Phật Học – Thơ đi Tin lại (IX)


                              Tiếp theo Phật Học-Thư đi Tin lại (VIII)

201 – « Tứ sinh, cửu hữu, đồng đăng Hoa tạng huyền môn ; Bát nạn, tam đồ cộng nhập Tỳ-lư tính hải » nghĩa là gì ? Đây là hai câu ở bài cúng ngọ.
Tứ sinh : thai sinh, noãn sinh, thấp sinh và hóa sinh.
Cửu hữu hay cửu địa (chín nẻo) : địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a-tu-la, nhân, và chư thiên Dục giới, đó kể là một. Cộng với bốn nẻo của Sắc giới và bốn nẻo của Vô sắc giới là chín. Đồng đăng nghĩa là cùng lên.
Hoa tạng nói cho đủ là Liên hoa tạng thế giới, nghĩa là thế giới chứa toàn hoa sen, cõi tịnh độ của chư Phật, mỗi đức Phật có Liên hoa tạng thế giới của mình.
Huyền môn : cửa huyền, huyền là sâu kín thanh tịnh.
Bát nạn là tám nạn sau này: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, ở châu Bắc-câu-lư quá sung sướng nên không tu, ở cảnh trời Vô tưởng không tu được, đui điếc câm, chỉ lo biện bác việc đời mà không tu, sinh trước Phật và sau Phật nên khó tu.
Tam đồ là hỏa đồ, huyết đồ, đao đồ, cũng là tam ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh).
Tỳ-lư hay Tỳ-lô-xá-na là đức Phật bao trùm hết mọi đức Phật, gọi là Tối sơ Phật.
Tính hải : biển tính, ý nói Pháp thân Phật rộng lớn vô cùng. Hai câu trên là lời nguyện cho mọi chúng sinh cùng được lên Tịnh độ của chư Phật, cùng được nhập vào Pháp tánh.

202 – « Lần trước tôi đã được trả lời về Lục sư ngoại đạo rồi, nay tôi lại thắc mắc về chữ Phật pháp ngoại đạo, xin vui lòng giải thích ». Đó là chữ để chỉ những người theo bề ngoài thì là Phật tử tại gia hay xuất gia nhưng trong tâm trí thì chấp cả hai thứ pháp và ngã. Nói rõ ra, họ quy y Tam Bảo rồi (hoặc thật lòng, hoặc giả vờ) nhưng không chịu học và hành Phật pháp, họ vẫn cho rằng các pháp là có thật và cái ta là có thật. Phật pháp dạy lý duyên khởi (duyên sinh) nghĩa là vạn pháp do duyên mà sinh ra và do duyên mà diệt mất, cái ngã gồm thân và tâm thì thân do tứ đại giả hợp, tâm do thọ tưởng hành thức kết thành và thay đổi luôn luôn.

203 – Có lẽ đây là lần đầu tôi nhận được câu hỏi liên quan đến thiền sư Việt Nam. Thật ra vua Trần Thái Tông có ý định đi tu nhưng bị chú là Trần Thủ Độ bắt về tiếp tục làm vua. Vậy không thể gọi ngài là một người xuất gia được, nhưng sự tu tập của ngài cũng như sách của ngài viết còn hay gấp nhiều lần sách của các vị xuất gia. Vua Thái Tông bệnh, con là Thánh Tông tới thăm, nhân đó hỏi : « Chân không và ngoan không khác nhau thế nào ? ».
(Ghi chú : ngoan không là cái không ngơ ngơ, rỗng tuếch còn chân không là bản thể của các pháp) .
Vua đáp : « Hư không là một, nhưng do tự tâm mê ngộ nên thành có chân và ngoan sai khác. Ví như phòng nhà, mở ra thì sáng, đóng lại thì tối, sáng và tối chẳng đồng nhưng phòng nhà là một ». Tôi nghĩ rằng câu trả lời quá rõ rồi.

204 – « Con quỷ vô thường nó đang rình đây kia », câu này có ý nói có sanh là có tử, mà chẳng biết chết lúc nào, cho nên phải chuẩn bị. Không phải chuẩn bị ma chay hay làm chúc thư mà chuẩn bị về tâm linh, chuẩn bị cho kiếp sau, đặc biệt là chuyên tâm niệm Phật cầu vãng sanh Cực lạc quốc.
« Năm sứ giả nhà Trời », câu này ít nghe nói. Đó là : sinh, lão, bệnh, tử và lao ngục.

205 – 1/ Kinh Vô Lượng Thọ gọi là Đại bổn Di Đà hay Đại bản. Kinh A-Di-Đà gọi là Tiểu bổn hay Tiểu bản. Đó là hai trong ba kinh chính của Tịnh độ tông. Kinh thứ ba là kinh Quán Vô Lượng Thọ.
2/ Khi đắc quả a-la-hán, thế nào cũng có thần thông, thời nay chúng ta nghe thấy lạ, có thể không tin. Thời đức Phật tại thế, nhiều vị đắc đạo và có thần thông, thí dụ như các ngài Ca-Diếp, Xá-Lỵ-Phất, Mục-Kiền-Liên… Ngài A-Nan, theo chính lời ngài than sau khi bị Ma-Đăng-già bắt, là ngài nghĩ rằng hầu Phật là đủ đắc đạo. Vì thế sau khi Phật bát-niết-bàn (tịch), ngài Ca-Diếp tổ chức hội nghị (kết tập pháp) để điển chế Tam Tạng, ngài A-Nan không dự được vì thiếu thần thông. May mà, do sự giúp đỡ khéo léo của ngài Ca-Diếp, ngài A-Nan hốt nhiên ngộ khi nằm nghiêng, có thần thông nên bay vào động đá dự họp với các vị la-hán. Ngài A-Nan đọc các kinh, bắt đầu bằng : « Chính tôi được nghe… ». Ngài Xá-Lỵ-Phất thấy một số người ngoại đạo có thần thông bàn nhau xê dịch một quả núi. Ngài cho rằng việc ấy có hại cho dân chúng địa phương nên ngài dùng thần thông bay lên rồi ngồi trên đỉnh núi mà đè xuống. Núi quá nặng, ngoại đạo chuyển núi không nổi, phải chịu thua. Nên nhớ rằng có thần thông không phải là muốn làm gì thì làm, thí dụ đối với việc trổ quả của nghiệp nhân thì không ngăn cản được, cùng lắm là chỉ làm nhẹ bớt mà thôi, chính đương sự phải lo tu mà chuyển nghiệp của riêng mình.

206 – Nhiều chuyện tôi nhớ, rồi kể lại cho các đạo hữu nghe, lẽ dĩ nhiên không thể nào đúng hết mọi chi tiết được. Nếu bảo tôi đi tìm lại xem ở sách nào thì khó quá, không đủ sức, trí nhớ của người trên 70 thì « mòn » nhiều rồi ! Đại khái chuyện là như thế, kể chung chung thôi, nhưng chắc chắn là tôi không hề đặt ra ! Hai người đứng trên bờ hồ. Một ông nói : Cá lội tung tăng, vui quá nhỉ !. Ông kia bảo : Ông có là cá đâu mà ông biết là nó vui. Trả lời : Ông có là tôi đâu mà ông biết rằng tôi biết hay không biết. [Nếu tôi không lầm thì đó là chuyện Huệ tử ở bên Tàu].

207 – « Một niệm sai lầm », nói thế ngắn quá, phải nói « vì chót nảy ra một niệm sai lầm nên mới chịu quả tệ hại như vậy », đó là nói để than cho một sự việc không hay. Đây là một thí dụ : Chúng ta nhớ rằng ông Uất-đầu-lam-phất tu tiên đến một bậc rất cao, chính ông đã luyện thiền cho đức Phật khi ngài vừa mới xuất gia và khi thấy ngài tiến nhanh kịp ông thì ông đề nghị ngài ở lại để điều khiển giáo đoàn của ông, nhưng ngài từ chối, bỏ đi tìm đường giải thoát. Một ngày kia, ông dùng thần thông bay đến thăm vua Tần-bà-xa-la, nhà vua đối xử với ông rất cung kính và dặn hoàng hậu rằng nếu ổng tới mà nhà vua đi vắng thì hoàng hậu phải thay mặt vua mà tiếp đãi. Một lần kia, ông tới hoàng cung đúng lúc nhà vua đi vắng, hoàng hậu ra tiếp. Thấy hoàng hậu quá đẹp, ông chợt nảy ra một niệm ái dục. Thế là thần thông mất hết, ông đành đi bộ về núi.

208 – Mở đầu kinh A-Di-Đà, chúng ta thấy ngài A-Nan kể tên những vị được nghe Phật thuyết pháp, trong số các đại tỳ-khưu có một vị tên là Vakkula (chữ phạn đó phiên âm thành Bạc-câu-la; dịch nghĩa thành Thiện Dung tức là nét mặt đoan chánh). Ngài thích tu nơi vắng vẻ, ít ham muốn, biết đủ (tri túc), đắc quả la-hán. Khi ngài tịch, có tháp. Khi vua A-xà-thế đến viếng tháp, vua có vào cúng dường và phát biểu ý kiến rằng ngài tu trong rừng nên ít làm lợi ích cho chúng sinh. Đồ cúng dường bay từ trong tháp ra rớt xuống chân nhà vua. Các quan hầu sợ quá, nói : Ngài thiểu dục tri túc, nay vẫn giữ nguyên đức hạnh như vậy.
[Ghi chú : do nghiệp lành giữ giới không sát sanh nhiều kiếp mà ngài Bạc-câu-la thọ 160 tuổi, được gọi là thọ mạng đệ nhất].

209 – Vua Trần Thái Tông không xuất gia nhưng tu Phật, soạn sách Phật. Con ngài lên ngôi là vua Trần Thánh Tông; con Thánh Tông lên ngôi là Trần Nhân Tông. Vua Nhân Tông đi tu, làm sơ tổ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Chúng ta biết nhiều về vua Trần Thái Tông và sơ tổ Trúc Lâm Yên tử mà ít nghe đến vua Thánh Tông. Dưới triều ngài thì thiên hạ thái bình. Ngài nhường ngôi cho con và cũng tu Phật. Về ngài, Việt sử ghi lại điều sau này rất hay : Thời vua Thái Tông, giặc Nguyên (Mông Cổ) sang đánh nước ta một lần. Thời vua Nhân Tông, giặc Nguyên lại sang, hai lần. Cả ba lần chúng đều bị thảm bại. Lần cuối, khi đuổi hết giặc rồi, triều đình họp, có ngài Thánh Tông dự bàn. Người ta mang ra một thùng sớ của các quan đã xin hàng giặc, có ý để triều đình xét rồi trị tội. Vua Thánh Tông nói : « Thế giặc quá mạnh, nên họ phải xin hàng. Nay giặc tan rồi thì còn hàng với ai nữa. Đốt hết đi ! ». Ai ai cũng được an tâm.

210 – Đạo hữu hỏi rằng thái tử Tất-đạt-đa có mấy vợ. Vua chúa nào chẳng có nhiều cung phi, thái tử có thua nhà vua thì cũng chẳng là bao ! Phật học từ điển Đoàn Trung Còn ghi ở mục Cồ-Di (Gopika) như sau : Vua Tịnh Phạn có cưới cho thái tử ba bà phi, bà chánh là Da-du-đà-la, bà thứ nhì là Cồ-Di, bà thứ ba là Lộc-Dã. Tên Gopika, Tàu dịch là Minh Nữ. Hôm bà mới sinh lúc mặt trời lặn thì hào quang tựu lại chiếu vào nhà bà. Vì có điềm lạ ấy nên đặt tên như vậy. Theo HT Thiền Tâm, trong cuốn Phật học tinh yếu , quyển 1, trang 114 thì : Công nương Da-du-đà-la cũng có hiệu là Cù-Di.. , cũng có hiệu là Minh-Nữ (hào quang v.v.. như trên). Thái tử có hai bà phi khác là Gia-duy-đàn và Lộc-Dã.
Tóm lại Thái tử có ba vợ.

211 – Vua A Dục (hay A-Du-Ca phiên âm từ chữ Phạn Asoka) là một nhân vật được nói đến nhiều trong lịch sử đạo Phật. Ông trị vì một nước ở Bắc Ấn Độ, giữ ngôi vua từ 272 đến 236 trước Tây lịch và mất vào khoảng năm 231 tr.TL. Ông chinh phục nhiều nước và những cuộc chiến quá đẫm máu làm cho ông khủng hoảng tinh thần, do đó ông quy y Phật (khoảng năm 260 tr. TL). Có sách nói ông đã xuất gia nhưng còn giữ ngôi vua để ủng hộ Phật pháp. Ông đã lập rất nhiều cảnh chùa, cho làm nhiều « cột đá » (ngày nay hãy còn) trên khắc những lời khuyên dân chúng làm điều lành, mở các cuộc chẩn bần, cúng dàng các nhà sư và khuyến cáo không sát sinh… Tên nhà vua gắn liền với cuộc kết tập quy tụ 1000 vị tăng đế điển chế Kinh, Luật, Luận, nhất là về Luật vì lúc đó việc trì giới có phần lỏng lẻo. The Shambala Dictionary nhắc đến việc loại những kẻ phạm giới ra khỏi Tăng đoàn và ghi lại một sự kiện quan trọng là phái đoàn hoằng pháp Phật giáo sang Tích Lan, phái đoàn do chính thái tử Mahinda dẫn đầu. Từ điển này nói thêm rằng các cột đá cho thấy vua A-Dục không những nâng đỡ Phật giáo mà còn nâng đỡ cả các giáo phái khác nữa, cho nên nội dung các cột đá nặng về luân lý nói chung hơn là nói riêng về Phật pháp.

212 – Vị tăng mà đạo hữu hỏi đó chính là ngài A Na-Luật (Phạn : Anurudha), ngài là một trong mười đại đệ tử của đức Phật, là « thiên nhãn đệ nhất ». Một hôm, nghe Phật giảng, ngài ngủ gục, bị quở, nên ngài nguyện sẽ tinh tấn tu hành, suốt đời không ngủ, vì thế bị mù. Các vị tăng đi khất thực về thì sẻ thức ăn cho ngài. Vì quần áo ngài rách quá, ngài A-Nan phải vá hộ. Một lần, ngài nói : “Có ai làm phước xâu chỉ (vào kim) dùm tôi”. Đức Phật nghe thấy, sang xâu kim và vá áo cho ông. Đệ tử hỏi thì đức Phật nói là ngài làm phước, mọi người thán phục vì đến như đức Phật mà còn chăm làm phước. Còn nhiều chuyện nhỏ khác, thí dụ như ngài phải ghé quán nghỉ đêm nhân một bữa đi xa. Nửa đêm, một kỹ nữ thấy vẻ trượng phu của ngài (ngài là một ông hoàng xuất gia theo Phật) có ý trêu ghẹo xàm xỡ, ngài dùng thần thông, bay lên cao. Cô ta sợ quá, nhưng khi được ngài giảng dạy, cô ta hối hận và nguyện quy y. Một lần khác, khi đang đi trên đường từ Xá-Vệ về Tỳ-Xá-Ly, ngài thấy một thiếu phụ xin đi cùng để được an toàn. Không ngờ, người ấy bị chồng đánh đập nên bỏ trốn về nhà cha mẹ. Người chồng đuổi theo, thấy vậy, nghi ngài quyến rũ vợ anh ta. Ngài bình thản ngồi nhập định, anhchồng hiểu ra và xin lỗi ngài. Đó là đức nhẫn nhục.

213 – Thiền tông luôn luôn nhấn mạnh đến việc « kiến tánh thành Phật » và « Phật ở ngay trong tâm, không phải tìm đâu xa », nếu biết điều ấy thì hiểu được một số câu hay hành động của các thiền sư. Thí dụ như câu : « Một niệm chẳng sanh tức Phật như như ». Chớ dấy lên niệm bấu víu vào các sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Khi tâm không còn vướng mắc gì cả, lúc ấy là Phật như như hiện. Không phải là ông Phật hiện ra trước mắt cho mình thấy bằng mắt, mà là Phật tánh.

214 – Tôi không nhớ tên vị thiền sư đó nhưng câu chuyện thì đại khái giống như đạo hữu kể : Một vị thiền sư, trên đường hoằng pháp, đến trụ ở một chùa kia và nhiều lần đàm đạo với nhà sư trụ trì. Một buổi sáng, thiền sư bê một pho tượng Phật bằng gỗ từ trên bệ xuống, chẻ ra làm củi đun trà uống. Nhà sư sợ quá, hỏi sao lại hành động phạm thánh như vậy. Thiền sư trả lời : sắp chẻ thêm một pho tượng nữa… Chúng ta thắc mắc về chuyện trên. Tuy nhiên nếu biết mục đích thì sẽ hiểu. Vì thấy nhà sư trụ trì là một người « chấp có » quá nặng, bấu víu vào những vật có hình tướng (như pho tượng) cho rằng « pháp có thật » trong khi « pháp là không », cho nên thiền sư phải làm một hành động thật mạnh để cho nhà sư « tỉnh ngộ ». Đơn giản vậy thôi. Mà chúng ta thì thấy có vẻ « điên điên và phạm thánh» !

215Vua Tần-bà-xa-la (Bimbasara, còn gọi là Bình-sa) bị con là thái tử A-xà-thế (Ajatasatru) cầm tù cho đến chết. Việc ấy có liên quan đến nhân quả báo oán như thế này : Có một ông vua rất tàn ác, một hôm đi săn mà không được một con thú nào. Trong lúc bực bội, ông gặp một nhà tu, ông đổ tội rằng do nhà tu này mà thú chạy hết và ra lệnh giết nhà tu. Trước khi chết, nhà tu nguyện đời sau sẽ trả thù, giết ông vua tàn ác kia. Ông vua ác ấy nay là vua Tần-bà-xa-la và nhà tu ấy nay chính là A-xà-thế.

216Tứ vô lượng tâm là từ, bi, hỷ, xả. Lòng từ vô lượng là lòng yêu thương vô điều kiện đối với tất cả mọi chúng sinh (mọi người và mọi loài), làm cho tất cả được vui cả về vật chất và tinh thần. Lòng bi vô lượng là lòng xót thương hết sức rộng rãi đối với mọi chúng sinh đang đau khổ về bất cứ phương diện nào, thông cảm với họ và tìm mọi cách cứu họ, xóa hết đau khổ cho họ. Hai chữ từ bi thường đi đôi với nhau, và được giải nghĩa gọn là : cho vui, cứu khổ. Lòng hỷ vô lượng là lòng vui mừng khi thấy chúng sinh được yên lành, vui vẻ. Việc này không phải dễ vì nhìn ra ngoài đời, chúng ta nhận thấy người ta hay ghen tỵ với sự thành công, sung sướng của đồng loại. Xả nghĩa là buông bỏ, bố thí. Lòng xả vô lượng là buông bỏ, không bám víu, không chấp trước vào những tri thức, tình cảm của mình, không bị ảnh hưởng bởi lợi hại khen chê, không oán hờn giận dỗi. Do xả mà không bo bo giữ ý kiến mình, bỏ kiêu mạn, không tham lam, hận thù, ghen ghét, buồn phiền. Hai chữ hỷ xả thường đi đôi với nhau. Đạo Phật được gọi là đạo giải thoát, đạo từ bi, đạo hỷ xả. Mấy chữ ấy nêu ra mục đích và cách tu tập của Phật tử. Đối với chư Phật và chư Bồ-tát, thì thêm chữ đại : đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. « Đại từ đại bi thương chúng sinh, đại hỷ đại xả cứu muôn loài », đó là câu mà chúng ta thường nghe khi tụng kinh.

217 – Chuyện nhà Thiền thì nhiều, kể đến bao giờ cho hết. Hiểu được thì khó lắm. Phải có người giảng cho mới hiểu nổi. Tôi mới coi một chuyện do HT Thanh Từ kể, tôi nói lại để đạo hữu thưởng thức :
Một nhà tu ngoại đạo thuyết pháp hay lắm, trời Đế Thích cũng đến nghe, nghe xong rồi khóc. Nhà tu hỏi lý do thì được trả lời : Ông thuyết pháp hay lắm nhưng tôi thấy ông sắp chết nên tôi khóc. Nhà tu sợ, hỏi có cách gì để không chết không, thì được mách tìm đến tham vấn đức Phật. Ông ta cầm hai cây ngô đồng trổ bông ở hai tay để làm đồ cúng dàng, đến yết kiến đức Phật và hỏi làm cách nào cho khỏi chết. Đức Phật bảo : « Buông xuống ! », ông ta buông một cây ngô đồng. Đức Phật lại bảo : « Buông xuống ! », ông ta buông nốt cây thứ nhì. Đức Phật nói tiếp : « Buông nốt ! ». Ông ta ngỡ ngàng vì hai tay đâu còn cầm cái gì. Khi thỉnh ý đức Phật, ông được ngài dạy : Thứ nhất, tôi bảo ông buông sáu trần. Thứ nhì, tôi bảo ông buông sáu căn. Thứ ba, tôi bảo ông buông hết mọi vọng tưởng. Được như vậy sẽ thoát sinh tử. [Xin coi tiếp dưới đây].

218 – Có người hỏi Bố Đại hoà thượng rằng : « Thế nào là đại ý Phật pháp ? ». Hòa thượng không nói gì, bỏ cái bị đang mang ở trên vai xuống đất. Hỏi tiếp : « Chỉ có thế thôi sao ? ». Hòa thượng vẫn không nói gì, nhặt cái bị, quảy lên vai mà đi. Chúng ta nghe chuyện, choáng váng vì không biết ất giáp ra sao. Hỏi ra thì như thế này : Bỏ cái bị xuống, ý nói buông xả tất cả, đừng bám víu, chấp trước vào cái gì hết. Nhặt cái bị lên, ung dung mà đi, ý nói khi đã buông hết rồi thì lại được tất cả. Được cái gì ? Được Phật tánh, thứ tuyệt đối, không có gì sánh được ! Theo truyền thuyết thì hòa thượng Bố Đại nói trên đây là một hóa thân của đức Di Lặc. Ít lâu nay, đạo hữu thấy trên phố Tàu, người ta bày bán mấy bức tượng khá lớn, hình người mập mạp, tươi cười, bụng phệ, vai vác một cây gậy, đầu gậy có treo một cái bị. Đó là Bố Đại hòa thượng.

219Kinh Pháp Hoa được coi là vua của các kinh. Có một chuyện liên quan đến kinh Pháp Hoa, tôi xin kể, tin hay không là tùy ở đạo hữu. Thời xưa, có một phụ nữ trung bình về mọi phương diện, nhưng có một đặc điểm là hơi trong miệng thở ra rất thơm. Không ai biết lý do. Rồi có một vị cao tăng đi qua, ngài nói rằng sở dĩ miệng thơm như vậy vì kiếp trước người phụ nữ đó chuyên tụng kinh Pháp Hoa cả ngàn lần, không tụng kinh nào khác. Để thử, người ta lấy kinh Pháp Hoa ra đọc một đoạn cho người phụ nữ đó nghe, cô ta đọc tiếp được ngay. Nhiều lần, mà lần nào cũng như vậy. Đến khi dùng kinh khác thì cô ta không đọc tiếp được. Mọi người chịu là vị cao tăng nói trúng, hẳn là vị ấy đã có túc mạng thông, biết được kiếp trước của người khác.

220Pháp môn bất nhị nghĩa là gì ? Tôi chép ở Từ điển Phật học Hán Việt để đạo hữu ngẫm nghĩ, còn giảng thì tôi « xin hàng » : Lý nhất thực, như như bình đẳng mà không có sự khác biệt giữa cái này với cái kia, đó gọi là bất nhị. Bồ-tát ngộ nhập lý nhất thực bình đẳng, đó gọi là Nhập Bất nhị pháp môn. Lý Bất nhị là quỹ phạm của đạo Phật nên gọi là Pháp. Các thánh do đó mà tiến vào nên gọi là môn. Pháp môn Bất nhị ở trên các pháp môn, có thể trực tiếp thấy được thánh đạo. Kinh Duy-Ma-Cật chép việc Văn-Thù hỏi Duy-Ma-Cật rằng : « Những gì là Bất nhị pháp môn ? ». Duy-Ma-Cật im lặng chẳng đáp. Văn-Thù liền nói : « Hay lắm! Hay lắm! Không có văn tự ngôn thuyết, đó thật là Bất nhị pháp môn ! ».

221 – Theo sách vở thì xá-lỵ của đức Phật được chia làm tám phần, đem về đặt tại tám nơi khác nhau. Theo một cách hiểu khác thì Pháp của đức Phật chính là xá lỵ, đó là xá-lỵ về phương diện tinh thần.

222 – HT Thích Thanh Từ viết : Như Lai thiền là thiền Phật dạy như Ngũ đình tâm quán, Tứ niệm xứ quán v.v… Còn Tổ sư thiền là thiền do Tổ Bồ-đề-đạt-ma dạy với tông chỉ : « Bất lập văn tự, Giáo ngoại biệt truyền, Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật ». Khi vua Trần Minh Tông (1300-1357) nói Như Lai thiền thì có người hiểu lầm đó là Ngũ đình tâm quán v.v… Thật ra khi nhà vua nói Như Lai thiền thì ngài có ý nói gọn tên Như Lai tự tính thanh tịnh thiền, đó là một tên khác của Tổ sư thiền. Thiền này chỉ thẳng Phật tánh sẵn có của mỗi người chứ không phải phương pháp tu thiền Phật dạy trong kinh. [Coi trang 189, Thánh Đăng lục, do HT Thanh Từ dịch và giảng]. Nhân chỗ này, chúng ta thấy những chỗ vô cùng tế nhị khi học kinh sách ! Và chúng tôi cũng tự hỏi : không biết HT Thanh Từ giảng chỗ này có hơi gượng ép không ? Tại sao xác nhận rằng « nhà vua có ý » như vậy ?

223 – Hai bài kệ do ngài Thần Tú và ngài Huệ Năng làm để trình kiến giải của mình lên Ngũ Tổ thì nhiều sách đã chép rồi. Chiều ý đạo hữu ở xa tuốt mãi Tennessee, tôi xin chép ra đây, bài với lời dịch ra Việt văn của HT Thanh Từ và Anh văn, lấy trong A Buddhist Bible (của Dwight Goddard, Beacon Press, Boston, 1938) và Pháp văn, lấy trong Discours et Sermons de Houei-Nêng (của Lucien Houlné, Albin Michel, Paris, 1984) :

Kệ do ngài Thần Tú

Thân thị Bồ đề thọ,                                        Thân là cội Bồ đề,
Tâm như minh cảnh đài.                              Tâm như đài gương sáng.
Thời thời cần phất thức,                               Luôn luôn phải lau chùi,
Mạc sử nhạ trần ai.                                        Chớ để dính bụi bặm.

Kệ do ngài Huệ Năng 

Bồ đề bổn vô thọ,                                          Bồ đề vốn không cội,
Minh cảnh diệc phu đài.                              Gương sáng cũng chẳng đài.
Bổn lai vô nhất vật,                                       Xưa nay không một vật,
Hà xứ nhạ trần ai ?                                        Chỗ nào dính trần ai ?

Our body may be compared to the Bodhi-tree ;
While our mind is a mirror bright.
Carefully we cleanse and watch them hour by hour,
And let no dust collect upon them.

By no means is Bodhi a kind of tree,
Nor is the bright reflecting mind, a case of mirror.
Since mind is emptiness,
Where can dust collect ?

Từ điển The Shambala Dictionary of Buddhism & Zen, mục Hui-Neng, dịch 4 câu sau là :
Fundamentally bodhi is no tree,
Nor is the clear mirror a stand.
Since everything is primordially empty,
What is there for dust to cling to ?

Ce corps est l’’arbre bodhi,
Ce coeur est comme un miroir brillant.
Sans cesse nous les époussetons et essuyons
Afin de ne y laisser s’’attacher la poussière.
Il n’y a pas d’arbre bodhi,
Ni cadre de miroir brillant.
Puisque, intrinsèquement, tout est vide,
Où la poussière peut-elle s’’attacher ?

224 – Tổ thứ 17 là Tăng-Già-Nan-Đề (Sanghanandi) quyết định truyền y bát cho tổ thứ 18 Già-Da-Xá-Đa (Gayasata) sau khi hai ngài nói chuyện về « gió thổi cái linh » treo trên điện Phật. Việc « gió thổi » này giống như chuyện tranh luận giữa hai nhà sư trẻ về « gió thổi lá phướn », sau có ngài Huệ Năng giải đáp cho.
1/ Một hôm, gió thổi cái linh (chuông nhỏ, clochettes, small bells) treo trên điện Phật khua động. Tổ thứ 17 hỏi Xá-Đa : – Linh kêu hay gió kêu ? Xá-Đa thưa : – Chẳng phải gió kêu, chẳng phải linh kêu, mà tâm con kêu. – Tâm ngươi là cái gì ? – Đều lặng lẽ. – Hay thay ! Ngươi khéo hội ý Phật, nên nói pháp yếu, nối đạo cho ta, chẳng phải ngươi còn ai ? [HT Thanh Từ, Tổ Thiền Tông, Phật học viện Quốc tế, Hoa kỳ, 1981, tr.98].
2/ « Lúc ấy, có luồng gió thổi động lá phướn. Một thày tăng nói gió động, một thày tăng khác nói phướn động, hai đàng nghị luận hoài chẳng dứt. Huệ Năng này bước tới nói rằng : « Chẳng phải gió động, cũng chẳng phải phướn động, ấy là tâm của nhân giả động ». [Pháp Bảo Đàn Kinh, Phật Bửu tự, Saigon, 1969, phẩm 1].
It happened one day when a pennant was being blown about by the wind, that two monks entered a dispute as to what was in motion, the wind or the pennant. As they failed to settle their difference, I suggest it was neither; that what actually moved was their own mind. [Dwight Goddard, A Buddhist Bible, Beacon Press, Boston, 1938, p.505].

225 – Đạo hữu lại tiếp tục hỏi về Bất nhị pháp môn vì « chưa được thông với lời giải đáp » của tôi. Cám ơn đạo hữu dùng chữ lịch sự, thật ra là câu trả lời của tôi « bết quá », lý do dễ hiểu là tôi « bí quá» nên chép trong từ điển ra. Bây giờ đây, trong khi ngồi so sánh ba bản Việt, Anh và Pháp của Pháp Bảo Đàn Kinh, tôi ghi ra được mấy câu thật hay của Lục Tổ nên gửi làm quà đến đạo hữu, đồng thời xin lỗi về sự chậm trễ của tôi, chậm trễ vì gặp khó chứ không phải vì lười. Ấn Tông hỏi : – Phật pháp là pháp chẳng hai nghĩa là sao ? Huệ Năng đáp : – Phật tánh là pháp chẳng hai của Phật pháp. Thiện căn có hai thứ : một là thường, hai là vô thường. Phật tánh chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, cho nên không đoạn diệt, ấy gọi là Pháp chẳng hai. Căn có hai : một là lành, hai là chẳng lành. Phật tánh chẳng phải lành, chẳng phải không lành, ấy gọi là Pháp chẳng hai. Uẩn và Giới, phàm phu thấy có hai, người trí biết tánh của chúng chẳng phải hai. Tánh chẳng hai tức là Phật tánh vậy. [bất nhị tức chẳng-hai dịch là non-dual, non-duality].

____________________________________________________

Advertisements

Từ Watkins books đến Con Đã Trở Về


Đi xuất gia là để chuyển hóa những khổ đau của mình, 
  để đạt tới hiểu biết lớn, tức là Đại Giác Ngộ, 
  để đạt tới tình thương lớn, tức là Đại Từ Bi, 
  để đạt tới cái tự do lớn, tức là Đại Tự Tại.
                 ----Thích Nhất Hạnh
                                                                                                                                                                          Đào Viên

1) Watkins Books 2011, 2012. 2013, 2014

Trong bài viết “← Một Danh sách khác thường”, ngày 30 tháng 10, 2014, chúng tôi đã giới thiệu nhà sách Watkins Books tại Luân đôn, Anh Cát Lợi, một tiệm sách được coi là lâu đời nhất châu Âu. Nhà sách này chuyên in ấn, xuất bản những sách về tâm linh, linh hồn, đời sống vô hình, đôi khi cả về ma quỷ. Tóm lại một nhà sách rất đặc biệt, chuyên về đời sống tâm linh con người

Bắt đầu từ năm 2011, Watkins Books đưa ra một ý kiến rất mới lạ: hằng năm Watkins Books sẽ đưa ra một Danh sách liệt kê 100 người được coi là những người còn tại thế, có ảnh hưởng về tâm linh đến tất cả mọi người trên thế giới. Danh sánh này có tên là List of the 100 Most Spiritually Influential Living People (dưới đây gọi là Danh sách). Đến nay Watkins Magazine đã đưa ra bốn Danh sách, tương ứng với bốn năm 2011, 2012, 2013 và 2014.

Theo hội đồng trị sự của Watkins Magazine, Danh sách này được thiết lập nên, dựa vào một “cơ sở dữ liệu luôn được cập nhật (updated database)”, những tài liệu về trên sáu trăm nhân vật lãnh đạo tâm linh trên thế giới. Từ đấy họ chọn ra 100 nhân vật được coi là hoạt động nhất, trong các lãnh vực chánh trị, tôn giáo, nghệ thuật, phim ảnh và văn chương.

Continue reading

Một chuyện khó nói


Tôn giáo là nơi mọi người đối xử với nhau tử tế với lòng thành tín.  Nhưng Tôn giáo cũng là nơi người ta có thể giết nhau vì ý kiện bất đồng

—- Mark Twain

Đào Viên

Bac si Ayaz Virji

Ông bác sĩ đã mặc song quần áo chỉnh tề. Áo veston mầu xẫm, áo sơ mi mấu xanh, đeo cà vạt. Ông tự nhủ: “Mình phải làm sao để họ phải nể trọng mình, phải thật bình tĩnh”. Ông thong thả đi cầu thang xuống nhà dưới. Bà Musarrat, 36 tuổi đang chờ ông để ra đi. Đó là ông Ayaz Virji, 42 tuổi, làm bác sĩ, mới đến Dawson không lâu, một thành phố nhỏ, để trông nom sức khỏe cho  khoảng một ngàn rưởi người dân.

Hai tiếng nữa, ông sẽ phải đến nói chuyện về Hồi giáo, đạo Islam, cho dân nghe. Đây là lần thứ ba ông phải làm chuyện này mà ông không chắc sẽ là lần cuối.

Continue reading

Một dân tộc khôn ngoan


 

Peace cannot be kept by force. It can only be achieved  by understanding

— Albert Einstein

                                                                            Đào Viên

Lời nói đầu –

Đệ nhị Thế chiến, sau cái chết của Aldolf Hitler và Benito Mussolini, đã chấm dứt với hai quả bom nguyên tử dội xuống Hiroshima và Nagasaki ngày 6 và 8 tháng 8, 1945 . Sau hai Tòa Án quốc tế tại Nuremberg và Tokyo, kẻ ác nhân đã bi trừng phạt,  mọi người cho rằng Hoa Bình vĩnh cửa đã đến. Nhưng chẳng bao lâu, chiến tranh lại trở lại, không vì sự sinh tồn của các quốc gia mà là sự chia rẽ giữa người dân cùng trong một nước, vì ý thức hệ, vì bất đồng chánh kiến. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, nội chiến đã nổ ra giữa Xã Hội chủ nghỉa và Tư bản chủ nghĩa, giữa Cộng Sản độc tài và Dân chủ tự do.

Cảnh nồi da xáo thịt, nhiễu điều không còn phủ giá gương, đã gây ra cái chết cho hàng trăm ngàn người, ảnh hưởng lâu dài đến tương lai của dân tộc, vì nhiều thế hệ thanh niên ưu tú, tương lai của dân tộc, có khi cả vị thành niên, đã phải hy sinh trên chiến trường. Hết nội chiến, quốc gia sẽ tụt hậu vì hết nhân tài, còn lâu mới ngóc cổ lên được.

 Chúng ta hãy xem trường hợp một cuộc Nội chiến được coi là dài nhất trong lịch sử thế giới. Không phải là “hai mươi năm nội chiến từng ngày” như một nhạc sĩ đã hát, mà là một nửa thế kỷ (50 năm) giữa người Cộng Sản và người Quốc gia. Ấy thế mà đôi bên đã biết bỏ chống đối lẫn nhau, đi đến hòa giải, đem hòa bình cho đất nước. Họ là một Dân tộc khôn ngoan hơn nhiều dân tộc khác.

 Họ không ngu dại gì  mà phải  cầu viện ngoại nhân để chiến thắng. Những viện trợ này sẽ trở nên món nợ khổng lồ rất khó trả, sẽ không thể trả bằng hiện vật mà phải trả bằng quyền lợi quốc gia. Đời con cháu họ chưa chắc đã trả hết.

Họ cũng  đủ khôn ngoan để biết rằng, một khi hết chiến tranh, hòa bình chỉ có thể bền vững lâu dài bằng hòa giải thật sự, bằng thông cảm, bằng tình người, không thể bằng oán thù, bằng đầy đọa.

***

1)    Một ngày lich sử

Ông Timochenco

Hôm ấy là ngày thứ Ba 26 tháng 9, 2016, Tổng thống nước Colombia là ông Juan Manuel Santos, cùng toàn thể nhân viên trong Nội các đã gặp  ông Rodrigo Londono, người có bí danh là Timochenko, một lãnh tu cao cấp nhất của đội quân phản loạn FARC, chống chánh phủ

FARC là chữ tắt từ tiếng Tây Ban Nha Fuerzo Armadas Revolucionarias de Colombia, có thể dịch là Lực lượng Tác chiến Cách Mang Colombia hay Quân đội Cách mạng Colombia

Ông Timochenco lớn tiếng nói với mọi người, nhất là để nhằm vào quân đội mình:

Từ nay, giã từ vũ khí! giã từ Chiến Tranh!, hoan hô Hòa Bình

Continue reading

Một cuộc nội chiến bao giờ mới chấm dứt?


I appeal to all men and women, whether they be eminent orb humble,
to declare they will refuse to give any further assistance to war
                 or the preparation of war
                       ------ Albert Einstein

Đào Viên

1) Một thắng lợi chưa đi đến đâu

Một buổi sáng tháng Chạp năm 2016, một nhóm lính tráng đến đập cửa một căn nhà ở thành phố Phiá Đông Aleppo.

Aleppo là một tỉnh lớn thứ hai của nước Syria. Phiá Đông là địa bàn hoạt động của nhóm binh sĩ Chống đối chính quyền Trung Ương của Tổng thống Bashar al-Assad. Phía Tây Aleppo còn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Assad. Ở giữa là nơi chém giết của cả đôi bên. Phía bắc Aleppo là nơi có thủ phủ Raqqa của đạo quân Hồi giáo quá khích ISIS

Trong nhà có tiếng người đàn ông hỏi: “Các anh là ai?” Một người lính trả lời: “ Chúng tôi là quân đội Syria Arab đây. Bây giờ đã yên rồi. Anh có thể ra được rồi. Bọn chúng đi hết rồi

Syria Arab Army là đội quân của chính quyền trung ương tại thủ đô Damascus.

Cửa nhà bỗng mở rộng, một người đàn ông trung niên bước ra. Mặt mũi có vẻ cương quyết. Bộ quần áo rách mướp cũ kỹ, hàm răng ố vàng, mất vài chiếc. Anh ta có vẻ do dự, nhưng sau khi được mấy người linh khuyến khích, anh bước hẳn ra ngoài bước ra giữa đường phố. Anh nhìn khắp phương trời, úp tay vào mặt mà khóc. Anh nói với người lính Syria Arab của chính quyền Bashar  al-Assad là đã bốn năm rưỡi nay, chưa bao giờ anh mở cửa nhìn ra ngoài phố.

Continue reading

Phật học: Thư đi Tin lại – Mục lục


Lời nói đầu – Chúng tôi đã có nhiều dịp giới thiệu với quý độc giả Vườn Đào ông Hoằng Hữu Nguyễn văn Phú. Ông Phú sinh năm 1927 và đã qua đời năm 2013. Hồi còn tại Việt Nam, ông Phú là giáo sư viết sách và dạy Toán Trung học. Di cư sang Montreal Gia-nã-đại, ông Phú giữ mục Thư Tín của hai tập san Phật giáo Liên Hoa và Pháp Âm. Với tư cách này, ông Phú đã có dịp trao đổi thư tín với các đạo hữu của hai tập san để cùng nhau học tập. Ông Phú đã gom góp những thư tín này trong một tập sách nhỏ với tựa đề “Thơ Đi Tin Lại”. Tập sách này rất dài. Đến nay chúng tôi chỉ có thể trình bày 8 tập Thơ đi-Tin lại. Khi nào có nhiều thì giờ, chúng tôi sẽ giới thiệu thêm tập Thơ đi-Tin lại khác.

Ngoài ra, chúng tôi biết rằng đọc cả bài Thơ đi Tin lại – thường khá dài – đòi hỏi nhiều thì giờ. Đôi khi chúng ta chỉ cần tham cứu một vài vấn đề mà thôi. Bởi vậy chúng tôi đã lập ra bản Mục Lục (Index) này để tiện cho độc giả truy cứu.

Dưới đây là Muc lục của các bài viết trong tám (8) Tập Phật học-Thư đi Tin lại.

-          Tập(I)  Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 1 đến 25
-          Tập(II)  Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 26 đến 50
-          Tập(III) Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 51 đến 75
-          Tập(IV) Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 76 đến 100
-          Tập(V) Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 101 dến 125
-          Tập(VI) Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 126 đến 150
 -    Tập(VII) Thư Đi Tin Lại  có 25 mc đánh số từ 151 đến 175
-     Tập(VIII) Thư Đi Tin Lại  có 25 mục đánh số từ 176 đến 200 
-    Tập(IX) Thư Đi Tin Lại  có 25 mục đánh số từ 201 đến 225

Xin chú ý : con số đi theo sau mỗi mục dùng để chỉ
số thứ tự các mục chứ không phải để chỉ số trang.

Quý vị độc giả muốn xem Mục nào trong các Tập nào, chỉ cần bấm 
(click) vào tên mục ấy là tự động Mục đó sẽ hiện ra trên màn hình, 
vì chúng tôi đã xếp đặt những kết nối (links) cần thiết để làm 
việc này

Continue reading

Image

Phật Học – Thư đi Tin lại (VIII)


           Tiếp theo Phật Học-Thư đi Tin lại (VII)

176176176  Khóa hạ tức an cư kết hạ là một thời kỳ tu tập chung của chư tăng (hay chư ni) kể từ 16 tháng tư đến 15 tháng 7 âm lịch.  Sau mỗi khóa hạ thì mỗi vị thêm một tuổi đạo, vì thế trong ngày rằm tháng 7, Phật tử mừng tuổi chư tăng ni (người thế tục mừng tuổi nhau ngày mùng 1 Tết), ngày đó đối với chư tăng ni là hoan hỷ nhật.  Trước khi kết thúc khóa hạ thì mỗi vị phải làm lễ tự tứ. tự ý nói ra những khuyết điểm của mình trước chư tăng (ni) cầu xin được chỉ bảo thêm và sám hối.  Kết hạ là một lệ có từ thời đức Phật.

177177177   « Được thân người là khó lắm », ý câu này như sau : chết rồi, phải tái sinh vào một trong sáu nẻo thiên, nhân, a-tu-la, súc sinh, quỷ đói, địa ngục ; nếu được tái sinh làm người thì khó, làm người sung sướng lại càng khó.  Trong sách có kể chuyện một con rùa mù sống dưới đáy biển, mấy trăm năm mới thò đầu lên mặt nước một lần.  Trên mặt biển, có một cái bọng với lỗ hổng ở giữa, trôi dạt theo sóng.  Con rùa trồi đầu lên có dễ trúng vào cái lỗ hổng của bọng không ?  Khó lắm lắm.  Được tái sinh làm người cũng khó như thế. Phật học có danh từ « lục nan » (sáu cái khó).  Đó là : khó gặp Phật ra đời, khó được nghe chánh pháp, khó sinh lòng lành, khó sinh ra nơi đô hội trung tâm, khó được thân người, khó được các căn trọn vẹn dù làm thân người. Phật tử chúng ta đi chùa đều đặn, đã thành một thói quen, đó là một thói quen tốt.  Tuy nhiên, nếu thói quen ấy không kèm thêm sự suy nghĩ về lời Phật dạy, về sự quay vào bên trong để tự xét mình rồi tu tỉnh sửa mình, chuẩn bị cho kiếp sau thì e rằng không kịp.

178178178  Theo chỗ tôi biết thì các tu sĩ Thiên chúa giáo hàng năm có tham dự « cấm phòng » nghĩa là ở riêng trong phòng một thời gian để tĩnh tâm, suy nghĩ về đạo lý, về tư tưởng và hành vi .. của mình.  Đối với Phật giáo thì danh từ « cấm phòng » mang ý nghĩa khác.  Phật học từ điển Đoàn Trung Còn ghi : Hồi xưa, chư tăng phạm  giới thì bị Giáo hội phạt ở luôn trong phòng không được bước chân ra, để ăn năn tội của mình ; bị phạt như vậy trong thời gian ít nhất là sáu ngày.

179179179  Đạo hữu lầm rồi đó.  Năm mới không phải là ngày Phật đản.  Năm mới của chư tăng ni là hoan hỷ nhật nhằm vào ngày rằm tháng bảy âm lịch.  Ngày đó là ngày giải hạ tức là kết thúc khóa hạ, mỗi vị thêm một tuổi đạo.  Còn ngày rằm tháng tư âm lịch là ngày Phật đản, theo lối nói bình dân là ngày Bụt sinh Bụt nở, Bụt sinh năm 623 trước Tây lịch, tịch năm 543 trước Tây lịch. Năm 543 ấy được chọn làm năm 1 của Phật lịch.

180180180   Đạo hữu đọc chú mà không hiểu thì cũng giống như mọi người.  Chú là những câu dài hay ngắn mang tính cách bí mật để giúp người tu học trong nhiều vấn đề như cầu an, đảo bệnh, chống ác thần, cầu vãng sinh, tránh tai ương v.v.. Người ta không dịch các câu chú vì nghĩ rằng âm thanh đã chọn sẽ có một tác dụng nào đó, thâu sức anh linh trong vũ trụ ; nếu đổi âm thanh thì sẽ mất linh ứng.  Nhờ tụng chú mà thâu đủ giáo pháp của Phật. Nhờ tụng chú mà tâm hết tán loạn.  Chú giúp giữ trọn vẹn cái thiện, ngăn cái ác.  Một số câu chú có được dịch nghĩa, thí dụ như chú đại bi « Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha » có nghĩa là : « Qua đi, qua đi, tất cả qua đi, qua mau đi, giác ngộ, viên thành ».   Chữ Phạn Dhàrani phiên âm là đà-la-ni, dịch là chú, thần chú, chân ngôn, tổng trì.  Chữ Phạn Mantra phiên âm là mạn-đà-la, mạn-trà-la, dịch là linh phù tức bùa linh, họa trên giấy hay trên gỗ, có khi vẽ trên hư không.  Linh phù thật lớn gọi là đàn hay đạo tràng. Chữ Phạn Mudrà phiên âm là mẫu-đà-la, dịch là ấn hay pháp ấn. Đó là các dấu hiệu bằng vẻ mặt, tay hay thân để tỏ một ý gì. Chú, bùa, ấn hay thần chú, linh phù, pháp ấn tức là đà-la-ni, mạn-đà-la, mẫu-đà-la gốc từ Mật giáo.  Ba thứ ấy liên kết chặt chẽ với nhau,  gọi là tam mật : thần chú là ngữ mật, linh phù là ý mật, ấn là thân mật. Tiếng Pháp : formules magiques, dessins magiques, gestes magiques.


181181181 </ –  Câu chuyện « mất đầu » là chuyện ở trong kinh Lăng Nghiêm.  Có một anh kia, tên là Diễn-nhã-đạt-đa soi gương thấy đầu mình, đến khi úp gương xuống thì không thấy đầu mình đâu cả.  Anh ta vội ôm đầu, vừa chạy vừa la : « Tôi mất đầu rồi ! ».  Chuyện này cho ta thấy rằng : cái mà anh ta mất chỉ là cái bóng chứ cái đầu thật của anh ta vẫn còn.  Người đời hay bấu víu vào những cái bóng, cái dáng mà quên mất rằng mình có một thứ thực, đó là chân tâm của mình.

182182182   Tôi xin chép hầu quý đạo hữu một đoạn ngắn mà tôi thấy xúc tích và dễ hiểu, trích từ bài của HT Mahasi :  « Trong mỗi sự thấy đều có ba yếu tố là nhãn căn (mắt), nhãn trần (vật được thấy) và nhãn thức (sự biết của mắt).  Khi sự biết của mắt phát sinh thì cảm giác yêu ghét phát sinh, tri giác về vật được thấy phát sinh, sự cố ý thấy cùng sự lưu tâm đến đối tượng phát sinh. Mắt và vật bị thấy là những tập hợp vất chất (sắc uẩn) mà chúng ta chấp lấy và coi là trường cửu, đáng yêu và là sở hữu của ta thực sự.  Cái biết của mắt cùng các cảm giác, tri giác (phản ứng của thọ, tưởng, hành, thức), cũng được chúng ta coi như trường cửu, đáng yêu và là sở hữu của ta.  Tóm lại, mắt và vật bị thấy là những tập hợp của vật chất (Sắc) và sự biết của mắt là tâm (Danh), chỉ có vậy thôi, không có gì khác.  Các hiện tượng tâm-vật lý này sẽ phát sinh mỗi khi ta nhìn, và mỗi tác động nhìn thì sinh ra rồi diệt ngay tức khắc.  Thế mà chúng ta cất giữ và xem là trường cửu bất biến.  Sự chấp giữ và cái nghiệp tạo ra chính là nguyên nhân của tái sinh.  Có tái sinh nên có đau khổ, già, chết.  Nếu không có luyến ái phát sinh thì nghiệp tạo ra bởi sự chấp thủ, ao ước một kiếp sống mới cũng dừng nghỉ. Kết quả là chấm dứt khổ đau, già, chết ».

183183183  Tìm hiểu những câu nói, tiếng hét, gậy đập.. của các thiền sư là một việc rất khó vì những điều ấy dành cho riêng hai thày trò, thày biết trò đã tu đến mực nào, chỉ cần mở một cái nút nào đó là xong.  Thơ văn của các vị thiền sư cũng vậy, ai tu đến một bậc nào đó thì hiểu, người phàm như chúng ta phải nghe giảng thì may ra nắm được chút ít. Xin lấy một thí dụ.  Ngài Pháp Loa hỏi ngài Điều ngự Giác hoàng rằng : « Thế nào là ý của Tổ ở Ấn Độ sang ?  Trả lời : Bánh vẽ ».  Khó hiểu thật.  Khi đu?c nghe giảng rồi thì m?i hiểu rằng : lời giảng dạy gì thì cũng chỉ là bánh vẽ, nghĩa là ăn không thể no được.  Học lời dạy của Phật, của Tổ mà chỉ nghe để đấy thôi thì bản thân chẳng được gì cả, phải quay vào trong mà tìm chân tánh, phải gắng tu hành, thí dụ tu thiền nhằm kiến tánh thành Phật.

184184184  Con người ta có hai thứ tâm : vọng tâmchân tâm.  Vọng tâm là cái tâm lăng xăng bám víu vào các cảnh bên ngoài và cho đó là thật.  Người ta thường nhận cái vọng tâm ấy là cái ta. Chân tâm mới đích thực là có thật.  Đức Phật ví vọng tâm như người khách ngủ trọ, qua đêm đến sáng lại ra đi.  Ông chủ nhà thì lúc nào cũng ở đó.  Người khách ấy ví như vọng tâm.  Ông chủ nhà ví như chân tâm.

185185185  Niêm hoa vi tiếu nghĩa là giơ hoa, mỉm cười.  Đây là nói đến việc truyền tâm ấn ở hội Linh Sơn.  Đức Phật giơ cao cành hoa lên, đại chúng yên lặng, không ai hiểu gì.  Riêng một mình ngài Ca-Diếp rạng rỡ mỉm cười.  Đức Phật nói : « Ta có chánh pháp nhãn tàng, Niết-bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, trao phó cho  Ma-ha Ca-Diếp ».  Từ điển Phật học Hán Việt, quyển 1, trang 1078, chép đại ý như sau: « Nhưng việc này chép ở kinh nào, do ai truyền thuật, các kinh trong Đại tạng đều không thấy nói đến.  Đến đời Tống, Vương An Thạch nói rằng coi thấy việc ấy trong Đại Phạm Vương vấn Phật quyết nghị kinh ».

Ghi chú.  Y bát truyền cho tổ thứ nhất là Ca-Diếp, tổ thứ nhì là A-Nan,… cho đến tổ thứ 28 là Bồ-đề-đạt-ma.  Tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Quốc lập ra Thiền Tông, ngài là sơ tổ, truyền đến tổ thứ sáu là Huệ Năng, đến đây hết truyền y bát.

186186 186  Mấy câu « Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng ; Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh ; Nhác trông lên ai khéo họa hình ; Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt  .. » lấy ở trong bài Hương Sơn phong cảnh (Phong cảnh chùa Hương) của Chu Mạnh Trinh.  Theo chỗ tôi biết thì còn một suối Giải Oan nữa ở chân núi Yên Tử.  Tục truyền rằng khi vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con để đi tu ở núi Yên Tử thì các cung nữ xin đi theo.  Đến chân núi, ngài ra lệnh cho mọi người trở về.  Các cung nữ này không chịu về, tự trầm ở suối cạnh đó.  Suối ấy gọi là suối Giải Oan, gần đó có chùa Giải Oan.

187187187  Đa số chúng ta chọn pháp môn Tịnh độ, niệm Phật cầu vãng sinh Cực lạc, dựa vào 48 lời nguyện của đức Phật A-Di-Đà và kinh A-Di-Đà.  Cứ đơn giản như thế mà làm, đồng thời tu tỉnh cho hết tham, sân, si, thanh tịnh hóa ba nghiệp.   Các thiền sư không quan niệm có một cõi Cực lạc ở nơi xa xôi, mà cho rằng ngay ở trong tâm mình, « tâm tịnh tức độ tịnh ».  Các thiền sư cũng không quan niệm có Phật A-Di-Đà ở Tây Phương mà cho rằng Phật A-Di-Đà chính là Phật tánh có sẵn trong mỗi người, « tự tánh Di Đà ».   Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây Phương.   Di-Đà là tính sáng soi, há phải nhọc tìm về Cực lạc.  Chúng ta không nên ngạc nhiên vì một đằng nhìn về sự, một đằng nhìn về lý.

188188188  Đó là một chuyện có mục đích đề cao pháp môn niệm Phật của Tịnh độ tông.  Chuyện như sau :  Có một nhà sư đau nặng, sắp chết, thần thức xuống âm phủ, thấy nơi điện của Diêm Vương có bàn thờ thiền sư Vĩnh Minh và Diêm Vương thường tới lễ bái.  Hỏi ra thì biết thiền sư Vĩnh Minh công đức tu niệm Phật quá cao nên khi tịch thì về thẳng Tịnh độ thượng phẩm thượng sanh, mà không qua điện của Diêm Vương.  Diêm Vương cảm phục nên lập bàn thờ ngài để lễ bái.  Nhà sư khi tỉnh lại bèn nói chuyện đó. Có điều thắc mắc : thiền sư mà tu Tịnh độ ?  Ngài Vĩnh Minh khuyên : « Có Thiền tông, có Tịnh độ ; Như thêm sừng cho mãnh hổ ; Đời hiện tại làm thày người ; Đời vị lai làm Phật tổ.  Có Thiền tông, không Tịnh độ ; Mười người tu, chín người đổ…Không Thiền tông, có Tịnh độ ; Vạn người tu, vạn người đỗ… ».

189189189   Đại Phạm Thiên Vương hay Phạm Thiên Vương hay Phạm Vương (sanskrit : Brahma) là chúa tể Ta-bà thế giới. Đó là theo quan niệm của đạo Phật.  Nhiều khi người ta gọi ngắn là Phạm Thiên, nếu chúng ta không chú ý thì có thể bị lầm lẫn, vậy phải theo mạch văn mà hiểu theo một trong ba nghĩa như sau :  1/ Phạm Thiên là Phạm thiên vương nói ngắn.  2/ Phạm thiên là bốn cõi trời của miền Sơ Thiền cõi Sắc giới (Phạm thân thiên, Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên, Đại Phạm thiên).  3/ Chư Thiên sống trong bốn cõi trời vừa nói. (theo Từ điển Đoàn Trung Còn).   Theo đạo Bà-la-môn (Brahmanisme) thì Brahma là đấng Tạo Hóa.  Kinh điển của đạo Bà-la-môn viết bằng sanskrit cho nên chữ sanskrit gọi là chữ Phạm, nói chệch thành Phạn. Brahmà : un des principaux dieux du panthéon hindou, premier créé et créateur de toute chose.  Il est souvent représenté avec quatre bras et quatre têtes qui symbolisent son omniscience et son omniprésence (từ điển Larousse). Phạm là một từ ngữ dùng nhiều trong đạo Phật.  Ngoài cái nghĩa là chữ sanskrit, nó có nghĩa là thanh tịnh, thí dụ : phạm hạnh.   The Sanskrit Canon là Tam Tạng viết bằng chữ Phạn, do Bắc tông dùng ; the Pali Canon làTam Tạng viết bằng chữ Pali, do Nam tông dùng. 

200200200  « Lưới Đế châu ví đạo tràng, Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời.. ».  Lưới Đế châu nghĩa là gì ? Đế là Đế Thích, châu là châu ngọc.  Đế châu nghĩa đen là châu ngọc của Đế Thích.  Muốn hiểu kỹ thì coi chi tiết như sau :  Đế Thích là vua cõi trời Đao-Lỵ, ở thành Hỷ Kiến trên đỉnh núi Tu-di.  Đế võng là lưới chăng ở cung điện của vua Đế Thích.  Lưới ấy làm bằng châu ngọc đan xen chồng chéo vào nhau, trùng trùng vô tận.  Các viên ngọc châu hạt nọ chiếu sáng vào hạt kia, chiếu đi chiếu lại, trùng trùng vô tận.  Những hình ảnh ấy dùng để nói lên lý trùng trùng duyên khởi là một lý quan trọng bậc nhất của đạo Phật.  [Đế Thích còn gọi là Thích-đề-hoàn-nhân, gọi cho đủ là Thích-ca-đề-bà-nhân-đà-la, do phiên âm từ chữ Sakra devànàm Indra].

_______________________________________________________