qua điện của Diêm Vương.  Diêm Vương cảm phục nên lập bàn thờ ngài để lễ bái.  Nhà sư khi tỉnh lại bèn nói chuyện đó. Có điều thắc mắc : thiền sư mà tu Tịnh độ ?  Ngài Vĩnh Minh khuyên : « Có Thiền tông, có Tịnh độ ; Như thêm sừng cho mãnh hổ ; Đời hiện tại làm thày người ; Đời vị lai làm Phật tổ.  Có Thiền tông, không Tịnh độ ; Mười người tu, chín người đổ…Không Thiền tông, có Tịnh độ ; Vạn người tu, vạn người đỗ… ».

189189189   Đại Phạm Thiên Vương hay Phạm Thiên Vương hay Phạm Vương (sanskrit : Brahma) là chúa tể Ta-bà thế giới. Đó là theo quan niệm của đạo Phật.  Nhiều khi người ta gọi ngắn là Phạm Thiên, nếu chúng ta không chú ý thì có thể bị lầm lẫn, vậy phải theo mạch văn mà hiểu theo một trong ba nghĩa như sau :  1/ Phạm Thiên là Phạm thiên vương nói ngắn.  2/ Phạm thiên là bốn cõi trời của miền Sơ Thiền cõi Sắc giới (Phạm thân thiên, Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên, Đại Phạm thiên).  3/ Chư Thiên sống trong bốn cõi trời vừa nói. (theo Từ điển Đoàn Trung Còn).   Theo đạo Bà-la-môn (Brahmanisme) thì Brahma là đấng Tạo Hóa.  Kinh điển của đạo Bà-la-môn viết bằng sanskrit cho nên chữ sanskrit gọi là chữ Phạm, nói chệch thành Phạn. Brahmà : un des principaux dieux du panthéon hindou, premier créé et créateur de toute chose.  Il est souvent représenté avec quatre bras et quatre têtes qui symbolisent son omniscience et son omniprésence (từ điển Larousse). Phạm là một từ ngữ dùng nhiều trong đạo Phật.  Ngoài cái nghĩa là chữ sanskrit, nó có nghĩa là thanh tịnh, thí dụ : phạm hạnh.   The Sanskrit Canon là Tam Tạng viết bằng chữ Phạn, do Bắc tông dùng ; the Pali Canon làTam Tạng viết bằng chữ Pali, do Nam tông dùng. 

200200200  « Lưới Đế châu ví đạo tràng, Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời.. ».  Lưới Đế châu nghĩa là gì ? Đế là Đế Thích, châu là châu ngọc.  Đế châu nghĩa đen là châu ngọc của Đế Thích.  Muốn hiểu kỹ thì coi chi tiết như sau :  Đế Thích là vua cõi trời Đao-Lỵ, ở thành Hỷ Kiến trên đỉnh núi Tu-di.  Đế võng là lưới chăng ở cung điện của vua Đế Thích.  Lưới ấy làm bằng châu ngọc đan xen chồng chéo vào nhau, trùng trùng vô tận.  Các viên ngọc châu hạt nọ chiếu sáng vào hạt kia, chiếu đi chiếu lại, trùng trùng vô tận.  Những hình ảnh ấy dùng để nói lên lý trùng trùng duyên khởi là một lý quan trọng bậc nhất của đạo Phật.  [Đế Thích còn gọi là Thích-đề-hoàn-nhân, gọi cho đủ là Thích-ca-đề-bà-nhân-đà-la, do phiên âm từ chữ Sakra devànàm Indra].

_______________________________________________________

Phật Học – Thư đi Tin lại (VII)


Tiếp theo Phật Học-Thư đi Tin lại (VI)
151151. Tôi xin thú thật với đạo hữu rằng tôi chưa đọc hết”Những tông phái đạo Phật” của thầy Thiện Hoa và cũng chưa hề đọc các bộ phái như bộ phái Sarvastivada của các tăng sĩ Sastivadin để xem chủ trương ra sao mà gọi là nhất-thiết hữu bộ, cho nên tôi chịu không thể vào các chi tiết như đạo hữu nêu ra đươc. Mời đạo hữu tìm đọc cuốn Le Bouddhisme nổi tiếng của Edward Conze (bản chính bằng tiếng Anh) nay đã dịch ra tiếng Việt rồi.
152152. Tôi xin kể “bảy chúng”. Đệ tử của Phật được chia là bảy chúng như sau:
1. Tỳ khưu (Bhiksu): phái xuất gia nam, từ 20 tuổi trở lên, đã thọ giới cụ túc(250 giơi).
2. Tỳ khưu ni (Bhiksuni) phái xuất gia nữ, 20 tuổi trở lên, đã thọ giới cụ túc(148 giới)
3. Sa di (Sràmanera) phái xuất gia nam, đã thọ 10 giợi
4.Sa di ni (Sràmaneri)phái xuất gia nữ, đã thọ 10 giới
5.Thức xoa ma na (Siksamànà) phái xuất gia nữ, đang ở trong thời gian 2 năm học giới để thọ giới cụ túc
6. Ưu bà tắc (Upasàkà), Phật tử tại gia phái nămcòn gọi là cán sự nam)
7.Ưu bà di (Upasiku) , Phật tử tại gia, phái nữ(còn gọi là cận sự nữ)
(Theo Thích Thiền Tâm, Phật học tinh yệu Phật học viện quốc gia, xb CA, ÚA 1984).
Chú thích. Khi nói “tứ chúng” hay “tứ bộ chúng”, “bốn chúng” thì ta bỏ các số 3,4,5 trên đây. Một chữ “chúng” thôi thì nghĩa là số đông. Chúng sinh là sinh vật trải qua nhiều lần sinh tử (6 nẻo tức 6 đường luân hồi) [êtres, creatures, beings]
153153. Khi tụng kinh Phổ môn có câu “xin cho con sớm được giới định đạo”, đạo hữu thắc mắc có lẽ là  giới định huệ. Truớc đây tôi cũng thắc mắc như đạo hữu, vì trong Phật học ba chữ giới định huệ đi chung với nhau, gọi là tam học, tóm tắt Bát chánh đạo.Gần đây do một sự tình cờ, tôi thấy tại trang 18, 19, 20 của cuốn sách nhỏ 24 trang của HT Mahasi tựa đề “Giáo huấn cao thượng của Đức Phật (sách ấn tống), mấy chữ này: Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định là Định đạo, Chánh tư duy và Chánh kiến lập thành Tuệ đạo. Chánh ngữ, Chánh nghiệp và Chánh mạng tạo thành Giới đạo. Vậy là chỉ thêm chữ đạo vào mà thôi.
154154.Vào nhà của Như Lai, mặc áo của Như Lai, ngồi chỗ của Như lai” nghĩa là gì? Nhà Như Lai là về đức Đại Từ bi. Áo Như Lai là nói về đức Nhẫn nhục. Chỗ ngồi của Như Lai là nói về hết thảy các Pháp đều là Không. Ai mà có đủ ba điều ấy thì có thể giáo hóa chúng sinh.

1551555. Đúng vậy, tôi cũng đọc (nhưng không nhớ ở sách nào) rang vua Qung Trung có ý định bỏ các chùa nhỏ, xây dựng tại mỗi huyện một chùa lớn cho xứng đáng với đạo Phật, nhưng tiếc rằng ngài mất sớm quá nên chưa thực hiện được ý định.

156156. Đây là chuyện Phật giáo nước ta đầu thế kỷ XIV: Sách Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, nói rằng: “Số người cắt tóc làm tăng ni bằng nửa số dân thường”. Nguyễn Lang viết trong Việt nam Phật giáo sử luận: “Tuy thực sự không hẳn lớn như vậy, nhưng số lượng tăng ni đời nhà Trần chắc chắn là rất lớn” Nên Giáo hội Trúc Lâm mới tổ chức kiểm tra tự viện và làm sổ tăng tịch. Chính vì tăng sĩ đông quá nên Pháp Loa mới hạn chế Giới đàn thọ giới ba năm một lần, và mỗi lần như thế loại ra hàng ngàn thí sinh. Số tăng ni được xuất gia từ năm 1313 đến năm 1329 là 15,000 ngưới. Có thể nói số tăng sĩ ít nhất thời đó là 30,000 vị. Ở Trung Quiốc năm 1291 có 213,418 tăng sĩ và 42,316 ngôi chùa. Tỷ lệ tăng sĩ so với dân ở Đại Việt có thể cao hơn Trung Quốc”

Đạo hữu kể nhiều chuyên đau lòng bên nhà, các việc ấy Giáo hội Phật giáo nhà nước cũng không thể dấu được, nên đã nói ra tình trạng mấy ông sư trẻ quốc doanh cầm phôn tay. lái xe Cúp vi vút. ‘Pháp mạt sao được, chỉ có Người mạt thôi” đạo hữu ạ.

157157. Thiện căn là cái gốc được vun xới  từ nhiều kiếp trước do các nghiệp lành. Sau đây là một câu chuyện về một thiện căn rút ra rừ Trang Nghiêm kinh luận (sách Kinh A Di Đà sớ sao đã ghi lại hai nơi trang 329): Khi Phật còn tại thế, có một ông già đến cầu xin xuất gia. Ngài Xá Lỵ Phất và các đại đệ tử không chịu độ, do vì  xem ông già nhiều kiếp không có thiện căn. Phật ngài độ cho, liền chứng đạo quả. Nhân đó Phật bảo đại chúng rằng: “Ông này, vô lượng kiếp về trước, làm ông tiều đốn củi, bị cọp dữ rượt chụp, hoảng hót bèn leo lên cây, miệng Nam Mô Phật. Do thiện căn đó, nay gặp ta đắc độ.”

Ghi chú: Sách Phật học tinh hoa của Nguyễn Duy Cần cũng có chép chuyện này.

158158. Gặp mấy người xứ này đến thăm chùa lần đầu, nếu đạo hữu nói nhiều về lý thuyết như khổ, luân hồi, tái sinh.. thì họ không thể “thấm” được. Theo ý chúng tôi, trong lúc sơ kiến thì chỉ nên nhấn mạnh đến Từ bi và Bất bạo động. Nếu họ muốn nghe nhiều nữa thì hẹn một buổi nào đó, nói cho một nhóm người cùng một lúc và nghĩ trước xem họ thuộc thành phần nào, giáo chức, sinh viên, học sinh để định một nội dung cho thích hợp. Chúng tôi đã gặp một trường hợp người đó không muốn nghe gì khác, ngoài việc muốn nhờ uy lực của Phật để đuổi tà ma.!

159159. Quan niệm của Lục tổ Huệ Năng về Tam Bảo và Tam Quy được tóm tắt trong mấy lời dạy của ngài ở trong Kimh Pháp Bảo Đàn:

– Phật là GIÁC (tính giác ngộ)

– Pháp là CHÁNH (tính chân chánh)

– Tăng là TỊNH (tính thanh tịnh)

Quy y GIÁC nơi tâm mình đó là LƯỠNG TÚC TÔN (phước đức và trí huệ).

Quy y CHÁNH nơi tâm mình, đó là LY DỤC TÔN (lìa khỏi mọi ham muốn)

Quy y TỊNH nơi tâm mình, đó là CHỨNG TRUNG TÔN (được đại chúng tôn trọng).

Nếu tu theo hạnh ấy thì đúng là TỰ QUY Y.

Chúng ta nên chú ý rằng Lục Tổ luôn luôn đề cao vô tướng (bài tụng vô tướng, sám hối vô tướng) và cũng như các thiền sư khác, ngài đặt vấn đề KIẾN TÁNH hơn là nhắc đến Phật như là đức Phật Thích Ca , ngài nhằm vào Pháp thân Phật chứ không nhắc đến Báo thân và Hoá thân Phật.

160160. Câu hỏi của đạo hữu  về các thừa có lời giải dáp thật hay ở trong Kinh Pháp Bảo Đàn. Mời đạo hữu coi; ‘Trí Thường một ngày kia hỏi Đại sư (Lục tổ Huệ năng)  rằng:  Phật nói Pháp thì có ba Thừa, sao lại còn nói Tối thượng thừa?Đại sư đáp: “  Ngươi tự xem bổn tâm, chớ chấp pháp tướng bên ngoài. Pháp không có 4 thừa, tại lòng người chia ra có 4 ngôi thứ sai khác:Bậc thấy, nghe, chuyên tụng, ấy là Tiểu thừa.Bậc tò Pháp, rõ nghĩa, ấy là Trung thừa.Bậc y theo Pháp tu hành, ấy là Đại thừa.Bậc muôn Pháp đều thông, muôn Pháp đều đủ hết thảy, chẳng nhiễm. Ba các Pháp tướng, không chấp một pháp nào cả, ấy gọi là Tối thượng thừa.Chữ thừa thực nghĩa là làm, chẳng phải là lấy miệng tranh nhau. Người cần tự tu lấy, chớ hỏi nữa. Bất cứ lúc nào cũng phải tự tánh, tự như.Trí Thường làm lễ tạ ơn, trọn đời theo hầu tổ sư.

161161   « Gặp Phật giết Phật, gặp ma giết ma ».  Có câu đó thật. Mới nghe, dễ phát sợ !  Nhưng phải đặt vào trong bài văn thì mới hiểu.  Ý câu đó là :  Khi ngồi thiền, nếu thấy cảnh giới nào đó thì đừng có dính vào, mắc vào, mà phải lướt qua đi, nhằm đúng mục đích của việc tọa thiền là kiến tánh, giác ngộ.  Chỉ có thế thôi.  Sở dĩ phải nói mạnh như trên đây là cốt để cho hành giả nghe rồi nhập tâm dễ dàng. Dĩ nhiên, người phàm như chúng ta thì chớ bao giờ « phát ngôn » như vậy.

162162  Sangha hay Samgha là chữ Phạn, phiên âm thành tăng-già.  Đó là đoàn thể các vị tỳ-kheo, chữ này có nghĩa chung chứ không chỉ riêng một vị tăng nào.  Còn chữ Singha thì khác hẳn, nghĩa đen là con sư tử.  Sư tử quốc là nước Tích Lan (Ceylan, nay là Sri Lanka – trong chữ Lanka này ta lại thấy chữ Lăng già).  Trong tên nước Tân Gia Ba (Singapore, Singapour) cũng có chữ singha là sư tử. Sangha (skt., lit. crowd, host) the Buddhist community.  In a narrower sense, the sangha consists of monks, nuns and novices.  In a wider sense, the sangha also includes lay followers.

163163  Khi cái áo cà-sa trải thẳng ra thì nó hình vuông, cho nên áo cà-sa còn gọi là áo vuông, chữ hán việt là phương phục (phương là vuông, phục là y phục, quần áo).  Tôi nghĩ rằng chữ này ít dùng lắm.  Khi dùng chữ « đầu tròn áo vuông » để chỉ nhà sư thì bất lịch sự, vì có ý nói đến cái đầu trọc mà người ta dùng để chế riễu các nhà sư. Cà-sa phiên âm từ chữ phạn Kasaya. 

164164  Thỉnh thoảng được thư với vài câu vui cười kể cũng hay ! Vâng, người ta nói mâm ngũ quả, tại sao đạo Phật lại nói tứ quả ?  Đạo hữu đố tôi biết đó là bốn quả gì ?  Nói quả đào thì đạo hữu cho rằng tôi nhớ ông Tề Thiên đi trộm trái đào của Tây Vương Mẫu.  Nói quả na thì đạo hữu lại chê rằng chưa ngán mấy chục năm chiến tranh hay sao.  Nói quả Phật thủ thì chắc ăn đấy nhỉ. Thôi, xin vào việc : tu thanh văn thừa thì lần lượt đạt được bốn quả-vị từ thấp đến cao là   1/ Tu-đà-hoàn (nhập lưu).    2/ Tư-đà-hàm (nhất lai).    3/ A-na-hàm (bất lai).    4/ A-la-hán (bất sanh).  Chịu chưa thầy ? 

165165  Như Lai là gì ?  Như là như thế, lai là đến.  Tất cả các đức Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều đến với loài người như vậy, không khác.  Kinh Kim Cang nói : « Như Lai không từ đâu đến, cũng không từ đâu đi », vậy Như Lai chính là tính thường trụ, thường hằng của vạn pháp vậy. Kinh tạng Pali nói thêm rằng Như Lai là bậc Thánh đã chứng được tính chân thực và tính bình đẳng của các pháp và đến tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) để hóa độ chúng sanh. Ta thường thấy trong các kinh, khi đức Phật Thích-Ca tự xưng thì ngài dùng chữ Như Lai.

166166  « Giáo hành lý tam kinh » nghĩa là gì ?  Tam kinh là nói ba cuốn kinh chính của Tịnh độ tông, đó là : kinh A-Di-Đà, kinh Vô Lượng Thọ và kinh Quán Vô Lượng Thọ. Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng.  Pháp Bảo có bốn loại là : giáo pháp, lý pháp, hạnh pháp, quả pháp, nói ngắn là giáo, lý, hạnh, quả.  Kinh Tâm Địa Quán giảng : « Hết thảy những thanh, danh, cú thuộc pháp vô lậu, phá tan vô minh, phiền não, nghiệp chướng gọi là giáo pháp.  Các pháp hữu vi, vô vi gọi là lý pháp.  Giới, định, tuệ gọi là hành pháp.  Diệu quả vô vi gọi là quả pháp ».  Đọc vậy, chúng ta thấy khó quá.  Nói cho dễ hiểu : giáo, lý, hạnh, quả là lời dạy của Phật, nghĩa lý trong đó, sự tu hành và các đạo quả do tu hành mà đạt được.

167167  Tứ đức có nhiều nghĩa.  Theo luân lý xưa, tứ đức của phụ nữ là : công, dung, ngôn, hạnh.  Tứ đức hay tứ hạnh là : hiếu, đễ, trung, tín.  Theo Phật giáo thì Niết-bàn có tứ đức là : thường, lạc, ngã, tịnh.  Bốn chữ này dính líu đến tứ điên đảo (bốn điều lộn ngược), đó là : vô thường mà cho là thường, buồn khổ mà cho là vui sướng, vô ngã mà cho là hữu ngã, bất tịnh mà cho là tịnh.

168168  Tục truyền rằng ở gần Ba-la-nại, người ta đào được một tấm đá có khắc chữ mà không ai đọc nổi.  Sau, có một người dòng dõi cao sang và hiểu biết rất rộng tên là Ca Chiên Diên đọc được cho nhà vua nghe như sau : « Ai là vua trong các vị vua ?  Ai là thánh trong các bậc thánh ?  Thế nào là người ngu ?  Thế nào là bậc trí ?  Làm sao lìa được cấu uế ?  Làm sao đạt được Niết-bàn ?  Ai là kẻ chìm trong biển sinh tử ?  Ai là người tiêu diêu cõi giải thoát ? ».  Tuy đọc được nhưng không trả lời được các  câu hỏi đó, Ca Chiên Diên hứa với nhà vua trong bảy ngày sẽ trả lời.  Đi tìm hỏi mọi thày giỏi đương thời, ai cũng chịu.  Cuối cùng, Ca Chiên Diên đến thỉnh giáo đức Phật, được ngài dạy ngay rằng : « Vua trong các vua là vua cõi trời thứ sáu.  Thánh trong các Thánh là đức Phật đại giác.  Bị vô minh nhiễm ô là kẻ ngu.  Hay diệt hết các phiền não là bậc trí.  Tu đạo, lìa tham sân si tức là lìa cấu uế.  Hoàn thành giới, định huệ, tức là chứng Niết-bàn.  Người chấp trước ngã pháp chìm trong biển sinh tử.  Người chứng được pháp tánh duyên khởi dạo chơi trong cõi giải thoát ».  Nghe xong lời Phật, Ca Chiên Diên liền khai ngộ, lễ tạ và quy y Phật.  Sau, ông là một trong mười  đại đệ tử của đức Phật, « nghị luận đệ nhất ».

169169  1/ Hòa nam do chữ phạn Vandana phiên âm ra.  Vandana nghĩa là lễ bái, đỉnh lễ. « Hòa nam thánh chúng » nghĩa là « đỉnh lễ các bậc Thánh ».  2/ Huyền nghĩa là sâu kín, thanh tịnh.  Khi nói Huyền môn là có ý chỉ đạo Lão hay đạo Phật.  Hoa tạng là tên chỉ Tịnh độ của đức Phật Tì-lô-xá-na (Vairocana, tức là đức Phật đầu tiên, Phật tối sơ) mà cũng là của toàn thể chư Phật.  3/ Phi-hữu phi-không nghĩa là chẳng phải có, chẳng phải không.  Đây là quan niệm của các bậc tu Đại thừa, vượt qua quan niệm chấp có của phàm nhân và quan niệm chấp không của tiểu thừa.

170170   1/ Chữ « vô học » khác hẳn với nghĩa ngoài đời. Bậc vô học là những vị không phải học nữa, và bậc hữu học là những người còn phải học thêm.   2/ Tứ đại là : đất, nước, gió, lửa (đại là lớn, không phải là đời).  Thêm thức vào thì thành ngũ đại.  Thêm không vào nữa thì thành lục đại.   3/ Đó là người Ấn tắm ở sông Hằng chứ không phải Phật tử.  Họ tin rằng nước sông Hằng rửa sạch tội lỗi.  Hằng hà sa số nghĩa là số cát ở sông Hằng, ý nói rất nhiều, không đếm nổi.

171171   1/ Đôn Hoàng là tên một cái động ở phía Bắc nước Tàu, nơi đó người ta phát hiện được nhiếu kinh sách Phật giáo rất quý.  Nơi đó, khí trời khô ráo nên sách không bị ẩm mục.   2/ Vườn Lâm-tì-ni (nơi đản sanh đức Thích-Ca) ngày nay thuộc địa phận nước Nê-pan (Népal).  UNESCO đang vận động gây quỹ để trùng tu.  Nhiều đạo hữu đã có cơ duyên tới hành hương ở đó.   3/ Chữ Phạn Pratyeka phiên âm là Bích-chi-ca, nói ngắn là Bích-chi.  Pratyeka Buddha là Bích-chi Phật. Các vị này quán 12 nhân duyên, diệt vô minh (do đó mà diệt cho đến hết tức là đến lão, tử) nên giác ngộ, vì thế gọi là Duyên giác.  Lại vì sinh ra nhằm lúc không có Phật ra đời, tự mình tu học mà giác ngộ nên gọi là Độc giác.

172172  Kể « lục sư ngoại đạo » là những ai thì mệt óc quá.  Chúng ta căn cứ vào lời của HT Thích Thiền Tâm như sau để hiểu do đâu mà có (tôi trích ngắn gọn thôi) : « Giáo lý Phệ-đà diễn biến qua ba giai đoạn là Phệ-đà thiên thư, Phạm thư và Áo nghĩa thư.  Có những phái chịu ảnh hưởng của Phệ-đà, có học giả thoát ly tư tưởng Phệ-đà.  Có nhiều phái xuất hiện, hoặc xung đột nhau, hoặc dung hòa nhau.  Kiểm điểm lại, có thể chia các tư trào bấy giờ làm hai hệ thống : Phệ-đàPhản Phệ-đà.  Hệ thống Phệ-đà tuy nhiều nhưng đáng kể chỉ có Lục đại học phái .  Hệ thống Phản Phệ-đà thì có  Lục sư ngoại đạo ». (Phật học tinh yếu, quyển 1, tr.42.  Từ trang 43 đến trang 64, sách nói kỹ về 12 phái ấy).   “Sau khi đức Thích-Ca thành Phật, ngài ngự gần thành Xá Vệ mà giáo hóa.  Sáu vị sư ngoại đạo muốn tranh tài với Phật.  Khi vua Ba-tư-nặc bày ra cuộc tranh đấu về biện luận và pháp thuật thì họ thua Phật rất xa ».  [Theo Từ điển Đoàn Trung Còn.  Sách này có kể tên sáu vị ấy nhưng khó viết và khó đọc, tôi ngại quá! (thí dụ : ông A-kì-đa Sí-xá-khâm-bà-la)]. Phệ-đà hay Vệ-đà, Bệ-đà, Tỳ-đàø phiên âm từ chữ phạn Veda (Veda nghĩa là hiểu biết, trí thức) là sách thánh, là kinh luận của đạo Bà-la-môn, gồm có bốn bộ, gọi là Tứ Minh, nội dung rất rộng rãi, từø các bài ca, lời đọc trong khi hành lễ ở các đàn cho tới gieo quẻ, bày trận, kỹ thuật v.v…  Tác giả chắc chắn phải gồm nhiều người. Thời gian sưu tập có thể kéo dài hàng thế kỷ.. 

173173 –  Ba-tư-nặc (skt : Prasenajit) là vua nước Câu-tất-la (Kosala) ở thành Xá-Vệ (Sravasti) sinh ra cùng ngày với đức Phật Thích-Ca.  Nhà vua giao thiệp thân thiện với vua Tịnh Phạn (thân phụ của Phật) và thường ủng hộ, che chở Giáo Hội Tăng già cũng như cúng dàng đức Phật.  Đức Phật khuyên nhà vua nhiều điều để trị dân cho đúng đạo.  Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm, nhân buổi cúng dàng trai tăng trong hoàng cung, đức Phật có thuyết kinh ấy cho nhà vua.  Sau nhà vua bị con là Lưu-ly chiếm ngôi nên chạy sang lánh ở thành Vương Xá (Ràjagriha) của vua A-xà-thế (Ajàtasatru) và mất ở đó.  Lưu-ly lên ngôi, gây hấn và tàn phá nước của dòng họ Thích, sau chết thiêu trong một cuộc hỏa hoạn. Ghi chú.  Sở dĩ thỉnh thoảng chúng tôi thêm chữ Anh, Pháp, chữ pali hay sanskrit là muốn chuẩn bị cho các bạn trẻ đang theo học các trường ở Âu và Mỹ tiện tra cứu.

174174  Câu  « Tất cả các kinh Phật giống như ngón tay chỉ mặt trăng » lấy ở trong kinh Viên Giác.  Rất nhiều người nhắc đến câu đó, có người dùng làm tựa đề sách.  Ý nghĩa như sau này : Một người hỏi : mặt trăng đâu ?  Một người khác dùng ngón tay chỉ lên mặt trăng cho mà thấy.  Người ấy nương theo ngón tay thì thấy mặt trăng.  Vậy ngón tay chỉ là phương tiện, không phải là cứu cánh, ai chấp ngón tay là mặt trăng thì sai lầm.  Cũng vậy, các kinh Phật là ngón tay chỉ về chân lý, ai chấp vào chữ nghĩa của kinh mà không chịu tìm chân lý, không chịu tìm cái chân tâm của mình, không chịu áp dụng để tu tìm đường giác ngộ và giải thoát thì quên mất mục đích của đạo Phật.

175175   Mấy chữ « dấu chân voi » ngắn ngủi ấy không được rõ và tôi chưa nghe nói trong các câu chuyện đạo.  Nhân dịp đi Vancouver dự đại hội, tôi gặp một vị sư, đem ra hỏi, thì mới biết rằng đó là hai kinh trong Trung Bộ Kinh, tên là Dấu chân voi, một kinh tên là « Tiểu kinh dụ dấu chân voi » và một kinh tên là « Đại kinh dụ về dấu chân voi ». Đại khái trong kinh thứ nhất, một người yết kiến Phật rồi ra về, nói rằng sự chứng đắc của Phật, người phàm không hiểu được, chỉ suy đoán giống như khi thấy dấu chân voi chứ không phải thấy chính con voi.  Đức Phật dạy rằng theo dấu chân voi rồi thì hãy gắng tìm đến con voi mà coi tận mắt.  Ý ngài nói là muốn hiểu sự chứng đắc thì hãy gắng tu đến lúc chứng đắc.  Kinh thứ nhì do ngài Xá-Lỵ-Phất giảng rằng dấu chân voi lớn lắm, không có chân con thú nào bằng, mọi dấu chân thú đều lọt vào trong dấu chân voi cả, rồi ngài bảo rằng mọi pháp môn đều lọt vào trong Tứ Diệu Đế cả.  Tôi không có Trung Bộ Kinh nên không thể nói rõ hơn cho đạo hữu được.

_________________________________________________________________________________________

Tai Biến Mạch Máu Não -Có Vui Không Buồn


Đào Viên

Sau bài “← Những Vui Buồn của Tai Biến Mạch Máu Não”, nhiều độc giả đã muốn biết thêm về căn bệnh quái ác này, chúng tôi xin ghi dưới đây một số chi tiết, lượm lặt được, dưới dạng Vấn Đáp hay Hỏi và Trả lời. Xin quý vị tùy nghi xử dụng.

Hỏi: Có nhiều người bi TBMMN không?
Đáp:
Tại Hoa kỳ hàng năm có khoảng 795,000 người bi TBMMN. Trong số này, khoảng 600,000 người mắc bệnh này lần đầu tiên, số còn lại (185,000) là những người bị TBMMN thêm một lần nữa

Hỏi: Ở tuổi nào người ta dễ bị TBMMN nhất?
Đáp:
Cho đến nay ba phần tư (3/4) số người bị TBMMN là ở tuổi 65. Càng gần tuổi này cái rủi ro (risk) bị TBMMN càng cao.
Không phải là dưới 65 tuổi sẽ không bị TBMMN, mà ngưòi ta bị TBMMN ở bất cứ tuổi nào. Một phần tư (1/4) bệnh nhân TBMMN là ở tuổi dưới 65.
Người Mỹ da đen dễ bị TBMMN hơn người Mỹ da trắng
Trung bình cứ mỗi 40 giây ở Hoa kỳ là có một người bị TBMMN.

Continue reading

Tứ nguyệt tam vương, triệu bất tường


      The attempt to combine wisdom and pơwer has only rarely successful,
                    And then only for a short while

                         --- Albert Einstein

Lời nói đầu – : Chỉ trong bốn tháng mà đã có ba vị vua liên tiếp lên ngôi. Đó là triệu chứng xấu.

Ông Nguyễn Viết Kế, tác giả cuốn sách “Kể chuyệc các đời vua nhà Nguyễn” đã khẳng định như vậy.

Vua Gia Long (Nguyễn Ánh)

Trước khi đọc bài viết của ông Nguyễn Viết Kế – mà chúng tôi ghi lại dưới đây – lịch sử triều đại nhà Nguyễn, bắt đầu từ Nguyễn Phúc Ánh tức vua Gia Long đã để lai một di sản khác thường:

  • Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã trả thù anh em, con cháu nhà Tây Sơn một cách dã man khủng khiếp. Ngoài gia đình Nguyển Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, tất cả dư đảng Tây Sơn đều bị lùng bắt giết sạch. Người dân trong nước sợ hãi, nghi ngờ chia rẽ.  Gia Long chủ trương như vậy để giữ vững ngôi đế nghiệp.
  • Để đánh thắng quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã phải nhờ người Pháp. Đây là một món nợ không dễ trả chút nào. Trong những năm đầu, nước Pháp còn đang rối rắm với cuộc cách mạng trong nước. Kể từ thời vua Tự Đức trở đi, người Pháp mới lộ bản chất đi tìm thuộc địa như người Anh, Việt Nam chẳng bao lâu đã chịu dưới quyền đô hộ của người Pháp.
  • Vua quan triều Nguyễn không có người lãnh đạo nhìn xa trông rộng, quanh quẩn xó nhà với văn chương thi phú, coi Khổng Phu Tử là “Vạn thế Sư biểu”. Bỏ mặc triều đình mà giao việc triều chính cho hai quan Đại Thần Phụ Chánh là Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Hai ông này, có thể là những vị ái quốc vong thân, nhưng khi quền lực đến tay mà lại không có, hoặc không muốn lãnh trách nhiệm trực tiếp thì lạm dụng quyền lực khó tránh khỏi. Nạn nhân là những ai? Hóa ra chính lại là những ông vua do hai ông này dựng lên. Kể từ đó triều đình nhà Nguyễn Gia Long trở nên rối loạn.
  • Người Pháp bắt đầu đòi nợ năm xưa. Hậu duệ, con cháu của Gia long đã phải trả một giá rất đắt: Nền Độc Lập Quốc Gia, dưới hình thức một Hòa ước gọi là Hòa Ước Patenôtre

  Continue reading